Đôi lời giới thiệu
Thông điệp “Được Cứu rỗi nhờ Hy Vọng"
(Spe Salvi)
công bố ngày 30-11-2007
Ngày 30 tháng
11 năm 2007, Đức Giáo Hoàng Beneđicto XVI đă kư và đồng thời cho công bố
Thông điệp thứ II của Ngài, mang tựa đề “Spe Salvi” (Được cứu rỗi nhờ Hy
Vọng) tŕnh bày giáo huấn về Niềm Hy vọng Kitô giáo. Thông điệp thứ I là
“Deus Caritas est“ (Thiên Chúa là T́nh Yêu), tŕnh bày giáo huấn về Đức ái
Kitô giáo.
Chính Đức Thánh
Cha Beneđicto XVI, trong hai ngày liên tiếp, đă giới thiệu và nói tới ư
hướng của ḿnh liên quan tới Bức Thông điệp thứ hai của ḿnh. Lần thứ nhất
vào buổi hát Kinh Chiều thứ I Chúa Nhật Mùa Vọng, tại Đền Thờ Thánh Phêrô.
Ngài giới thiệu Thông Điệp cho toàn thể Giáo Hội. Ngài nói như sau: “Anh Chị
em thân mến, . . . Tất cả buổi phụng vụ Kinh chiều hôm nay mời gọi chúng ta
hướng về Hy Vọng, khi chỉ cho chúng ta từ chân trời của lịch sử ánh sáng
của Chúa Cứu thế đang đến . . . Nói về chủ đề Hy Vọng, Tôi đă muốn dành
Thông điệp thứ II của Tôi, mới được công bố hôm qua. Tôi vui mừng hiến tặng
trong tinh thần món quà này cho toàn thể Giáo Hội vào Ngày Chúa Nhật thứ
nhất Mùa Vọng, để trong thời gian chuẩn bị Lễ Giáng Sinh thánh thiện này,
các cộng đoàn và từng tín hữu có thể đọc Thông điệp này và suy nghĩ, hầu có
thể tái khám phá ra vẻ đẹp và chiều sâu của Niềm Hy Vọng Kitô giáo. Niềm Hy
Vọng này gắn liền chặt chẽ không thể nào tách rời ra được khỏi sự hiểu biết
chân dung của Thiên Chúa, chân dung mà, Chúa Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa,
đă mặc khải cho chúng ta qua việc nhập thể của ḿnh, qua cuộc sống trần thế
của ḿnh và việc rao giảng, nhất là qua sự chết và sống lại của ḿnh. Niềm
Hy Vọng đúng thực và chắc chắn được đặt trên nền tảng của đức tin vào T́nh
yêu của Thiên Chúa, là Cha từ bi, Đấng đă yêu thế gian đến nỗi ban Con Một
của ḿnh (Ga 3, 16) để con người và tất cả tạo vật có được sự sống dồi dào
(x. Ga 10,10). Mùa Vọng là thời gian thật thích hợp để tái khám phá ra một
Niềm Hy Vọng không mơ hồ và ảo tưởng, nhưng là Niềm Hy Vọng chắc chắn và
đáng tin cậy, bởi v́ Niềm Hy Vọng này được bám neo sâu vào Chúa Kitô, Vị
Thiên Chúa làm người, là đá tảng của sự cứu rỗi của chúng ta . . . “.
Rồi vào sáng
Chúa Nhật thứ I Mùa Vọng (2-12-2007), trong Thánh Lễ cử hành tại Nhà Nguyện
của Bệnh viện Thánh Gioan Baotixita, ở Rôma, cơ sở của Hội Hiệp Sĩ Malta.
Lần này trong bài giảng Ngài muốn gưỉ Thông điệp thứ II này cho Giáo Phận
Rôma. Ngài nói như sau: “Chính v́ Mùa Vọng là thời gian chờ đợi, nên Mùa
Vọng trở nên thời gian của Niềm Hy Vọng và của Niềm Hy Vọng Kitô giáo mà Tôi
muốn công hiến Thông điệp thứ II của Tôi, mới được chính thức công bố cách
đây hai ngày, Thông điệp này mở đầu với những lời Thánh Phaolô nhắn gửi giáo
đoàn tại Rôma: “Chúng ta được cứu rỗi nhờ Hy Vọng (Spe Salvi facti sumus, Rm
8, 24). Trong Thông điệp Tôi đă viết rằng “Chúng ta cần có những hy vọng –
bé nhỏ hay lớn lao – mà mỗi ngày, chúng nâng đỡ chúng ta trong cuộc hành
tŕnh. Nhưng nếu chúng ta không có Niềm Hy Vọng lớn lao, là điều phải vượt
trổi tất cả, th́ các hy vọng nhỏ này không đủ. Niềm Hy Vọng lớn lao này chỉ
có thể là chính Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa mà thôi, mới ôm ấp tất cả vũ
trụ và mới có thể giới thiệu cho chúng ta và trao ban cho chúng ta, điều mà
tự sức chúng ta, chúng ta không thể có được” (Thông điệp “Được Cứu rỗi nhờ
Hy Vọng”, s. 31). Sự chắc chắn rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể là Niềm Hy
Vọng vững vàng, điều này làm sống động tất cả chúng ta. ... Và Tôi muốn mượn
dịp này . . . để trao gửi một cách thiêng liêng Thông điệp này cho cộng đồng
tín hữu tại Rôma . . .”
Trở lại với
việc công bố Thông Điệp, cũng trong cùng ngày 30-11-2007, vào lúc 11. 30
giờ tại Pḥng Báo Chí Ṭa Thánh, Đức Hồng Y Albert Vanhoye SI., nguyên giáo
sư Học Viện Kinh Thánh, và Đức Hồng Y Georges Marie Martin Cottier, O.P.,
nguyên Thần học gia Phủ Giáo Hoàng, đă tŕnh bày Thông điệp Được cứu rỗi nhờ
Hy Vọng cho báo chí. Cha F. Lombardi, SI., Phát ngôn viên của Pḥng Báo Chí
Ṭa Thánh cũng có một tuyên ngôn ngắn về Thông điệp này.
Tôi xin tóm
lược mấy điểm để giúp hiểu biết sơ qua về Thông điệp thứ II của Đức Thánh
Cha Beneđicto XVI.
Tựa đề và Cơ Cấu
Thông điệp thứ II của Đức
Thánh Cha mang tựa đề Spe Salvi, mà tôi xin tạm dịch “Được cứu rỗi nhờ Hy
Vọng”. Tựa đề thật là vắn gọn, chỉ có 8 vần và hai chữ trong tiếng Latinh.
Điều này cũng làm mọi người chú ư và đọc xem nội dung sẽ được Đức Thánh Cha
tŕnh bày thế nào! Và nhất là thông điệp lại nói về niềm hy vọng, sự cậy
trông, điều thật tự nhiên, v́ ai trong chúng ta cũng mang nơi ḿnh không
biết bao nhiêu là hy vọng, hoặc lớn hoặc nhỏ (x. Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng,
s. 30), nhưng lại không diễn tả được rơ ràng niềm hy vọng là ǵ. Trong đời
sống đạo, chúng ta có kinh Tin, Cậy và Kính mến, mà mọi người đă thuộc,
nhưng khi đọc kinh Cậy, mà thời xưa, ở ngoài Bắc Việt Nam, khi đi thi kinh
bổn vài dịp Mùa Chay, th́ các thí sinh hay đọc lẫn lộn với Kinh Tin.
Xét về cơ cấu,
Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng” gồm có 50 số, và dùng tới 160 lần từ
ngữ Hy vọng (danh từ hay động từ, tĩnh từ theo bản tiếng Ư) và được chia ra
làm làm hai phần. Nhưng hai phần này lại không được nhận ra một cách rơ rệt
như trong Thông điệp Thiên Chúa là T́nh Yêu. Người ta chỉ nhận ra sự phân
chia này qua bản văn Latinh, được đăng trong báo L’Osservatore Romano, số
ngày 1 tháng 12 năm 2007, và qua ư tưởng chính được trinh bày trong đó. H́nh
như Đức Thánh Cha Beneđicto XVI muốn viết một cách liên tục ḍng tư tư tưởng
suy tư của ḿnh, mà không muốn bị cắt quăng do một lối phân chia nào. Do đó,
người đọc cũng được mời để đọc một cách liên tục chính Thông điệp “Được cứu
rỗi nhờ Hy Vọng”.
Hai phần của
Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng” được nhận ra như sau:
Phần thứ I:
Niềm Hy vọng và những quan niệm liên quan đến niềm Hy vọng (s. 2-31).
Phần thứ II:
Các nơi chốn giúp học biết và sống Niềm Hy vọng (s. 32-48).
Ngoài ra chúng
ta có lời mở đầu trong số 1 và lời kết thúc trong số 49 và 50. Trong lời kết
thúc chúng ta có một kinh nguyện với Mẹ Maria thật là tuyệt vời, mà tôi xin
tạm dịch ở cuối bài này.
Nội dung của Thông điệp
“Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng”
Bây giờ chúng ta nói về nội
dung của Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng” theo những lời tŕnh bày của
hai Đức Hồng Y giới thiệu Thông điệp vào sáng ngày 30 tháng 11 năm 2007,
trước khi đọc chính Thông điệp này.
Trước tiên hai vị Hồng Y
xác nhận Thông điệp bàn đặc biệt về niềm Hy Vọng quả thực là một món quà cho
Giáo Hội khi bước vào Mùa Vọng năm nay. Một món quà thật là thích hợp, đúng
lúc cho thời đại chúng ta, khi Thông điệp đáp ứng lại các nhu cầu mục vụ
hiện tại của đoàn chiên được trao phó cho Đức Thánh Cha. V́ thế Niềm Hy Vọng
có một tầm mức thật quan trọng vào thời đại chúng ta (s. 1), v́ con người
thời nay, cũng như những người dân thành Ephêsô trước khi tin Chúa Kitô,
cũng sống như những người không tin có Thiên Chúa và không có Niềm Hy Vọng
(x. Ep 2, 12). Đây là một bài suy niệm thật đẹp về một thực tại gắn liền với
cuộc sống, cuộc hiện hữu của con người và có sức giải thoát con người. Cha
Lombardi c̣n nói rằng: “Trong khi dành Thông điệp thứ hai của Ngài để tŕnh
bày Niềm Hy Vọng, Đức Thánh Cha Beneđicto XVI với cách thế thật là sâu sắc
đă chọn tŕnh bày một trong những vấn đề cấp bách nhất và bi thảm nhất của
thời đại chúng ta . . . V́ thế chúng ta biết ơn Đức Thánh Cha Beneđicto XVI
v́ một lần nữa, với sức mạnh và sự dịu hiền, với tính cách nghiêm chỉnh,
khắt khe và với sự sâu xa tinh thần, đă đem chúng ta trở lại với các vấn đề
quyết định của cácc đề nghị của Kitô giáo cho con người và cho thế giới:
những vấn đề mà rất nhiều lần chúng ta hầu như rơi vào t́nh trạng quên lăng
chúng, trong khi chính do những vấn đề đó mà cuộc sống của con người tùy
thuộc vào, cũng như hành tŕnh của thế giới tiến lên “.
Nhưng Niềm Hy Vọng có thể
cứu rỗi chúng ta là Niềm Hy Vọng nào? Một Niềm Hy Vọng nào giúp chúng ta
đương đầu với hiện tại đầy khó khăn ? Niềm Hy Vọng ban cho chúng ta bảo đảm
là sẽ đạt được đích cuối cùng, cho dù chúng ta chưa biết rơ cái đích cuối
cùng sẽ đến này (s. 1). Niềm Hy Vọng là một từ chính yếu của Kinh Thánh, một
từ đi đôi vối từ đức tin (s. 2). Như những người dân tại Ephêsô, Niềm Hy
Vọng này là chính đức tin vào Thiên Chúa. Trước khi họ chưa tin vào Chúa
Kitô, th́ họ như người không có Niềm Hy Vọng, lư do là v́ họ không có Thiên
Chúa (Eph 2, 12), họ chưa gặp gỡ Thiên Chúa (s. 3)
Thông điệp đă tŕnh bày
những suy tư rất sâu xa về những mối tương quan giữa Niềm Hy Vọng Kitô giáo
và Đức tin Kitô giáo và sự thay đổi tâm thức của người thời nay trước Niềm
Hy Vọng Kitô giáo. Điều này được nhận ra nhất là khi Thông điệp dựa vào thư
gửi tín hữu Do Thái (x. s. 7) để tŕnh bày vấn đề đức tin như là căn cốt
những điều người ta mong đợi (Dt 11, 1). Ngày nay người ta thấy nhân loại
đặt cuộc sống trong hai viễn tượng, viễn tượng vật chất, hoàn toàn coi vật
chất như là lư do của cuộc sống con người; và viễn tượng đức tin được chủ
tŕ bởi đức cậy, bởi Niềm Hy Vọng.
Niềm Hy Vọng cũng được bàn
tới trong bối cảnh Cựu Ước (s. 2), được coi như là một cuộc gặp gỡ theo từng
cá nhân với Thiên Chúa hằng sống và diễn tiến trong chiều hướng đi về Chúa
Kitô, Đấng Cứu thế sẽ đến mà Giao ước đă nói tới.
Vào thời kỳ đầu Kitô giáo,
người ta đă nhận ra những chứng tích về niềm hy vọng qua các bia mộ của các
tín hữu đầu tiên, tại các hang toại đạo ở Rôma, khi người ta thấy vẽ h́nh
Chúa Kitô như là một triết gia dạy nhân loại cách thế làm ngươi cho đúng
cách, dạy nhân loại con đường khôn ngoan để đạt tới phúc trường sinh, dạy họ
nghệ thuật sống và chết (s. 6). Nhưng cuộc sống trường sinh là ǵ? Đức Thánh
Cha đă phân tích kỹ càng và sâu sắc trong các số 10-12 của Thông điệp. Nhiều
người coi cuộc sống trường sinh là điều không thể ước muốn được và v́ thế
không thể đạt được hay chiếm đoạt được, v́ thế họ chỉ muốn kéo dài cuộc sống
hiện tại và chứ không muốn chết ngay. Theo Đức Thánh Cha, - dựa vào thư của
Thánh Augustinô gửi cho quả phụ Proba - cuộc sống trường sinh không phải là
chuỗi ngày liên tục kế tiếp nhau, nhưng là một cái toàn thể mà chúng ta mong
muốn đạt được. Như vậy cái toàn thể ốm ấp chúng ta và ngược lại chúng ta ôm
ấp cưu mang chính cái toàn thể, cái trọn vẹn này. Niềm Hy Vọng đi theo chiều
hướng này, là mong mỏi, ước muốn cái trọn vẹn này sẽ tới.
Một câu hỏi rất năng được
Đức Thánh Cha đặt ra trong Thông điệp của Ngài “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng”:
Niềm Hy vọng mang tính cách cá nhân hay cộng đoàn? (s. 13). Trong tâm thức
của người thời nay, th́ hy vọng chỉ quy về cá nhân mà thôi. Theo các Giáo
phụ, th́ Niềm Hy Vọng Kitô giáo phải là một Niềm Hy Vọng cộng đoàn (s. 14).
Thông điệp cũng cho thấy
tâm thức duy khoa học ngày nay, nhất là do ảnh hưởng của Francis Bacon (một
nhà triết học thực nghiệm người Anh) vào cuối những năm 1500, với cuốn Novum
Organum (Cơ chế mới), đă tŕnh bày Niềm Hy Vọng với những khía cạnh tiêu cực,
làm hại cho xác tín và việc sống Niềm Hy Vọng Kitô giáo. Theo triết gia này,
khi khoa học tiến bộ, th́ người thời nay chỉ c̣n tin vào tiến bộ của khoa
học, và làm sao để các tiến bộ này chữa trị những đổ vỡ, những mất mát về
một Thiên đàng bị hủy hoại, không c̣n có thể chiếm đoạt được do sức con
người (s. 16 tt.). V́ thế người thời nay mất đi cái chính yếu của Niềm Hy
Vọng Kitô giáo.
Từ đây, Đức Thánh Cha đă
bàn tới hai vấn đề liên hệ mật thiết với Niềm Hy Vọng Kitô giáo, đó là Lư
trí và Tự do (s. 30). Ngày nay có biết bao nhiêu thay đổi trong cơ chế chính
trị hầu mong đem lại cho con người những ǵ mà họ hy vọng, mong muốn. Nhưng
các cớ cấu chính trị này đă không đạt được mục đích, và đă thất bại, kể cả
cuộc cách mạng cộng sản được gợi hứng từ lư thuyết của Karl Marx (s. 18.
24-29).
Tiếp theo, Thông điệp đă
nói tới những con đường giúp làm nảy sinh và giúp thực hành Niềm Hy Vọng
Kitô Giáo. Các nơi và môi trường này là: việc cầu nguyện, là chính khi hành
động và khi chịu đựng các đau khổ trong cuộc sống và việc suy nghĩ về cuộc
Phán Xét sau hết (s. 32-48).
Trong bài giảng của Thánh
Augustinô về thư thứ I của Thánh Gioan, chúng ta có được những chỉ dẫn về
liên hệ giữa cầu nguyện và hy vọng (s. 33). Cầu nguyện không đem con người
ra khỏi lịch sử, nhưng làm cho con người có khả năng đón nhận Thiên Chúa và
đón nhận người khác. Như vậy cầu nguyện cho con người những hy vọng thật là
vĩ đại và bao gồm cả người khác vào trong Niềm Hy vọng của ḿnh.
Tiếp đến, Niềm Hy Vọng Kitô
giáo không ngồi không mà nh́n đời, nhưng bắt tay để hành động hầu đạt tới
điều ḿnh Hy Vọng cho ḿnh và cho người khác, hỵ vọng lớn lao hay hy vọng
b́nh thường trong cuộc sống. Càng hành động, con người càng hy vọng nhiều
(s. 35). Cả đau khổ cũng là trường dạy hy vọng và nơi thực hành Niềm Hy
Vọng Kitô giáo, mà lại là trường ưu tiên giúp chúng ta trong việc này. V́
thế người tín hữu không trốn chạy đau khổ, nhưng ư thức chấp nhận v́ biết
rằng các đau khổ thanh luyện con người, làm cho con người thêm trưởng thành
và đến gần Thiên Chúa, khi con người đau khổ biết kết hiệp với Chúa Kitô (s.
37).
Sau cùng một trường học
khác giúp con người sống trọng vẹn Niềm Hy Vọng Kitô giáo, đó là hướng về
Cuộc phán xét sau cùng. V́ suy niệm về Cuộc phán xét giúp tín hữu sống trọn
lành, xa tránh sự dữ và làm cho ḿnh sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa trong
chính sự đời đời và hạnh phúc của Ngài. Về cuộc sống mai sau, Thông điệp đă
cho chúng ta những giải thích, tŕnh bày thật quư báu, về thiên đàng, luyện
ngục, việc cầu nguyện cho người đă qua đời, và hỏa ngục, như Sách Giáo lư
Công giáo đă dạy. Trong phần này, Thông điệp cũng đă bàn tới vấn đề thật lớn
lao về sự dữ và sự công thẳng của Thiên Chúa (s. 41 tt.).
Sau cùng trong phần kết,
Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng” mời gọi chúng ta chiêm ngắm Mẹ Maria
là “sao sáng ngời của Hy vọng” (s. 49). Chúng ta có một lời kinh thật tuyệt
vời cầu khẩn với Mẹ Maria (s. 50).
Để làm thêm xác tín về Niềm
Hy vọng Kitô giáo và việc thực hành Niềm Hy Vọng Kitô giáo, Thông điệp c̣n
đưa ra những chứng từ thật cảm động về Niềm Hy Vọng Kitô giáo, như Thánh
Augustino (s. 11-12. 15); như Thánh nữ Giuseppina Bakhita, người Sudan, sống
vào những năm 1800 (s. 3); Thánh linh mục Việt Nam Phaolô Lê Bảo Tịnh (s.
37); Đức Hồng Y Việt Nam Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận (s. 31 và 34).
Suy tư triết học trong
Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng”
Chúng ta phải nhận rằng
Thông đệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng” mang tính chất triết học khá rơ rệt.
Thông điệp đă dùng những từ triết học, như hypostasis - substantia (s. 7),
habitus (s. 7), hyparchonta – proprietas (s. 8), “tính các tân thời” (la
modernité, s. 16) . . . cần được giải thích trước khi đọc chính bản văn.
Thông điệp đă nói tới các triết gia, như Platon (s. 44), Francis Bacon (s. ,
Kant (s. 19), Karl Marx (s. 20. 21), Friedirich Engels (s. 20), Theodor W.
Adorn (21), Augustinô (s. 12. 28), Tôma Aquino (s. 7), Benađô (s. 15),
Maxime le Confesseur (s. 28), Henri de Lubac (s. 12), với các lư thuyết
triết học của họ.
Để hiểu được ư nghĩa của
khía cạnh khía cạnh triết lư trong Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng”,
chúng ta có thể rút ra những điểm nằm trong bài tŕnh bày của Đức Hồng Y
Georges Marie Martin Cottier, O.P. về Thông điệp này.
Khía cạnh triết học này bàn
về tính cách “tân thời” (la modernité) của xă hội và lịch sử hiện đại, cũng
như các lư do của cuộc khủng hoảng hiện đại. Trên đây chúng ta đă ghi nhận
điều Thông điệp nói tới ảnh hưởng của triết gia Francis Bacon.
Nhưng trước tiên là khía
cạnh triết học và nhân chủng học của Niềm Hy Vọng. Điều này Thánh Augustinô
cho chúng ta một lối giải thích về cái thao thức tự thâm tâm nơi con người,
và chỉ khi nào hoàn toàn t́m gặp được Thiên Chúa, th́ con tim con người mới
được nghỉ yên. Ở đây Augustinô nói tới một điều mơ ước thực sự, nhưng chưa
rơ đối tượng mơ ước là ǵ, v́ thế Thánh nhân gọi là “sự dốt nát thông minh”
(docta ignorantia). Dốt nát v́ không rơ điều mơ ước đích thực, nhưng có mơ
ước, th́ đă có được một phúc may và là một điều đ̣i hỏi có trí thông minh
rồi, có lư trí. Niềm Hy Vọng kitô giáo là mơ ước thật cao xa, mơ ươc chính
Thiên Chúa, hạnh phúc lớn lao, nhưng lại không nắm được điều ḿnh mơ ước
trong cái nhỏ bé của trí thông minh của ḿnh. Do đó Niềm Hy Vọng Kitô giáo
lại liên hệ với đức tin, được tác giả thư gửi Tín Hữu Do Thái như là “Đức
tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta
không thấy” (Dt 11,1) (s. 7).
V́ con người dốt nát trong
việc thực hành đức tin và niềm Hy vọng, nên Chúa Kitô đă đến như là một
triết gia, chỉ đường khôn ngoan thông thái cho con người. H́nh ảnh Chúa Kitô
là một triết gia được vẽ trong các ḥm đựng người chết trong thời cổ của
Kitô giáo, mang ư nghĩa này (s. 6).
Trở lại với “tính cách tân
thời” (modernité) là nguyên nhân cho mọi cuộc khủng hoảng trong thời hiện
đại, như Thông điệp Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng tŕnh bày. Vào thế kỷ 16, khi
khoa học tiến bộ, th́ con người đă đem niềm tin của ḿnh vào khoa học, vào
tiến bộ của khoa học, và chờ mong mọi giải đáp từ khoa học và tiến bộ, thay
thế cho niềm tin Kitô giáo (s. 16-31). Đó là nguyên nhân của khủng hoảng tôn
giáo, lư trí, luân lư trong xă hội thời nay. Theo thuyết này, ơn cứu rỗi
không đến từ Chúa Kitô, nhưng là từ tiến bộ của khoa học. Từ nay con người
làm chủ định mệnh của ḿnh, tiến bộ và lịch sử thế giới. Người ta sẽ có một
thế giới mới, thế giới của con người do khoa học tạo ra cho họ. Đó là nét
tiêu biểu của thời đại mang “tính cách tân thời” này. Con người càng tin vào
tiến bộ th́ càng tỏ ra ḿnh là người “tân thời”.
Trong thế giới “tân thời”
này, lư trí và tự do trở nên trung tâm của mọi suy tư triết học, khoa học và
nhân chủng học, cũng như các khoa học phụ thuộc như xă hội học và chính trị
học. Người ta càng tiến bộ khi càng làm chủ lư trí và lư trí này được coi
như là quyền lực tạo ra sự thiện và trợ giúp cho sự thiện. Rồi khi con người
càng “tân thời” khi họ càng muốn giảm bớt các mối tùy thuộc nơi các thực tại
khác, trong bất cứ phạm vi nào, siêu h́nh, tự nhiên hay tôn giáo. Đó là cái
nguy của một cái nh́n về tự do theo chủ thuyết mang danh tân thời.
Trong cái nh́n “tân thời”
này về lư trí và tự do, th́ không thể nào có được chỗ đứng cho đức tin và
Giáo Hội. Lư trí và tự do mang một khả năng cách mạng thật lớn lao và sẵn
sàng để nổ tung ra (s. 18). Và chúng ta đă thấy cuộc cách mạng của Pháp vào
năm 1789 và cuộc cách mạng của Nga xô năm 1918.
Sau cuộc cách mạng của Pháp
năm 1789, th́ Nhóm Ánh sáng (Illuminisme) đă coi như là đạt được mục đích và
thành quả của lư trí và tự do. Nhưng các biến cố tiếp theo làm cho họ phải
đặt lại vấn đề. V́ các vấn đề đă không thể được giải quyết hết. Chính triết
gia Kant đă nhận ra điều này.
Thế rồi Karl Marx đă đưa ra
một đề án khác để giải quyết vấn đề. Đó là lực lượng giải phóng và suy tư
nằm trong quần chúng vô sản lao động. Thế giới vô sản này phải vùng lên, như
cuộc cách mạng bên Nga vào năm 1918 (s. 20).
Nhưng Thông điệp “Được cứu
rỗi nhờ Hy Vọng” đă nhận xét sự sai lầm của Karl Marx (s. 21), v́ ông đă
không đưa ra điều phải làm sau cuộc cách mạng, do đó xẩy ra hỗn loạn lại
càng lớn lao hơn và độc tài đă nắm quyền thay cho giới vô sản lao động. Đàng
khác Karl Marx đă chỉ tin vào vật chất mà bỏ chiều kích siêu nhiên của con
người.
Và từ đây, con người lại
càng khao khát một thế giới tốt đẹp hơn. Họ vẫn c̣n hỏi: Chúng ta có thể hy
vọng ǵ nữa không? V́ thế cần phải đặt ra vấn đề Niềm Hy Vọng đúng thực cho
con người thời nay, sau thời kỳ mệnh danh là “tân tiến”. Do đó số 22-23 của
Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng” có tầm mức mục vụ văn hóa thật quan
trọng. Trước tiên người tín hữu phải kiểm thảo tinh thần “tân tiến” trong
viễn tượng của Kitô giáo và Niềm Hy Vọng Kitô giáo. Rồi họ phải học hỏi lại
cho biết thế nào là Niềm Hy Vọng Kitô giáo. Và học hỏi ở đâu? Họ cũng phải
kiểm thảo chính Kitô giáo thời nay, khi biết nh́n lại căn gốc của ḿnh từ
Chúa Kitô và Phúc âm của Ngài.
Người ta phải tự đặt câu
hỏi: Tiến bộ là ǵ? Nó cho phép làm điều ǵ? Và không cho phép làm điều ǵ?
Tiến bộ chỉ đúng thực khi nó đi đôi với việc chống lại sự dữ và làm phát
triển sự tăng trưởng con người nội tâm, tiến bộ phải đi đôi với việc huấn
luyện luân lư cho con người. Nếu không như thế, th́ không phải là tiến bộ
đúng thực.
C̣n vấn đề lư trí và tự do
th́ Thông điệp đă đưa ra những lối chữa trị nào? Lư trí là ơn huệ của Thiên
Chúa ban cho con người và trợ giúp cho đức tin. Lư trí cần được đặt vào
trong cái toàn thể và trọn vẹn của nó. V́ thế khi lư trí biết mở ra để đón
nhận sức mạnh cứu rỗi của đức tin, để phân biệt thiện ác, th́ nó càng đúng
nghĩa là lư trí và có khả năng giúp ư chí hành động. V́ thế Đức Thánh Cha
Beneđicto XVI kết luận: “Do đó lư trí cần tới đức tin để đạt tới mức độ là
chính ḿnh hoàn toàn: lư trí và đức tin cần có nhau để thể hiện bản tính của
ḿnh và sứ mệnh của ḿnh” (s. 23).
Riêng vấn đề tự do Thông
điệp đă đưa ra một suy tư : khi nói tới tự do, là ngầm chứa một chọn lực
giữa nhiều chọn lựa. Điều này đ̣i phải có tiêu chuẩn để chọn lựa, tiêu chuẩn
khách quan, tiêu chuẩn lớn lao hơn những tiêu chuẩn b́nh thường. Do đó tự do
đích thực là tự do đón nhận Thiên Chúa là tiêu chuẩn tối cao và hành xử
trong cái nh́n cao cả của Thiên Chúa. Như thế con người càng bám chặt vào
Thiên Chúa, họ càng thực sự tự do trong hành động của ḿnh. Thông điệp nói:
“Bởi v́ con người luôn tự do, và bởi v́ sự tự do của họ lại luôn mang tính
cách yếu đuối, v́ thế trên thế gian này không có một trật tự sự thiện hoàn
toàn được thiết định . . . Sự tự do cần luôn được chiếm đoạt cách mới để trợ
giúp sự thiện” (s. 24).
Đó là một số điểm giúp đọc
Thông điệp “Được cứu rỗi nhờ Hy Vọng”. Tuy nhiên việc đọc chính bản văn sẽ
giúp chúng ta hiểu rơ ràng giáo huấn của Đức Thánh Cha với những áp dụng cụ
thể của ḿnh.
Chúng ta đọc Kinh mà chính
Đức Thánh Cha đă soạn ra trong đoạn cuối của Thông điệp này (s. 49-50):
Thánh Maria, Mẹ thuộc về
hàng những tâm hồn khiêm hạ và cao cả trong Israel, là những người, như ông
Simeon nói, họ chờ mong “niềm an ủi của Israel” (Lc 2, 25), và như Bà Anna,
họ chờ mong “ơn cứu rỗi của Giêrusalem” (Lc, 2, 38). Mẹ đă sống trong sự
tiếp xúc thân mật với Sách Thánh của Dân Israel, là những sách nói về Niềm
Hy Vọng – về lời hứa gửi tới ông Abraham và miêu duệ của ông (x. Lc 1, 55).
Do đó chúng con hiểu được sự lo sợ thánh thiện đă chiếm đoạt Mẹ, khi sứ thần
Thiên Chúa vào trong pḥng của Mẹ và thưa với Mẹ, là Mẹ sẽ sinh hạ Đấng là
Hy Vọng của Israel và là Đấng thế gian mong đợi. Chính nhờ Mẹ, và qua tiếng
“Xin Vâng” của Mẹ, Niềm Hy Vọng từ ngàn năm đă trở nên hiện thực, đi vào
trong thế gian này và trong lịch sử của thế giới. Mẹ đă nghiêng ḿnh trước
sự cao cả của nhiệm vụ và Mẹ nói lên tiếng “Xin Vâng”: Này đây là Nữ t́ của
Chúa, xin vâng như lời sứ thần truyền“ (Lc 1, 38). Khi ḷng Mẹ tràn ngập
niềm vui thánh thiện, Mẹ vội vă rảo bước trèo qua các núi đồi miền Giuđêa để
đến thăm bà Elisabeth, người Chị họ của Mẹ, Mẹ đă trở nên h́nh ảnh của Giáo
Hội tương lai, là Giáo Hội mang theo từ cung ḷng của ḿnh Niềm Hy Vọng của
thế giới, xuyên qua các núi đồi của lịch sử. Nhưng bên cạnh niềm vui, mà
trong Kinh Magnificat của Mẹ, cùng với lời ca và tiếng hát, Mẹ đă làm chan
ḥa suốt ḍng lịch sử niềm hoan lạc này, Mẹ cũng biết những lời xác quyết
đen tối của các tiên tri về những đau khổ của Người tôi tớ của Chúa trong
thế gian này. Khi Ngài sinh ra tại máng cỏ Belem đă tỏa rạng ánh rạng ngời
của các thiên sứ mang tin vui cho các mục tử, cũng đồng thời loan báo cho
biết sự nghèo khó của Thiên Chúa trong thế giới này quả thật là chứng nghiệm
tới cùng độ. Cụ già Simeon đă loan báo cho Mẹ về mũi gươm sẽ đâm thâu qua
ḷng Mẹ (x. Lc 2, 35), về dấu chỉ sự mâu thuẫn mà Người Con của Mẹ sẽ ứng
nghiệm trong thế giới này. Rồi khi Chúa Giêsu bắt đầu hoạt động công khai Mẹ
đă cùng tham dự vào đó, để một gia đ́nh mới có thể lớn lên, mà để thiết lập
gia đ́nh này, Con Mẹ đă đến và đă phải phát triển nhờ vào sự đóng góp của
những người sẽ nghe và sẽ tuân giữ lời của Ngài (x. Lc 11, 27tt). Cho dù tất
cả sự lớn lao và hoan lạc của bước đầu thời kỳ hoạt động của Chúa Giêsu, thế
mà ngay tại hội đường Nazareth, Mẹ đă phải chứng nghiệm sự thật của lời nói
về dấu chỉ sự chống đối (x. Lc 4, 28tt). Như thế Mẹ đă nh́n thấy quyền lực
lớn lên của sự thù nghịch và của thái độ phủ nhận từ từ được xác nhận chung
quanh con người của Chúa Giêsu cho tới giờ Ngài ở trên thập giá, nơi đó Mẹ
chiêm ngưỡng Đấng Cứu thế của trần gian, Người thừa tự của Vua Đavít, Con
của Thiên Chúa, mà nay chịu chết như một người hoàn toàn thất bại, nên tṛ
cười cho thiên hạ, ở giữa những tội phạm. Lúc đó Mẹ lại nhận được lời phán
với Mẹ: “Này là con Bà”(Ga 19, 26). Từ thập giá Mẹ nhận lănh một sứ mệnh mới.
Chính từ thập giá Mẹ trở nên người mẹ theo cách thế mới, người mẹ của tất cả
những ai muốn tin vào Con của Me, Chúa Giêsu, và muốn đi theo Ngài. Lưỡi
gươm của khổ đau đâm thâu qua con tim của Mẹ. Như vậy Niềm Hy Vọng đă chết
đi hay sao? Và thế giới trở nên hoàn toàn không ánh sáng sao? Cuộc đời trở
nên vô mục đích sao? Có lẽ vào giờ này, ở trong nơi thẳm cung nhất của ḷng
Mẹ, Mẹ lại như nghe thấy một lần nữa tiếng thiên sứ báo cho Mẹ, qua đó thiên
sứ đă trả lời cho sự sợ hăi của Mẹ, lúc truyền tin: “Này Cô Maria, đừng sợ”
(Lc 1, 30). Biết bao nhiêu lần Chúa Kitô, Con của Mẹ, đă nói cũng một lời đó
với các môn đệ của Ngài: Đừng sợ ǵ! Trong đêm tối trên đỉnh Golgotha, Mẹ
cũng đă được nghe lại lời này. Trước giờ chịu nộp ḿnh, Ngài đă nói với các
môn đệ của Ngài rằng: “Các con hăy tin tưởng, Ta đây, Ta là người chiến
thắng thế gian” (Ga 16,33). “Các con đừng để ḷng xao xuyến và sợ hăi” (Ga
14, 27). “Hỡi Maria, đừng sợ!” Vào giờ ở Nazareth, thiên sứ đă nói với Mẹ
như sau: “Vương quốc của Ngài vô cùng tận” (Lc 1, 33). Có lẽ như vậy Ngài
kết thúc trước khi bắt đầu chăng? Không phải thế, đứng bên thập giá, dựa vào
chính lời của Chúa Giêsu, Mẹ trở nên người mẹ của những kẻ tin. Trong đức
tin này, vào đêm âm u tối tăm của ngày thứ bảy tuần thánh, đức tin này lại
là sự chắc chắn của Niềm Hy Vọng. Mẹ đi ra để gặp gỡ vào buổi sáng Phục Sinh.
Niềm hoan lạc của biến cố phục sinh đă đánh động tâm hồn của Mẹ và đă đem Mẹ
tới hiệp nhất với các môn đệ theo cách thế mới, v́ họ được kêu gọi để làm
nên gia đ́nh của Chúa Giêsu trong đức tin. Như vậy Mẹ ở giữa cộng đoàn những
kẻ tin, là những người sau ngày Chúa Giêsu về trời, đă một ḷng một ư cầu
xin ơn Chúa Thánh Thần (x. Cv 1, 14) và rồi họ được lănh nhận ơn này vào
Ngày Lễ Hiện Xuống. “Vương quốc” của Chúa Giêsu thật khác với điều người ta
có thể tưởng tượng ra. “Vương quốc này bắt đầu từ giờ phút này và sẽ kéo dài
không bao giờ cùng tận. Như vậy Mẹ ở giữa các môn đệ như một Người Mẹ, như
Người Mẹ của Niềm Hy Vọng. Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, Mẹ của chúng con,
xin Mẹ dạy chúng con biết tin, biết cậy và kính mến cùng với Mẹ. Xin Mẹ chỉ
cho chúng con nẻo đường đi về Nước của Chúa ! Lạy Ngôi sao Biển, xin chiếu
sáng trên chúng con và hướng dẫn chúng con trên đường chúng con đi!”
Rôma, ngày 04-12-2007
Mùa Vọng.
Lm. Phanxicô Borgia Trần
Văn Khả