về trang chủ

 

 

 

Lược qua các khoá họp

 

Thượng Hội đồng Giám mục


 


  

LTS: Khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII do Đức Beneđictô XVI triệu tập sẽ nhóm họp ở Roma từ ngày 05-26/10/2008 tới đây với chủ đề “Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội”. Trong thời gian họp, sẽ có thánh lễ khai mạc vào Chúa Nhật 05/10 và bế mạc vào Chúa Nhật 26/10 tại Đền thờ Thánh Phêrô.

Đoàn Việt Nam có 2 đại diện là Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám mục Thanh Hoá, Phó Chủ tịch HĐGMVN, và Đức cha Giuse Vơ Đức Minh, Giám mục Phó Nha Trang, Phó Tổng Thư kư HĐGM/VN. Cũng có cha Vincentê Nguyễn Văn Bản, Giáo phận Quy Nhơn, Giáo sư Kinh Thánh được chọn làm chuyên viên tham dự.

BBT xin được giới thiệu lược qua các khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục từ trước đến nay.

 

Trong bài phỏng vấn dành cho Đài Vatican, ngày 25-9-1995, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, ĐHY Jan Schotte, Tổng Thư kư Thượng Hội đồng Giám mục, đă gọi Cơ quan mới này là "một việc quan pḥng của Thiên Chúa". Ngày 15-9-1965 là một trong các niên hiệu quan trọng nhất của lịch sử Giáo Hội trong thế kỷ 20 này: với Tự sắc "Apostolica Sollicitudo", Đức Phaolô VI thành lập Thượng Hội đồng Giám mục (Synodus Episcoporum). “Synodus” nguyên ngữ tiếng Hy Lạp Syn-hodos (cùng nhau đi trên con đường, cùng nhau tiến tới).

Thượng Hội đồng Giám mục là ǵ? - Là một khoá họp của các giám mục, được lựa chọn từ các miền khác nhau trên thế giới và một số vị do Đức Thánh Cha chỉ định. Các vị được chọn và được Đức Thánh Cha chỉ định họp nhau do chính Đức Thánh Cha triệu tập, vào những thời kỳ nhất định, hoặc trong những trường hợp Đức Thánh Cha xét là cần thiết, với mục đích cổ vũ sự hiệp nhất chặt chẽ giữa vị Giám mục Roma (kế vị Thánh Phêrô, đứng đầu hàng Giám Mục) và chính các Giám mục (kế vị các Thánh Tông đồ) để bảo tồn và tăng trưởng đức tin và luân lư, tuân giữ và củng cố kỷ luật của Giáo Hội, và hơn nữa, để nghiên cứu các vấn đề liên hệ đến hoạt động của Giáo Hội trên thế giới.

Trong Thượng Hội Đồng, các Nghị phụ bàn thảo về các đề tài, về các vấn đề đă được đề nghị và phát biểu bằng lá phiếu, nhưng không có quyền quyết định và công bố các sắc lệnh về các vấn đề đă được bàn thảo và bỏ phiếu. Việc quyết định và phê chuẩn sau cùng luôn luôn là quyền của của Đức Thánh Cha, trừ khi ngài cho phép cách công khai các Nghị phụ được quyết định. Các vị cộng tác chỉ có quyền "cố vấn" mà thôi. Quyền của Giám mục Roma là quyền tuyệt đối, dựa trên lời Chúa phán với Thánh Phêrô thủ lĩnh của Tông đồ đoàn: "Này con là đá, Thầy sẽ xây Giáo Hội trên tảng đá này...” (Mt 16,18). “Con hăy củng cố đức tin của anh em con" (Lc 22,32). Thánh Phêrô thi hành quyền này dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần: Ngài là Thần Chân Lư. V́ thế, chúng ta có thể nói: Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới chỉ là "Cơ quan Cố vấn" giúp Đức Thánh Cha trong việc quản trị Giáo Hội.

Thượng Hội Đồng khác hẳn Công đồng Chung: Công đồng Chung, với sự tham dự của tất cả các giám thế giới do Đức Thánh Cha triệu tập, có quyền bàn thảo, quyết định, nhưng luôn trong hiệp thông với vị Giám mục Roma và do ngài chuẩn y, công bố các Hiến chế, các Sắc lệnh, các văn kiện khác, như chúng ta thấy trong Công Đồng Chung Vatican II (1962-1965).

Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới có thể họp trong khoá chung thường lệ ngoại lệ. Thường lệ, nghĩa là theo hạn kỳ nhất định; ngoại lệ, không theo hạn kỳ nhất định. Trong các khoá họp này các Nghị phụ bàn thảo về các đề tài liên hệ trực tiếp đến công ích của toàn thể Giáo Hội. Thượng Hội Đồng c̣n có thể được triệu tập trong khoá đặc biệt, để bàn thảo về các vấn đề liên hệ trực tiếp một hay nhiều miền nhất định. Chẳng hạn như Khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục Mỹ Châu, đang diễn ra tại Roma, là khoá họp đặc biệt.

Đức Hồng y Jan Schotte quả quyết: Quyết định thành lập Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới là một quyết định do Chúa Quan pḥng, bởi v́ đă cho phép Viện Giám mục thi hành phận sự "đoàn thể tính" của giám mục đoàn. Thượng Hội Đồng là dụng cụ duy nhất trên cấp bậc hoàn vũ, để các giám mục thực hiện đoàn thể tính của giám mục đoàn (Hàng Giám mục Thế giới hiệp nhất với vị Giám mục Roma). Đức Hồng y nói: "Nh́n về các khoá họp của Thượng Hội Đồng từ trước tới giờ, tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng Thượng Hội Đồng đă trở nên toàn phần của đời sống Giáo hội".

Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng Thượng Hội đồng Giám mục đă được thiết lập bởi Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI, qua Tự sắc có tựa đề là "Apostolica Sollicitudo" (Sự Chăm sóc Tông đồ), được ban hành ngày 15-9-1965. Chính Đức Phaolô VI, trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật ngày 22-9-1974, đă định nghĩa Thượng Hội đồng Giám mục như sau:

"Đây là một cơ chế Giáo Hội mà chúng tôi thiết lập lên sau Công đồng Vatican II, ngơ hầu củng cố sự hiệp nhất và cộng tác giữa các giám mục trên khắp thế giới với Toà Thánh. Cơ chế Thượng Hội đồng Giám mục thực hiện mục tiêu trên, nhờ qua bởi cuộc nghiên cứu chung liên quan đến những hoàn cảnh của Giáo Hội và qua bởi giải đáp chung cho những vấn đề có liên quan đến Sứ mạng của Giáo Hội. Thượng Hội đồng Giám mục không phải là một Công đồng, cũng không phải là một Quốc hội, nhưng như là một kiểu mẫu đặc biệt của Công nghị".

Bộ Giáo luật 1983 dành để nói về Thượng Hội đồng Giám mục trong các điều từ 342-348.

Điều 342: Thượng Hội nghị Giám mục là một đại hội gồm các giám mục được tuyển chọn từ nhiều miền khác nhau trên thế giới, tụ họp lại vào những thời kỳ được ấn định, để cổ vũ sự hiệp nhất chặt chẽ giữa Đức Thánh Cha với các Giám mục, và để giúp ư kiến cho Đức Thánh Cha trong việc bảo vệ và tăng tiến Đức tin và phong hoá, và trong việc duy tŕ và củng cố kỷ luật Giáo Hội; ngoài ra, c̣n để nghiên cứu các vấn đề liên quan tới hoạt động của Giáo Hội trong thế giới.

Điều 343: Thượng Hội nghị Giám mục có thẩm quyền bàn thảo tất cả các vấn đề đă đề ra và bày tỏ ư kiến của ḿnh, nhưng không có thẩm quyền để biểu quyết hay ban hành nghị quyết về các vấn đề đó; trừ những trường hợp nhất định, khi Đức Thánh Cha cho Thượng Hội nghị được quyền biểu quyết; lúc ấy, Đức Thánh Cha có quyền phê chuẩn các quyết định của Thượng Hội nghị.

Điều 344: Thượng Hội nghị Giám mục phục tùng trực tiếp quyền bính của Đức Thánh Cha. Thẩm quyền của ngài là:

1o triệu tập Thượng Hội nghị mỗi khi thấy thuận lợi, và chỉ định nơi hội họp;

2o phê chuẩn việc bầu cử những thành viên nào mà theo quy luật riêng cần được bầu, và chỉ định cùng bổ nhiệm các thành viên khác;

3o ấn định đề tài của những vấn đề sẽ thảo luận, vào thời gian xứng hợp, trước khi Thượng Hội nghị khai họp, theo quy luật riêng;

4o hoạch định chương tŕnh nghị sự;

5o đích thân hay nhờ những người khác chủ toạ Thượng Hội nghị;

6o bế mạc, di chuyển, đ́nh chỉ và giải tán Thượng Hội nghị.

Điều 345: Thượng Hội nghị Giám mục có thể nhóm họp hoặc là trong Đại hội chung, thông thường hay bất thường, trong đó bàn thảo về những công việc liên hệ trực tiếp tới lợi ích của toàn thể Giáo Hội; hoặc là trong đại hội đặc biệt, trong đó bàn thảo những công việc liên hệ trực tiếp tới một hoặc nhiều miền nhất định.

Điều 346: §1 Khi nhóm họp Đại hội Chung thông thường, Thượng Hội nghị Giám mục gồm đại đa số phần tử là các giám mục đă được các Hội đồng Giám mục chọn cho từng Đại hội, chiếu theo thể thức được ấn định do luật riêng của Thượng Hội nghị; một số khác được chính luật chỉ định; một số nữa được Đức Thánh Cha trực tiếp bổ nhiệm; thêm vào đó là vài phần tử khác thuộc Ḍng tu Giáo sĩ được lựa chọn theo quy tắc của luật riêng.

§2 Khi nhóm họp Đại hội Chung ngoại thường để bàn về những vấn đề đ̣i hỏi một giải pháp mau lẹ, Thượng Hội nghị Giám mục gồm đa số các phần tử là các giám mục được chỉ định do luật riêng của Thượng Hộinghị chiếu theo chức vụ đương đảm nhiệm; một số khác do Đức Thánh Cha trực tiếp bổ nhiệm; thêm vào đó là vài phần tử thuộc Ḍng tu Giáo sĩ được lựa chọn theo đúng như quy tắc của luật riêng.

§3 Khi nhóm họp Đại hội đặc biệt, Thượng Hội nghị gồm các phần tử được lựa chọn từ những miền mà v́ đó mà Thượng Hội nghị được triệu tập, chiếu theo quy tắc của luật riêng điều hành Thượng Hội nghị.

Điều 347: §1 Khi Đại hội của Thượng Hội nghị Giám mục đă được Đức Thánh Cha bế mạc, th́ chức vụ đă giao phó cho các giám mục và cho các phần tử khác trong Thượng Hội nghị cũng chấm dứt.

§2 Nếu Toà Thánh trống toà sau khi đă triệu tập Thượng Hội nghị hoặc đang khi họp, th́ chiếu luật, Đại hội của Thượng Hội nghị bị đ́nh hoăn; cũng vậy, các chức vụ đă giao phó cho các phần tử trong Thượng Hội nghị cũng bị đ́nh chỉ, cho đến khi tân Giáo hoàng quyết định hoặc giải tán hoặc tiếp tục Đại hội.

Điều 348: §1 Thượng Hội nghị Giám mục có một văn pḥng thường trực dưới sự điều khiển của một Tổng Thư kư được Đức Thánh Cha bổ nhiệm; để giúp đỡ Tổng Thư kư, có một Hội đồng Văn pḥng gồm bởi các giám mục, trong số đó, một vài vị được chính Thượng Hội nghị lựa chọn theo quy luật riêng, một số khác được Đức Thánh Cha bổ nhiệm; chức vụ của tất cả những người này chấm dứt khi bắt đầu nhóm Đại hội mới.

§2 Ngoài ra, vào mỗi Đại hội của Thượng Hội nghị Giám mục sẽ bổ nhiệm một hoặc nhiều thư kư đặc biệt, do Đức Thánh Cha chỉ định; những người này chỉ ở lại chức vụ đă giao phó cho tới khi Đại hội của Thượng Hội nghị kết thúc.

Sinh hoạt và thành phần tham dự Thượng Hội Đồng được Đức Phaolô VI ấn định trong Tự sắc thiết lập ngày 15-9-1965, theo đó có đại diện các giám mục theo Hội đồng Giám mục (cho khoá họp thông thường th́ 25 giám mục 1 đại diện, 50 giám mục 2 đại diện, 100 giám mục 3 đại diện, trên 100 giám mục 4 đại diện; khoá họp ngoại thường th́ Chủ tịch Hội đồng Giám mục; khoá họp đặc biệt th́ đại diện theo một tỷ lệ khác hơn khoá họp thông thường) cùng với các vị đứng đầu các Cơ quan của Toà Thánh là thành phần chính thức được gọi với danh nghĩa là “nghị phụ” (Sodalibus). Ngoài ra c̣n có các dự thính viên (Auditores) và các đại diện (Delegati fraterni) của các Giáo hội và cộng đoàn Giáo hội anh em. Trong khoá họp c̣n thêm các chuyên viên (Adiutores Secretarii Specialis) phụ giúp Văn pḥng Tổng Thư kư.

Tại Giáo triều có một Văn pḥng Thường trực được gọi là Văn pḥng Tổng Thư kư Thượng Hội đồng Giám mục, đứng đầu là một Tổng Giám mục (hiện nay là Đức cha Nikola Eterovic) có nhiệm vụ điều hành công việc thường xuyên.

Thường th́ diễn tiến mỗi khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục bắt đầu với việc Đức Thánh Cha chọn chủ đề, ấn định ngày họp. Rồi Văn pḥng Tổng Thư kư chuẩn bị và gửi đến các Hội đồng Giám mục và các cơ quan bản văn Lineamenta (Đề cương, trong đó có ghi những câu hỏi để các Hội đồng Giám mục góp ư), tiếp đến là bản văn Instrumentum laboris (Tài liệu làm việc). Từ đây, các thành viên chuẩn bị tham luận cho khoá họp. Đức Thánh Cha cũng bổ nhiệm vị tường tŕnh viên và chủ toạ đoàn. Bước vào khoá họp có 3 giai đoạn: 1. các nghị phụ tham dự tŕnh bày tham luận; 2. chia tổ thảo luận (circuli minores); 3. soạn sứ điệp gửi dân Chúa và biểu quyết các đề nghị (Propositiones) đệ tŕnh Đức Thánh Cha. Thời gian cho khoá họp thay đổi tuỳ theo h́nh thức của khoá họp (thông thường trong 3-4 tuần, ngoại thường trong 2 tuần, đặc biệt khoảng từ 2-3 tuần). Khoá họp chấm dứt, công việc được tiếp tục với hoạt động của Văn pḥng Tổng Thư kư và các thành viên được đề cử (15 vị) giúp đỡ để Đức Thánh Cha ban hành Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng.

Tổng kết tóm tắt về các khoá họp Thượng Hội đồng từ đầu cho đến nay:

1. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ nhất, đă diễn ra từ ngày 29/9–29/10/1967, về đề tài: “Ǵn giữ và cũng cố Đức tin Công giáo, sự toàn vẹn, sức mạnh, sự khai triển, sự mạch lạc trên b́nh diện giáo lư và phát triển lịch sử”. (197 nghị phụ)

2. Khoá họp ngoại thường đầu tiên, đă diễn ra từ ngày 11–28/10/1969, về chủ đề: “Sự Cộng tác giữa Toà Thánh và các Hội đồng Giám mục”. (146 nghị phụ)

3. Khoá họp thông thường lần thứ II, từ ngày 30/9–06/11/1971 (tức 4 năm sau, so với buổi họp đầu tiên vào năm 1967), về chủ đề: “Chức Linh mục Thừa tác và Sự Công bằng trên Thế giới”. (210 nghị phụ)

4. Khoá họp thông thường lần thứ III, từ ngày 27/9–26/10/1974, về chủ đề: “Rao giảng Phúc Âm trong Thế giới Hiện đại”. à Tông huấn “Evangelii nuntiandi” ngày 08/12/1975. (209 nghị phụ)

5. Khoá họp thông thường lần thứ IV, từ ngày 30/9–29/10/1977, về chủ đề tài: “Việc Giảng dạy Giáo lư trong Thời đại Chúng ta”. Ngày 06/8/1978, Đức Phaolô VI băng hà, rồi Đức Gioan Phaolô I cũng băng hà sau 33 năm kế vị (26/8-28/9). à Tông huấn Catechesi Tradendae (Về Giáo lư trong Thời đại của Chúng ta): Tông huấn này được Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành vào ngày 16-10-1979, qua đó ngài nhấn mạnh đến việc lấy Chúa Kitô làm nền tảng chính của mọi chương tŕnh giảng dạy giáo lư, để giúp bồi dưỡng đời sống đức tin cho người Kitô giáo, từ già cho đến trẻ, và ngài cũng cùng đề cập tới những vấn đề khác như: đề ra chương tŕnh giảng dạy hợp lư, hệ thống hoá nội dung và tính trung thực của giáo lư, nhiệm vụ của các đức giám mục, các linh mục, các nam nữ tu sĩ, các giáo lư viên, các trường học và gia đ́nh trong việc giảng dạy giáo lư. (204 nghị phụ)

6. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục Hà Lan, từ ngày 14–31/01/1980, về chủ đề tài: “Hoàn cảnh Mục vụ tại Hà Lan”. (19 nghị phụ)

7. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ V, từ ngày 26/9–25/10/1980 về chủ đề tài: “Gia đ́nh Kitô”. à Tông huấn Familiaris Consortio (Về Vai tṛ của Gia đ́nh Kitô giáo trong Thế giới Tân tiến/Hiện đại): Tông huấn này được Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 22-11-1981, qua đó, ngài đề cập đến hoàn cảnh của các gia đ́nh trong thế giới ngày nay, kế hoạch của Thiên Chúa về chuyện hôn nhân và gia đ́nh, vai tṛ của gia đ́nh Kitô giáo, việc chăm sóc mục vụ cho các gia đ́nh, việc gia đ́nh tạo ra một cộng đồng nhân loại, việc gia đ́nh tham dự vào sự phát triển của xă hội, viêc gia đ́nh cùng sẻ chia với sứ vụ và đời sống của Giáo Hội, về quyền của các trẻ em và người già, về vai tṛ của cha mẹ trong việc giáo dục con cái, và việc kế hoạch hoá gia đ́nh và điều tiết sinh sản. (216 nghị phụ)

8. Khoá họp thông thường lần thứ VI của Thượng Hội đồng Giám mục, từ ngày 29/9–29/10/1983, về chủ đề: “Đền tội và Hoà giải trong Sứ mạng của Giáo Hội”. à Tông huấn Reconciliatio et Paenitentia (Về Việc Hoà giải và Đền tội): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành vào ngày 2-12-1984, qua đó ngài mời gọi tất cả chúng ta hăy tái khám phá lại những ngôn từ của Chúa Kitô như “Hăy ăn năn, sám hối, và tin vào Phúc Âm!” Ngài muốn cho mọi người biết về sự quan tâm của Giáo Hội để biết và hiểu được con người trong thời kỳ tân tiến hiện nay, để mang t́nh yêu của Chúa Kitô nhằm làm xoa dịu, và chữa lành những chia rẽ, những ngăn cách đớn đau trong thế giới ngày nay. (221 nghị phụ)

9. Khoá họp ngoại thường lần thứ hai, từ ngày 24/11–08/12/1985, về chủ đề: “Kỷ niệm 20 năm Kết thúc Công đồng Vatican II”. à Ngày 11/10/1992 kỷ niệm 30 năm khai mạc Công đồng Vatican II, ấn bản tiếng Pháp của Sách Giáo lư Hội Thánh Công Giáo được cố Giáo hoàng đáng kính Gioan Phaolô II ban hành theo thỉnh cầu của các Chủ tịch Hội đồng Giám mục. Sau đó, ngày 15/8/1997 ấn bản mẫu Sách Giáo lư được công bố. (165 nghị phụ)

10. Khoá họp thông thường lần thứ VII, từ ngày 01–30/10/1987, về chủ đề tài: “Ơn gọi và Sứ mạng của Giáo dân trong Giáo Hội và trong Thế giới”. à Tông huấn Christifideles Laici (Về Người Giáo dân trong Giáo Hội và Thế giới): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 30-12-1988, qua đó ngài muốn khuấy động và cổ vũ một sự nhận thức sâu sắc về hồng ân và trách nhiệm mà người giáo dân cùng chia sẻ, ở cấp độ cá nhân lẫn tập thể đối với sứ vụ của Giáo Hội, về phẩm giá của người giáo dân, về vai tṛ của người nam lẫn nữ, và về đời sống của giáo xứ. (232 nghị phụ)

11. Khoá họp thông thường lần thứ VIII, từ 30/9–28/10/1990, về chủ đề:Việc Huấn luyện Linh mục trong Những Hoàn cảnh Ngày nay”. à Tông huấn Pastores Dabo Vobis (Về Việc Đào tạo các Linh mục): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 25-3-1992, qua đó ngài đề cập đến sự khan hiếm về ơn gọi linh mục tại một số nơi trên thế giới và gọi mời việc rao giảng trực tiếp về mầu nhiệm của ơn gọi, phân tích các yếu tố tiềm ẩn nơi xă hội vốn cản ngăn đến ơn kêu gọi, và đồng thời ngài cũng nêu ra những yếu tố thuận lợi để thu hút ơn kêu gọi. Ngài cũng khẳng định việc linh mục độc thân tại các Giáo hội Tây phương, bàn thảo về những đại và tiểu chủng viện, sự trưởng thành của các linh mục, việc không ngừng đào tạo và học hỏi, những ứng viên lớn tuổi gia nhập vào chức tư tế; các vai tṛ của giáo dân và phụ nữ trong việc đào tào linh mục, cùng với những vấn đề khác. (238 nghị phụ)

12. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám mục Âu Châu, từ 28/11–14/12/1991, về chủ đề tài: “Ngơ hầu chúng ta có thể là những chứng nhân của Chúa Kitô, Đấng đă giải phóng chúng ta”. (137 nghị phụ)

13. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám mục Phi Châu, từ ngày 10/4–08/5/1994, về chủ đề tài: “Giáo Hội tại Phi Châu và sứ mạng rao giảng Phúc Âm hướng đến năm 2000 : Các con sẽ là những chứng nhân của Ta” (Cv 1,8). à Tông huấn Ecclesia in Africa (Về Giáo Hội tại Phi Châu): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 14-9-1995, qua đó ngài chỉ ra các vấn nạn tại Phi Châu, đó là việc nghèo đói ngày càng gia tăng, những vấn nạn về nhân quyền, và sự tự do của con người, việc đô thị hoá, vấn đề nợ nần quốc tế, vấn đề buôn bán vũ khí, sự giải phóng của phụ nữ, vấn nạn về những người tị nạn và di dân, những mối quan ngại và đe doạ về mặt nhân khẩu học đối với các gia đ́nh, sự lan truyền của căn bệnh AIDS, sự tồn tại của chế độ nô lệ tại một số quốc gia, chủ nghĩa vị chủng (ethnocentricity), sự chống đối của các bộ lạc trước những thách đố nền tảng, những mối quan hệ giữa Kitô giáo và Hồi giáo, việc bản vị hoá (inculturation) đức tin, việc đào tạo giáo dân, linh mục, cùng với những vấn đề khác có liên quan đến việc rao giảng Tin Mừng. (242 nghị phụ)

14. Khoá họp thông thường lần thứ IX, từ ngày 02–29/10/1994, về chủ đề: “Đời Tận hiến và Vai tṛ của nó trong Giáo Hội và trong Thế giới”. à Tông huấn Vita Consecrata (Về Đời sống Thánh hiến): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 29-3-1996, qua đó ngài đề cập đến 3 lời khấn về sự khó nghèo, vâng lời và trinh khiết, cũng như về những h́nh thức cũ và mới của đời sống tu ḍng, vai tṛ của các vị bề trên/giám tỉnh, vai tṛ của các nam/nữ tu ḍng trong việc giáo dục ở cấp bậc Cao đẳng lẫn Đại học, vai tṛ của linh mục và thầy ḍng trong các ḍng tu đa hỗn hợp, và những vấn đề khác. (245 nghị phụ)

15. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục về LIBAN, từ ngày 26/11– 4/12/1995, về chủ đề: “Chúa Kitô là Niềm Hy vọng của Chúng ta: Được canh tân bởi Chúa Thánh Thần, trong t́nh liên đới, chúng ta làm chứng cho t́nh yêu Thiên Chúa”. à Tông huấn A New Hope for Lebanon (Về Một Niềm Hy vọng Mới cho Đất nước Libăng): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết ra khi ngài đến viếng thăm Liban vào ngày 10-11-1997. (69 nghị phụ)

16. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục Mỹ Châu, từ ngày 16/11–12/12/1997, về chủ đề tài: “Gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô hằng sống: con đường hoán cải, hiệp thông và liên đới tại Mỹ Châu”. Tông huấn Ecclesia in America (Về Giáo Hội tại Mỹ Châu La Tinh): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 23-1-1999, qua đó, ngài nhấn mạnh đến công tác mục vụ, việc hợp tác truyền giáo, việc di dân, việc giáo dục, việc đối thoại liên tôn, vai tṛ của các đức giám mục, các linh mục, các phó tế, triều cũng như ḍng, và giáo dân, việc cổ vũ ơn gọi, mục vụ giới trẻ. Ngài cũng c̣n đem ra áp dụng những thách đố về các vấn đề xă hội chẳng hạn như việc tham nhũng, việc buôn bán ma tuư, môi trường, việc chạy đua vũ trang, việc toàn cầu hoá, việc nợ nần của các nước thuộc Thế giới Thứ Ba, cũng như về nhân quyền của tất cả mọi người, kể từ khi hăy c̣n là trẻ trong bụng mẹ măi cho đến khi đă luống tuổi, già nua. (233 nghị phụ)

17. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục Á Châu, từ ngày 19/4–14/5/1998, về chủ đề: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc và Sứ mạng Yêu thương và Phục vụ của Ngài tại Á Châu: Để họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). à Tông huấn Ecclesia in Asia (Về Giáo Hội tại Á Châu): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 6-11-1999, qua đó, ngài nhấn mạnh đến sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội tại Á Châu lục địa, là nơi mà hơn 2/3 dân số thế giới, hiện đang sinh sống, ngoại trừ Philippines, Kitô giáo hăy c̣n là một tôn giáo thiểu số. Ngài nói: “Sẽ không có sự rao giảng Tin Mừng thật sự, nếu không biết loan báo về Chúa Giêsu là chính Thiên Chúa, và việc giảng dạy đó phải tôn trọng quyền của lương tâm, v́ đức tin đ̣i hỏi sự đáp trả tự nguyện của mỗi cá nhân”. Ngài cũng c̣n đề cập đến việc bản vị hoá, những giảng dạy về xă hội của Giáo Hội, sự nghèo đói và áp bức, sự phát triển kinh tế, việc chạy đua vũ trang, việc tham nhũng nơi các chính phủ, việc tự do tôn giáo, việc đối thoại liên tôn, và về nhiều vấn đề khác nữa. (191 nghị phụ)

18. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám nục Châu Đại Dương, sẽ được tổ chức từ ngày 22/11–12/12/1998, về đề tài: “Chúa Giêsu Kitô và các dân tộc của Châu Đại Dương: bước đi trên con đường của Chúa, rao giảng sự thật của Chúa, và sống sự sống của Chúa”. à Tông huấn Ecclesia in Oceania (Về Giáo Hội tại Châu Đại Dương): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 22-11-2001, qua đó, ngài nhấn mạnh đến việc rao giảng Tin Mừng mới “là một ưu tiên hàng đầu cho Giáo Hội thuộc khu vực Châu Đại Dương,” và “thời gian đă chín muồi để rao giảng Tin Mừng cho những người dân tộc của vùng Thái B́nh Dương”. Ngài bàn đến những ảnh hưởng của việc hiện đại hoá tại Châu Đại Dương, vai tṛ của các giáo lư viên, việc đối thoại liên tôn, trào lưu chính thống, những giảng dạy của Giáo Hội về xă hội; tính bất khả xâm phạm của sự sống, việc lạm dụng t́nh dục bởi các tu sĩ, về những người bản xứ, về tầm quan trọng của Phúc Âm, về phụng vụ, về vai tṛ của những người nữ, về vai tṛ của các linh mục và phó tế, về cuộc sống thánh hiến tu ḍng, về giáo dân, cùng nhiều vấn đề khác nữa. (117 nghị phụ)

19. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám mục Âu Châu lần 2, từ ngày 01–23/10/ 1999, về chủ đề: “Chúa Giêsu Kitô, Sống động trong Giáo Hội, Nguồn mạch của Hy vọng cho Âu Châu”. Nói là "lần thứ 2", v́ Thượng Hội đồng Giám mục Âu Châu lần thứ nhất là vào năm 1991. à Tông huấn Ecclesia in Europa (Về Giáo Hội tại Châu Âu) ngày 28-6-2003, qua đó, ngài nhấn mạnh chủ đề về Chúa Giêsu Kitô như là “niềm hy vọng của chúng ta,” và “niềm hy vọng của Phúc Âm”, như đă được đề cập đến trong Sách Khải huyền. Đức Thánh Cha đề cập tới những thách đố và những dấu hiệu hy vọng của Giáo Hội tại Âu Châu, những nhu cầu cấp thiết của việc rao giảng Phúc Âm của niềm hy vọng, việc đối thoại với các tôn giáo khác, việc Phúc Âm hoá nền văn hoá, và sự cần thiết để chú trọng đặc biệt đến nhiều khuôn mặt khác nhau của giới truyền thông đại chúng, về phụng vụ, về việc mang đến cho những người nghèo một niềm hy vọng mới, và việc di cư. (165 nghị phụ)

20. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ X, từ ngày 30/9–27/10/2001, về chủ đề tài: “Giám mục: nguời tôi tớ của Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô để mang lại hy vọng cho thế giới”. à Tông huấn Pastores Gregis (Về Giám mục là tôi tớ về Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô cho Niềm Hy vọng của Thế giới): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 16-10-2003, kỷ niệm 25 năm giáo hoàng. (247 nghị phụ)

21. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XI từ 02-23/10/2005 với chủ đề: Bí tích Thánh Thể, Nguồn mạch và Chóp đỉnh Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội” được Đức Beneđictô XVI tiếp nối sau khi Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đáng kính băng hà ngày 2/4. à Tông huấn Sacramentum Caritatis (Về Bí tích Thánh Thể, Nguồn mạch và Chóp đỉnh của Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội): Tông huấn này được Đức Beneđictô XVI ban hành vào ngày 22-2-2007. (252 nghị phụ)

22. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII từ ngày 5-26/10/2008 với chủ đề “Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội” được Đức Beneđictô XVI triệu tập.

Trong thời gian họp, sẽ có thánh lễ khai mạc vào Chúa Nhật 05/10 và bế mạc vào Chúa Nhật 26/10 tại Đền thờ Thánh Phêrô. Cũng tại Đền thờ Thánh Phêrô có thánh lễ phong thánh vào Chúa Nhật 12-10 cho 4 tân hiển thánh:

1.   Linh mục người Ư Naples, GAETANO ERRICO (1791–1860), được phong chân phước 14/4/2002, là một tông đồ của Thánh Tâm Chúa Kitô. Thụ phong linh mục năm 1815. Chưa bao giờ bỏ tĩnh tâm thường niên tại Ḍng Chúa Cứu Thế ở Pagani, gần Salernô, ở đó Thánh Alphongsô Liguori hiện ra với ngài năm 1818: Chúa muốn ngài lập ra một cộng đoàn ḍng tu và xây dựng một thánh đường dâng kính Mẹ Sầu Bi. Thánh đường được làm phép cung hiến năm 1830 và một cộng đoàn dâng hiến cho Rất Thánh Trái Tim Chúa và Rất Thánh Trái Tim Mẹ Maria được lập ra và ngài kiệt sức với việc làm cho mọi người biết ḷng yêu mến xót thương của Chúa cho đền khi trút hơi thở cuối cùng ngày 29-10-1860. Lễ mừng ngày 29/10.

2.   Là thừa sai ở Nam Mỹ, Chân phước MARIE-BERNARDE BUTLER (1848–19240) nữ tu người Thuỵ Sĩ, được phong chân phước 29/10/1995, sáng lập D̉NG ĐỨC BÀ TRUYỀN GIÁO, truyền giáo lâu ngày ở Ecuador và Colombia. Gia nhập Ḍng nữ Phan Sinh, năm 1888, ngài được bầu làm bề trên của tu viện ở Altstatten. 8 năm sau, ngài đi truyền giáo ở Nam Mỹ, nơi ngài sáng lập Ḍng Đức Bà Truyền Giáo mà ơn gọi là làm công việc dạy học và bác ái. Ngài qua đời ngày 19-5-1924 ở Colombia. Lễ mừng ngày 19/5.

3.   Một nữ tu Ấn Độ bang Kerala, Chân phước ALPHONSINE MẸ VÔ NHIỄM (Anna Muttathupadam, 1910–1946), được phong chân phước 08/02/1986. Bang Kerala là bang Ấn Độ theo đạo rất đông. Ước ao đi tu, nhưng bị gia đ́nh ép lấy chồng, ngài đă tự gây thương tích bằng việc đút cả bàn chân vào lửa. Gia nhập Ḍng nữ Clara, ngài học yêu mến thập giá v́ Đức Kitô chịu đóng đinh và muốn tham gia công cuộc tông đồ của Giáo Hội bằng những đau khổ của ngài. Ngài được ban rất nhiều ơn siêu nhiên, như là nói tiếng Tamoul mà ngài chưa hề học hoặc có đặc ân nh́n thấy tương lai. Lễ mừng ngày 27/7.

4. Một nữ giáo dân người Ecuador, Chân phước NARCISSE DE JESUS MARTILLO Y MORAN (1831–1869), được phong chân phước 25-10-1992. Sinh ra ở Nobol, nước Ecuador, mồ côi trước khi được 20 tuổi. Ngài tự ra những đánh phạt thân xác nghiêm nhặt để cầu cho các tội nhân ăn năn trở lại. Nhiều người tận mắt chứng kiến ngài xuất thần, hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa. Ngài qua đời ở tuổi 37. Lễ mừng 08/12.

Trích từ: Website của HĐGM Việt Nam (http://v2.hdgmvietnam.org)

 

 Giáo xứ Sóc Trăng - giáo phận Cần Thơ

174 Lương Định Của, tp. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Hosted by Web Hosting : www.conggiaovn.net

Liên hệ: gxsoctrang@gmail.com