NHÂN LỄ GIỖ CỦA ĐỨC HỒNG Y
PHANXICÔ XAVIE NGUYỄN VĂN THUẬN
16.9.2008
NHỚ
VỀ ĐỨC CỐ HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN

Nhân
dịp Lễ, tôi nghĩ tới những ǵ tôi đă lănh nhận và những ǵ tôi đă cho đi.
Tôi thấy tôi đă cho đi quá ít, nhưng đă lănh nhận rất nhiều.
Đối với tôi, những lănh nhận, mà tôi phải biết ơn nhiều nhất, sẽ là những
lănh nhận về mặt tinh thần và mặt đạo đức.
Tôi đă lănh nhận các giá trị từ Thiên Chúa của tôi. Người đă ban tặng nhiều
ơn cho tôi qua nhiều phương tiện. Trong đó có những bạn bè.
Hôm nay, tôi xin nhắc tới cách riêng người bạn thân thiết của tôi. Đó là Đức
Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
"Chú Tuần ơi", lúc này tôi đang nghe Ngài gọi tôi. Tôi cảm nhận hơi thở ấm
áp và t́nh yêu thân t́nh trong lời gọi thân thương ấy.
Những ǵ tôi chia sẻ ở đây về Ngài sẽ không phải là tất cả những ǵ tôi biết
về Ngài. Cũng như tất cả những ǵ tôi biết về Ngài sẽ không phải là tất cả
sự thực bao la về Ngài.
Tôi sẽ chỉ nói về những giá trị thiêng liêng, tôi được Ngài chia sẻ cho.
1/ Tha thứ
Đă có những đau đớn gây nên cho Ngài và gia đ́nh Ngài trong biến cố đảo
chánh tháng 11 năm 1963.
Đă có những cay đắng gây nên cho bản thân Ngài trong sự kiện Ngài được bổ
nhiệm làm Tổng Giám mục phó Giáo phận Sàig̣n.
Đă có những xót xa gây nên cho Ngài do thiên kiến, trong thời gian Ngài chịu
thử thách ở ngoại quốc.
Ngài luôn tha thứ với ḷng khoan dung.
Ngài hay kể cho tôi về một gương tha thứ đă gây ấn gượng sâu sắc đến đời
Ngài, gương sáng đó là mẹ Ngài. Mẹ Ngài chịu đựng tất cả, và tha thứ tất cả.
Tôi đă gặp mẹ Ngài. Tôi thấy sự tha thứ của hai mẹ con Ngài là một chọn lựa
tự do phát xuất từ động lực mến Chúa yêu người cao độ. V́ thế mà sự tha thứ
của các ngài toát ra một tinh thần Phúc Am thanh thản đầy tính cách xây
dựng.
Một lần Ngài kể cho tôi chuyện này: Trong một giáo xứ nọ có một bà giáo dân
bỗng dưng tới cha xứ, quả quyết rằng bà đă được Chúa Giêsu hiện ra. Cha xứ
trả lời là cha không tin. Nhưng để có chứng để cha tin, th́ xin bà, lần tới
Chúa có hiện ra, bà hăy hỏi Chúa xem Chúa có nhớ tội nào mà cha xứ mới xưng
không. Vài ngày sau, bà tới cha xứ tŕnh rằng: Chúa mới hiện ra với con, con
đă hỏi Chúa như cha dặn. Chúa trả lời rằng: Cha xứ mới đi xưng tội. Nhưng
Chúa quên hết mọi tội ngài xưng.
Nghe vậy, cha xứ nói: Bây giờ th́ tôi tin Chúa đă hiện ra với bà. Chúa tha
tội, xoá tội. Chúa không muốn nhớ lại những tội Chúa đă tha.
Theo tôi, chính ở sự tha thứ mà Đức Cố Hồng Y đă trở nên con ngu?i dễ thuong
và cao thuơng.
Ngài thường nói với tôi: Chúng ta nên nghĩ về tương lai nhiều hơn. Nh́n xa
về tương lai, Ngài khuyên tôi điều ǵ?
2/ Đào tạo
Đức Hồng Y Thuận hay nh́n về tương lai của Giáo Hội và Đất Nước Việt Nam.
Tương lai đó sẽ ra sao, điều đó tuỳ ở những người hôm nay có biết dùng hiện
tại để đào tạo nhân sự hay không. Nhân sự mà Ngài muốn đào tạo là những
người sẽ phải có đủ thực lực về đạo đức, về trí thức và chuyên môn.
Thực lực là yếu tố cần để đối thoại giữa một thế giới đề cao đối thoại bằng
việc làm.
Thực lực là yếu tố cần để phục vụ giữa một xă hội đ̣i phục vụ tốt.
Thực lực là yếu tố cần để sống c̣n giữa một nhân loại sống theo cạnh tranh
giữa các giá trị.
Một trong những ưu tiên Ngài muốn nơi việc đào tạo nhân sự Hội Thánh là phải
hiểu biết những giá trị xă hội. Những giá trị xă hội theo cái nh́n của Hội
Thánh sẽ không thể nắm được, nếu việc đào tạo nghiêng về khép kín đóng
khung, h́nh thức.
Cởi mở của tôi về phía xă hội được Ngài khuyến khích. Chân thành trung hiếu
của tôi về phía Toà Thánh được Ngài ủng hộ.
Tất cả với tinh thần trách nhiệm. Tất cả với sự tự do của con cái Chúa. Tất
cả với mục đích làm chứng cho triển vọng đóng góp xây dựng một Hội Thánh
phát triển trong một Đất Nước phát triển theo hướng Phúc Âm và Công Đồng.
Nhờ đó, tôi được Ngài giúp, để sự cộng tác của tôi với Toà Thánh mỗi ngày
mỗi khăng khít hơn. Nhờ đó, sự trân trọng của xă hội Việt Nam dành cho Ngài
mỗi ngày mỗi tăng thêm.
Những năm tháng cuối đời, việc Ngài dự định về thăm quê hương Việt Nam đă
được xúc tiến ở cấp cao. Tôi là nhân chứng. Chỉ c̣n đợi các chuẩn bị cần
thiết, th́ sẽ thực hiện. Nhưng Ngài qua đời trước đó, với nhận thức ḿnh
được xă hội Việt Nam quư mến, ngưỡng mộ, v́ chủ truong hoà giải.
3/ Hy vọng
Nói về Đức Cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận là nói tới hy vọng. Hy vọng là con
đường thiêng liêng Ngài đă đi.
Ngài đă khai triển con đường đó trong cuốn "Hy vọng" của Ngài. Một cuốn sách
đă được dịch ra nhiều thứ tiếng và được mến chuộng rất nhiều tại Việt Nam.
Ở đây, tôi chỉ xin nhắc qua đến niềm hy vọng, mà Ngài đă chia sẻ cho tôi
trong t́nh bạn thân thiết và trong liên đới của những người mục tử có một số
hoàn cảnh giống nhau.
Mỗi lần, tôi hỏi Ngài về niềm hy vọng, th́ đều được Ngài nhắc tới Tám mối
phúc thật.
"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, v́...
"Phúc thay ai hiền lành, v́...
"Phúc thay ai sầu khổ, v́...
"Phúc thay ai khao khát nên người công chính, v́...
"Phúc thay ai xót thương người, v́...
"Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, v́...
"Phúc thay ai xây dựng hoà b́nh, v́...
"Phúc thay ai bị bách hại v́ lẽ công chính, v́..." (Mt 5,10).
Ngài luôn nhắc tới những hy sinh. Khi sống hy sinh, ta hy vọng được Chúa ban
cho hạnh phúc, như kinh Tám mối nói.
Nhưng Ngài khuyên tôi: Không phải khổ đau nào cũng đưa tới hạnh phúc. Nhưng
chỉ những khổ đau nào được Chúa chấp nhận. V́ thế không nên quá để ư đến
những việc làm hay chịu gọi là v́ Chúa, mà hăy nh́n vào chính Chúa. Chúa
nh́n thấu rơ mọi sự. Chỉ Chúa là hy vọng thực và là hạnh phúc thực của chúng
ta.
Chú Thuận ơi, xin nhớ về chú.
Tôi gọi Ngài lúc này như đă gọi Ngài khi Ngài c̣n sống. Những tiếng gọi âm
thầm, nhưng ngân xa niềm hy vọng.
Long Xuyên, ngày 25/8/2008
+ GM JB Bùi Tuần
TƯỞNG NHỚ VỊ MỤC TỬ VIỆT-NAM
Ngày 13.04.1967, Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đă được Đức Giáo
Hoàng Phaolô VI trao sứ vụ Mục tử Giáo phận Nha Trang, thay thế Đức Cha Paul
Raymond Piquet, MEP. Ngày 24.06.1967, nhân lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, tại Nhà
thờ Chính Ṭa Huế, Cha đă được thụ phong Đức Cha trong Thánh lễ do Đức Cha
Angelo Palmas, Khâm sứ Ṭa Thánh tại Việt Nam, Lào và Campuchia, chủ tế. Đức
Cha mới đă chọn khẩu hiệu ‘Vui Mừng và Hy Vọng’ (Gaudium et Spes), tên của
Hiến chế Mục vụ của Công Đồng Vatican II.
Thi hành sứ nhiệm Giám mục, Đức Cha đă viết những Thư luân lưu có giá trị
vượt thời gian và không gian cho mọi người công giáo Việt-Nam.
Ngày 19.03.1968, Lễ kính Thánh Giuse, Cha đă khẩn thiết kêu gọi qua Thư luân
lưu đầu tiên ‘Tỉnh Thức và Cầu Nguyện’:
- Tỉnh thức để nhận định, để hành động với trí óc, với sức lực của chúng ta:
‘Là công dân của nước Trời, người công giáo không quên ḿnh cũng là công dân
của nước trần thế. Phải quan tâm về cộng đồng chánh trị. Thái độ thoái thác,
ỷ lại, dửng dưng ích kỷ trong giai đoạn nầy là đắc tội với Chúa và Tổ Quốc.
Bức thông cáo Hội Đồng Giám Mục trong dịp Tết dể nhắc anh chị em điều đó.’
- Cầu nguyện để có Ơn Chúa giúp ta tự cứu thoát.
Để tuyên bố năm 1969 là Năm Đức Tin của Giáo phận, Đức Cha đă cho phổ biến
Thư luân lưu ‘Vững Mạnh Trong Đức Tin ? Tiến Lên Trong An B́nh’, đó là đường
lối xây dựng và củng cố, phát triển một nền Ḥa b́nh chân chính, trường cửu
theo quan niệm Công giáo. Đức Cha viết:
« … Tỉnh thức trong bổn phận công dân, v́ lúc này hơn bao giờ cả, người
Công giáo phải theo ánh sáng của Công Đồng Vatican II, phải bỏ quan niệm
chia đôi đời sống xă hội mà Công Đồng cho là sự sai lầm tai hại nhất của
thời đại ta.
Tôi đă kêu gọi anh em cầu nguyện, chính v́ thiếu cầu nguyện mà Giáo sĩ, Tu
sĩ, Giáo dân ngày nay gặp bao nhiêu khủng hoảng, bao nhiêu khó khăn. Thiếu
cầu nguyện ta không biết chính bản thân ta nữa, ta sống ta phản ứng theo
tinh thần thế tục…’
Đức Cha nhắc lại lời dạy của Đức Thánh Cha Phaolô VI: về Đức Tin là vấn đề
tiên quyết, vấn đề tối hệ, và chúng ta các Giám mục, chúng ta phải nh́n vấn
đề này với tất cả mối quan hệ khẩn cấp của nó. »
Đức Cha nhận định tiếp:
« … Chưa bao giờ Đức Tin gặp phải nguy hiểm như ngày nay. Hiểm nguy bên
ngoài do vật chất, vô thần. Hiểm nguy bên trong do sự bất tuân phục Hội
Thánh gây khủng hoảng trong nội bộ Dân Chúa.
Để anh chị em vững mạnh trong Đức Tin, đề pḥng hai hiểm họa trên, tôi tŕnh
bày cho anh chị em hai điểm sau đây: Tin tưởng ở phẩm vị con người và Tin
tưởng ở Hội Thánh. »
Trong phần ‘Tiến Lên Trong An B́nh’, Đức Cha xác định:
« Người Công giáo yêu chuộng Ḥa b́nh, nhưng người Công giáo không yêu
chuộng Ḥa B́nh cách thơ ngây, quá lạc quan. Người Công giáo rất thận trọng.
Ḥa b́nh theo quan niệm Công giáo:
- Ḥa b́nh không có nghĩa là không chiến tranh.
- Ḥa b́nh không phải là thế quân b́nh giữa hai lực lượng đối lập.
- Ḥa b́nh chân chính không phải là Ḥa b́nh chiến lược.
- Ḥa b́nh là con đường duy nhất đi đến tiến bộ nhân loại.
- Ḥa b́nh phải được xây dựng trên nền tảng Chân lư, Công bằng, Tự do và
Bác ái.
- Ḥa b́nh phải được xây dựng trên tinh thần mới: Kích động đời sống cộng
đồng các dân tộc.
- Ḥa b́nh phải được xây dựng trên năo trạng mới: Tôn trọng mối bang giao
giữa các quốc gia, quí trọng t́nh huynh đệ giữa các dân tộc, cộng tác giữa
các sắc tộc v́ tiến bộ chung; nh́n nhận và tin tưởng các tổ chức Ḥa b́nh
quốc tế.
- Ḥa b́nh phải được xây dựng trên sự tôn trọng và nh́n nhận những quyền lợi
của con người và nền độc lập của mỗi quốc gia. Ừ
Phải chăng v́ những giáo huấn vững chắc trong Đức Tin này, nên nhà nước tiếp
thu Miền Nam Nước Việt ngày 30.04.1975 e ngại sự dũng cảm và ḷng yêu nước
của Đức Cha?
Do đó, trong phiên họp ngày 27.06.1975, tại Dinh Độc lập, kéo dài từ 15 đến
19 giờ, Đức Cha đă đối diện với ba Cán bộ cao cấp của Ủy Ban Quân Quản TP Hồ
Chí Minh cùng các người Công giáo yêu nước. Đối với nhà cầm quyền Cộng sản,
sự thuyên chuyển độ một tuần trước khi họ tiếp thu Sàig̣n ngày 30.04.1975,
là bằng cớ âm mưu giữa Vatican và các Đế quốc. Để trả lời sự cáo buộc đó,
Đức Cha chỉ xác nhận sự vâng lời của Đức Cha đối với Bài Sai của Đức Thánh
Cha.
Cách đây 33 năm, vào ngày 15.08.1975, Ủy Ban Quân Quản TP Hồ Chí Minh bắt
giam Đức Cha. Đức Cha đă bị giam giữ nhiều nơi khác nhau, trong đó, có 9 năm
bị biệt giam, cho đến ngày 21.11.1988, Đức Cha được rời nhà tù nhưng và bị
quản chế tại Hà Nội. Trong thời gian 13 năm tù không bản án, bắt chước Thánh
Phaolô, Đức Cha đă viết thư cho các giáo đoàn về kinh nghiệm sống Đức Tin,
Mục vụ, Tu đức.
Thuật lại việc ra khỏi nhà tù của ḿnh, Đức Cha đă viết trong ‘Năm Chiếc
Bánh và Hai Con Cá’ như sau:
« Một hôm trời mưa, tôi đang thổi cơm trưa, tôi nghe điện thoại của chiến
sĩ trực reo. ‘Biết đâu có tin ǵ cho tôi? Đúng rồi, bữa nay là lễ Đức Mẹ
dâng ḿnh vào đền thánh, 21 tháng 11 mà!’
Năm phút sau, anh chiến sĩ trực đến:
- Ông Thuận ơi, ông ăn chưa?
- Chưa ạ, tôi đang thổi cơm đây.
- Ăn xong, ăn mặc sạch sẽ, đi gặp lănh đạo.
- Lănh đạo là vị nào vậy?
- Tôi không biết, tôi chỉ được báo thế. Chúc ông may mắn.
Tôi đă được đưa đến nhà khách chính phủ, bên hồ Ha-le, và tôi đă gặp ông Mai
Chí Thọ, Bộ trưởng Nội vụ (Bộ công an). Sau lời chào hỏi xă giao, ông Bộ
trưởng đă hỏi:
- Ông có nguyện vọng ǵ không?
- Thưa có, tôi muốn được tự do.
- Bao giờ?
- Hôm nay.
Ông Bộ trưởng có vẻ ngạc nhiên, thường t́nh phải có thời gian cho cơ quan
nhà nước xếp đặt... Nhưng hôm nay là lễ Đức Mẹ nên tôi tin chắc và xin như
vậy. Để đánh tan bầu khí lúng túng và ngạc nhiên ấy, tôi nói:
- Thưa ông Bộ trưởng, tôi ở tù lâu lắm, suốt ba đời Giáo hoàng: Phaolô VI,
Gioan Phaolô I, và Gioan Phaolô II. Về phía xă hội chủ nghĩa th́ tôi đă ở tù
bốn đời Tổng Bí thư Liên Xô: Brezhnev, Andropov, Chernenko, và Gorbachev.
ng Bộ trưởng bật cười và nói:
- Đúng! đúng!
Ông quay qua bảo người bí thư:
- Hăy liệu đáp ứng nguyện vọng của ông.
Trong ḷng tôi vui mừng tạ ơn Đức Mẹ Maria, v́ không những được tự do mà c̣n
được cả dấu chỉ. Chắc Mẹ tha tội tôi cả gan thách đố Mẹ. »
Năm 1989, Đức Cha được phép qua Roma chữa bệnh và được mời làm thành viên Ủy
Ban Quốc Tế về Di Trú và Di Dân. Nhà Nước Việt-Nam đă không cho Đức Cha trở
lại Quê Hương, sau khi các chế độ cộng sản tại các quốc gia Đông Âu lần lượt
tan rả.
Ngày 09.04.1994, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Đức Cha làm Phó Chủ
tịch Hội đồng Giáo hoàng Công Lư và Ḥa B́nh. Tiếp đến, ngày 24.06.1998, Đức
Cha được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lư và Ḥa b́nh,
thay thế Đức Hồng Y Roger Etchegaray.
Trong Nhà Nguyện Mẹ Đấng Cứu Thế, từ chiều ngày 12 đến 18.03.2000, Đức Cha
đă giảng tĩnh tâm cho Đức Giáo Hoàng và Giáo Triều Rôma và đă được Đức Giáo
Hoàng cám ơn như sau: « …Tôi đă ước mong rằng trong năm Đại Toàn Xá nầy,
cần có một chỗ đặc biệt được dành cho chứng tá của những người đă chịu ‘đau
khổ v́ đức tin, đă trả bằng máu sự gắn bó của họ đối với Chúa Kitô và Giáo
Hội, hoặc can đảm chịu đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ
loại’ (Tông sắc ‘Mầu nhiệm nhập thể’, số 13). Hiền Đệ đă chia sẻ chứng tá đó
một cách nồng nhiệt và đầy xúc động, chứng tỏ rằng, trong toàn thể cuộc sống
con người, t́nh thương xót của Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi lư luận của
loài người, tại những phần đất khác nhau trên thế giới, đang tiếp tục phải
trả giá thật đắt cho chính niềm tin của ḿnh nơi Chúa Kitô… ». Những bài
giảng tĩnh tâm nầy đă được in thành sách ‘Chứng Nhân Hy Vọng’, phát hành
bằng nhiều thứ tiếng.
Tại Vatican City, ngày 01.05.2000, Lễ kính Thánh Giuse Thợ, Đức Cha đă kư
Lời Tựa ban hành ‘Sưu Tập những Bản Văn của Huấn Quyền về Học Thuyết Xă Hội
Công Giáo’. Trong bản Sưu Tập nầy, Đức Cha đă thu nhặt từ các văn kiện đang
có trong kho tàng Giáo huấn về xă hội và viết thành 11 chương về các đề tài:
Bản chất Học Thuyết Xă hội Công giáo, Con Người, Gia Đ́nh, Trật tự Xă hội,
Kinh tế, Lao Động và Tiền Lương, Sự Nghèo đói và Đức Bác ái, Môi trường,
Cộng Đồng Quốc tế và Chương Kết.
Ngày 21.01.2001, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn Cha vào
Hồng Y Đoàn.
Đức Hồng Y tiếp tục viết ‘Tóm Lược Học Thuyết Xă Hội của Giáo Hội Công
Giáo’.
Nhưng… Lúc 18 giờ, ngày 16.09.2002, Đức Hồng Y đă được Thiên Chúa gọi ra
khỏi thế gian. Ngay khi hay tin Đức Hồng Y qua đời, Đức Cha Giampaolo
Crepaldi, Tổng Thư Kư Hội đồng Giáo Hoàng Công Lư và Ḥa B́nh, đă tuyên bố
với báo chí: "Một vị Thánh vừa qua đời".
Chiều ngày 20.09.2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă từ Castel Gandolfo
trở về Vatican, để chủ sự Thánh Lễ An táng Đức Cố Hồng Y. Vị Hồng Y quá cố
đă được Giáo Triều và 172 phái đoàn ngọai giao cạnh Ṭa Thánh tiển biệt
trong một Thánh Lễ trọng thể.
Nhân dịp nầy, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă ngỏ lời:
«Trong 13 năm ngục tù, Ngài (Đức Hồng Y Thuận) đă hiểu nền tảng của đời
sống Kitô hữu là ‘chọn một ḿnh Chúa mà thôi’ như các vị tữ đạo Việt-Nam đă
làm trong những thế kỹ trước. Chúng ta được mời gọi rao giảng cho tất cả mọi
người ‘Tin Mừng Hy Vọng’, và Đức Hồng Y giải thích rằng: chúng ta chỉ có thể
chu toàn Ơn Gọi ấy với sự hy sinh quyết liệt, dù phải chịu những thử thách
cam go nhất. Đức Hồng Y nói: ‘Hăy nêu cao giá trị của sự đau khổ như một
trong muôn vàn khuôn mặt của Chúa Giêsu chịu đóng đanh và hiệp nhất đau khổ
của ḿnh với khổ đau của Chúa, có nghĩa là đi vào chính năng động khổ đau,
yêu thương có nghĩa là tham dự vào ánh sáng, sức mạnh, an b́nh của Chúa; có
nghĩa là t́m lại được nơi chính ḿnh một sự hiện diện mới mẻ, sung măn, của
Thiên Chúa.
Đây không phải là sự anh hùng, nhưng là sự trung thành chín chắn, hướng cái
nh́n về Chúa Giêsu là mẫu gương của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo. Một gia
sản cần được đón nhận mọi ngày trong một cuộc sống đầy yêu thương và dịu
hiền.
Con người Đức Hồng Y là một tấm gương sáng ngời về đời sống Kitô, phù hợp
với Đức Tin, cho đến độ tử đạo. Đức Hồng Y nói về ḿnh với sự đơn sơ thật
đặc biệt: "Trong vực thẳm những đau khổ của tôi,. .. tôi không bao giờ ngừng
yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi". Bí
quyết của Đức Hồng Y là ḷng tín thác kiên cường nơi Thiên Chúa, được nuôi
dưỡng bằng kinh nghiệm và đau khổ được Đức Hồng Y chấp nhận với ḷng yêu
mến. Trong tù, mỗi ngày Đức Hồng Y đă cử hành Thánh Lễ với ba giọt rượu và
một giọt nước trên ḷng bàn tay. Đó là bàn thờ của Người, là Nhà thờ chính
ṭa của Người, Ḿnh Thánh Chúa Kitô là ‘thuốc’ của Người, Đức Hồng Y cảm
động kể lại: ‘Mỗi lần như thế tôi được dịp giang tay ra và chịu đóng đinh
bản thân trên Thánh giá với Chúa Giêsu, được sống chén đắng với Chúa. Mỗi
ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết ḷng củng cố một giao ước mới, giao
ước đời đời giữa tôi và Chúa Giêsu, nhờ máu của Chúa ḥa lẫn với máu của
tôi’.
Trung thành cho tới chết, Ngài giữ được sự b́nh thản và niềm vui cả trong
lúc nằm lâu và phải đau đớn trong bệnh viện và, trong những ngày cuối, khi
không c̣n nói được nữa, Ngài nh́n chăm chú vào ảnh Thánh giá, Ngài cầu
nguyện trong thinh lặng, khi hy lễ tối cao của Ngài tới tuyệt đỉnh, hoàn
thành cách vinh quang một cuộc đời đánh dấu bằng sự đồng h́nh đồng dạng với
Chúa Kitô trên Thánh giá.
Trong chúc thư tinh thần, sau khi xin lỗi, Đức Hồng Y cam đoan tiếp tục yêu
mến tất cả mọi người. Đức Hồng Y quả quyết: ‘Tôi thanh thản ra đi, và tôi
không giữ ḷng oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ tôi đă
trải qua cho Đức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse’. Chúc thư tinh thần kết thúc
với ba lời nhắn nhủ: ‘Hăy yêu mến Đức Mẹ, hăy tín thác nơi Thánh Giuse, hăy
trung thành với Giáo hội, hăy đoàn kết và yêu thương tất cả mọi người’. Đây
chính là tổng hợp trọn cuộc sống của Đức Hồng Y. »
và Đức Thánh Cha đă kết luận:
« Giờ đây, ước ǵ cùng với Thánh Giuse và Mẹ Maria, Đức Hồng Y được đón
nhận vào trong niềm vui của Thiên Đàng, chiêm ngắm Tôn Nhan rạng ngời của
Chúa Kitô, Đấng trên trần thế đă nhiệt thành t́m kiếm như niềm Hy vọng duy
nhất của ḿnh. Amen! »
Năm năm sau ngày Người về Nhà Cha, Hội đồng Ṭa Thánh Công lư và Ḥa b́nh đă
tổ chức Thánh Lễ đồng tế do Đức Hồng Y Renato Raffael Martino, đương kim Chủ
tịch và là người kế vị Đức Hồng Y Phanxicô Xavie, đă chủ sự lúc 11 giờ ngày
chúa nhật 16.09.2007 tại Nhà thờ Đức Mẹ Cầu Thang (Santa Maria della Scala,
nhà thờ dành cho Đức Hồng Y Thuận tại Rôma), để tưởng nhớ một chứng nhân ḥa
b́nh và hy vọng, đă chịu giam cầm 13 năm tại quê hương Người.
Tham gia sáng kiến mở án phong Chân Phước cho Đức Hồng Y, ngoài Hội đồng Ṭa
Thánh Công lư và Ḥa b́nh c̣n có Quỹ Thánh Mathêu tưởng niệm Đức Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận, Hội Quan sát Quốc tế Văn Thuận về Đạo lư xă hội Công Giáo,
thân nhân và bạn hữu của Đức Cố Hồng Y, cũng như cộng đoàn Công giáo Việt
Nam ở Roma.
Đức Hồng Y Chủ tịch Hội đồng Ṭa Thánh Công lư và Ḥa b́nh đă mời bà Luật sư
Silvia Monica Correale, người Ư, làm Thỉnh nguyện viên Án phong Chân phước
cho Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.
Nhân dịp này, một buổi triều yết đă diễn ra ngày thứ hai 17.09.2007 tại Dinh
thự Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo. Trong diễn văn, Đức Thánh Cha Bênêđictô
XVI đă nói:
«Tôi vui mừng, nhân cơ hội này để, một lần nữa, nêu lên chứng tá Đức Tin
sáng ngời mà vị Mục Tử anh dũng này đă để lại cho chúng ta. Giám Mục
Phanxicô Xavie đă được vị tiền nhiệm Gioan Phaolô 2 đáng kính của tôi bổ
nhiệm làm Chủ Tịch Hội đồng Ṭa Thánh Công lư và Ḥa B́nh. Nguời đă hoàn
thành ‘Toát Yếu Giáo Huấn xă hội của Hội Thánh’. Làm sao quên được những nét
nổi bật về sự đơn sơ và thân thiện ngay của Người?
Chúng ta tưởng nhớ Ngài với sự thán phục lớn lao, trong khi chúng ta nghĩ
lại trong tâm trí chúng ta những dự phóng lớn lao và tràn đầy Hy vọng, đă
làm cho Ngài luôn sống động và Ngài t́m cách thế để dễ dàng loan truyền ra
và thuyết phục nhiều người; sự dấn thân đầy nhiệt huyết của Ngài để quảng bá
học thuyết xă hội của Hội Thánh giữa những người nghèo trên thế giới, và
ḷng hăng say truyền bá Phúc âm trong lục địa Á Châu của Ngài, khả năng Ngài
điều hợp các hoạt động bác ái và thăng tiến con người mà Ngài làm tăng thêm
và nâng đỡ tại những nơi nặng nề nhất trên thế giới.
Đức Hồng Y Văn Thuận là một con người của Hy Vọng, Ngài sống bằng Hy Vọng,
Ngài phổ biến Hy Vọng cho tất cả những ai Ngài gặp. Chính nhờ năng lực
thiêng liêng này mà Ngài đă chống lại được tất cả những khó khăn thể lư và
luân lư. Hy Vọng đă nâng đỡ Ngài khi là Giám mục bị cô lập trong ṿng 13 năm
trời, xa cách khỏi cộng đoàn Giáo phận của Ngài;
Hy Vọng giúp đỡ Ngài biết nh́n ra qua cái vô lư của các biến cố xẩy đến cho
Ngài - không bao giờ được xét xử trong những năm tù ngục - một kế đồ của sự
quan pḥng của Thiên Chúa.
Tin về bệnh ung thư Ngài, căn bệnh đưa Ngài tới cái chết, tin này đă đến với
Ngài cùng lúc với việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặt Ngài làm Hồng Y, vị
Giáo Hoàng này bày tỏ với Đức Hồng Y một sự trân trọng và t́nh cảm thật lớn
lao.
Đức Hồng Y Văn Thuận thường nhắc lại rằng Kitô hữu là một con người của từng
giờ, của lúc này, của giây phút hiện tại, cần được đón nhận và sống với t́nh
yêu Chúa Kitô. Trong khả năng sống giây phút hiên tại này chiếu tỏa ra cái
sâu thẳm của việc từ bỏ trong bàn tay Thiên Chúa và tính đơn sơ như trong
Phúc âm dạy mà chúng ta tất cả đều kính phục Ngài. Và làm sao có thể xấy ra
điều này - người ta tự hỏi - một người đặt tin tưởng vào Chúa Cha trên trời
mà lại từ chối để ḿnh được ôm ấp vào cánh tay của Chúa Cha sao? Đức Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận là một người hy vọng, đă sống hy vọng và phổ biến hy vọng
nơi tất cả những người Người gặp. Chính nhờ năng lực tinh thần ấy, Đức Hồng
Y đă chống lại tất cả những khó khăn về thể lư và tinh thần. Niềm hy vọng ấy
đă nâng đỡ Người như một Giám Mục bị cô lập trong 13 năm trời xa cách cộng
đoàn giáo phận của Người; niềm hy vọng đă giúp Người nhận thấy, trong sự vô
lư của các biến cố xảy ra cho Người, một kế hoạch của Chúa Quan Pḥng - Đức
Hồng Y không hề được xét xử trong thời gian lâu dài bị giam cầm ».
Và Đức Thánh Cha kết luận rằng:
« Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự
án phong chân phước cho vị Ngôn Sứ đặc biệt này của niềm hy vọng Kitô, và
trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ưu tuyển của Người, chúng ta
hăy cầu nguyện để tấm gương của Đức Cố Hồng Y là giáo huấn hữu hiệu cho
chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh
chị em ».
Đức Hồng Y không những là một tấm gương sáng ngời về đời sống Kitô hữu mà
c̣n là một công dân yêu nồng nàn Tổ Quốc Việt-Nam. Người đă căn dặn chúng
ta:
… Là người Công giáo Việt Nam
Con phải yêu Tổ quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội thánh bảo con,
Cha mong gịng máu ái quốc,
Sôi trào trong huyết quản con…
Viết ngày 16.09.2008, sáu năm sau ngày Đức Hồng Y
an nghỉ trong Đức Kitô.
Hà-Minh Thảo

Trích từ:
http://vietcatholic.net/News