TỰ SẮC
ĐỂ CHẤP
THUẬN VÀ CÔNG BỐ
BẢN “TOÁT YẾU GIÁO LƯ”
CỦA HỘI
THÁNH CÔNG GIÁO
Kính gởi CHƯ HUYNH đáng
kính,
Quư HỒNG Y, THƯỢNG PHỤ,
TỔNG GIÁM MỤC, GIÁM MỤC
LINH MỤC, PHÓ TẾ VÀ MỌI
THÀNH PHẦN DÂN CHÚA
Cách đây hai
mươi năm, sách GIÁO LƯ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO đă bắt đầu được soạn thảo,
theo yêu cầu Khoá họp bất thường của Thượng Hội đồng Giám mục nhân dịp kỷ
niệm hai mươi năm ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II.
Tôi
vô cùng cảm tạ Thiên Chúa, v́ Ngài đă ban cho Hội thánh sách Giáo lư
này; sách này đă được công bố vào năm 1992 do vị tiền nhiệm kính yêu của
Tôi, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Giá
trị lớn lao và vẻ đẹp của quà tặng này đă được hàng Giám mục xác nhận qua
việc các ngài đón nhận một cách tích cực và rộng răi. Sách Giáo lư ấy nhắm
trao vào tay các vị Giám mục như bản qui chiếu chắc chắn và đích thực để
giảng dạy giáo lư công giáo và đặc biệt để soạn thảo các sách giáo lư địa
phương. Sách Giáo lư cũng được mọi thành phần Dân Chúa đón nhận cách thuận
lợi đáng kinh ngạc. Sách này cho đến nay đă được dịch ra hơn năm mươi thứ
tiếng.
Giờ
đây, với niềm vui lớn lao, Tôi chấp thuận và công bố bản Toát yếu Giáo
lư này.
Vào
tháng 10 năm 2002, các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế về Giáo lư đă nói
lên một yêu cầu phổ biến trong Hội thánh là ước mong có được bản Toát
yếu sách giáo lư. Vị Tiền nhiệm kính yêu của Tôi đă đón nhận ước muốn
này và vào tháng 02 năm 2003 đă quyết định bắt đầu thực hiện. Ngài trao
việc soạn thảo cho một Uỷ ban Hồng y, do chính Tôi làm chủ tịch, với sự
cộng tác của nhiều chuyên viên. Trong quá tŕnh làm việc, một dự thảo bản
Toát yếu này được chuyển đến các Hồng y và những vị Chủ tịch các
Hội đồng Giám mục. Bản dự thảo này được một số rất đông đón nhận và đánh
giá cao.
Toát yếu mà hôm nay Tôi giới thiệu cho Hội thánh phổ quát là một tổng
hợp trung thành và chắc chắn sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo.
Bản toát yếu này chứa đựng cách ngắn gọn mọi yếu tố căn bản và nền tảng
của đức tin Hội thánh, tạo thành một thứ thủ bản “cầm tay – Vademecum”
như vị Tiền nhiệm của Tôi ước muốn, cho phép mọi người, dù tin hay không,
có thể có được một cái nh́n toàn diện về đức tin công giáo.
Bản
Toát yếu này phản ánh cách trung thành sách Giáo lư của Hội
thánh Công giáo ngay trong cấu trúc, nội dung lẫn ngôn ngữ; hy vọng
nhờ sự hỗ trợ và động viên của bản Toát yếu này, sách Giáo lư
của Hội thánh Công giáo được biết đến cách rộng răi hơn và được đào
sâu nhiều hơn.
Với sự tin
tưởng, Tôi trao bản Toát yếu này trước tiên cho toàn Hội thánh và
đặc biệt cho từng người Kitô hữu, để vào thiên niên kỷ thứ ba này, mỗi
người nhờ vào bản Toát yếu, có được một sức bật mới trong cố gắng
Phúc Âm hoá và giáo dục đức tin. Đây phải là đặc điểm của tất cả các cộng
đoàn trong Hội thánh và của tất cả những ai tin vào Đức Kitô, bất luận
tuổi tác hay thuộc quốc gia nào.
Nhờ tính chất ngắn gọn, trong sáng và đầy đủ, bản Toát yếu này
cũng nhắm đến mọi người, đang sống trong một thế giới phân tán và có quá
nhiều sứ điệp, khao khát biết được con Đường Sự sống, Chân lư, đă được
Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh của Con ḿnh.
Khi đọc bản Toát yếu có thẩm quyền này, nhờ sự cầu bầu của Đức
Trinh Nữ Maria rất thánh, Mẹ Đức Kitô và là Mẹ Hội thánh, mỗi người có thể
nhận ra và đón nhận ngày một hơn vẻ đẹp, sự thống nhất và tính hiện thực
bất tận của món quà vô giá mà Thiên Chúa đă ban tặng cho nhân loại : đó là
Con Duy Nhất của Ngài, Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Đường, là Sự thật và là Sự
sống” (Ga 14,6).
Ban hành tại Rôma,
gần Đền thờ thánh Phêrô, ngày 28 tháng 06 năm 2005,
Áp Đại lễ kính hai
thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô,
Năm thứ nhất triều
đại Giáo hoàng của Tôi
BENEDICTUS PP XVI
Bức tranh Đức Kitô PANTOCRATOR (Chủ tể muôn loài), có một vẻ đẹp mỹ thuật
đặc biệt, gợi nhớ lời Thánh vịnh : “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ,
ân sủng được tuôn đổ trên môi ngài”(Tv 44 [45], 3). Áp dụng lời ca ngợi
này vào Chúa Giêsu, thánh Gioan Kim Khẩu viết : “Đức Kitô ở vào tuổi tuyệt
vời, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; nơi Người chiếu tỏa một nét đẹp
trên cả hai b́nh diện, nét đẹp của tâm hồn và nét đẹp của thể xác” (Giáo
phụ Hy Lạp [PG] 52,479).
Bằng ngôn ngữ tượng h́nh, bức tranh này là một tổng hợp các Công đồng
chung đầu tiên, không những tŕnh bày vẻ huy hoàng của nhân tính, nhưng cả
vinh quang của thần tính Chúa Giêsu.
Đức Kitô mặc một áo dài đỏ, bên ngoài là một áo choàng xanh đậm. Hai màu
sắc này nhắc nhớ đến hai bản tính của Người, trong khi các phản chiếu ánh
vàng gợi lên ngôi vị thần linh của Ngôi Lời. Từ vai phải có một dây các
phép nạm vàng sa xuống, biểu trưng chức tư tế vĩnh cửu của Người. Gương
mặt Người, uy nghi và trang trọng, được bao bọc bằng bộ tóc dày trên nền
một hào quang ở giữa có h́nh thánh giá. Trên h́nh thánh giá có ba mẫu tự
O?N (Người là Đấng Hiện Hữu) lấy lại mạc khải danh Thiên Chúa trong sách
Xuất Hành 14,3. Trên cao, ở viền bức tranh có hai cặp mẫu tự “IC – XC”
(“Jesus” – “Christus”) tạo thành tựa đề cho bức ảnh.
Bàn tay mặt, ngón cái và ngón đeo nhẫn gấp lại gần như đụng nhau
(để chỉ hai bản tính của Đức Kitô trong sự hợp nhất của ngôi vị), được
tŕnh bày với cử chỉ đặc trưng của việc ban phúc lành. Ngược lại, bàn tay
trái, siết chặt quyển Tin Mừng; quyển sách này có ba ổ khóa, nhiều viên
ngọc trai và đá quí. Quyển Tin Mừng, biểu trưng và tổng hợp Lời Chúa, cũng
có một ư nghĩa Phụng vụ v́ trong mỗi Thánh lễ chúng ta đều đọc một đoạn và
khi truyền phép chúng ta đọc lại lời của chính Chúa Giêsu.
Bức tranh này liên kết
một cách thành công những yếu tố tự nhiên và biểu trưng, mời gọi chúng ta
suy niệm và bước theo Chúa Giêsu. Ngày hôm nay, thông qua Hội thánh là Hôn
thê và là Thân thể nhiệm mầu của Người, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chúc lành
cho nhân loại và soi sáng nhân loại bằng Tin Mừng của Người, đó thực sự là
cuốn sách của chân lư, của hạnh phúc và của ơn cứu độ con người.
Vào tháng 08 năm 386, khi đang ở trong vườn, thánh Augustinô nghe một
tiếng nói với ngài : “Hăy cầm lấy và đọc, hăy cầm lấy và đọc” (Tự thuật
8,12,29). Bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo là một tổng
hợp Tin Mừng của Chúa Giêsu được huấn giáo của Hội thánh dạy dỗ; đó là một
lời mời để mở quyển sách chân lư và đọc, và có thể là “ nuốt đi” như lời
ngôn sứ Êdêkien (x. Ed 3,1-4).
THÉOPHANE DE CRÈTE (1546),
Bức tranh về Đức Kitô, Tu viện Stavronikita, núi Athos.
DẪN NHẬP
1.
Ngày 11 tháng 10 năm 1992, Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trao cho các tín
hữu trên toàn thế giới sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, như
một “bản văn qui chiếu” [1] cho Giáo lư được canh tân từ nguồn gốc sống
động của đức tin. Ba mươi năm sau ngày khai mạc Công đồng Vaticanô II
(1962-1965) một ước mơ đă trở thành hiện thực, ước mơ này đă được Thượng
Hội đồng bất thường của các Giám mục vào năm 1985 đạo đạt lên, đó là ước
muốn có một sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo tŕnh bày tất cả đức tin
cũng như luân lư.
Năm năm sau, ngày 15 tháng 08 năm 1997, khi công bố Ấn bản mẫu của
sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, Đức Giáo hoàng xác nhận mục
đích cơ bản của tác phẩm này : “Đây là một tŕnh bày đầy đủ và trọn vẹn
giáo lư công giáo, cho phép mỗi người nhận ra điều Hội thánh tuyên xưng,
cử hành, sống và cầu nguyện trong cuộc sống hằng ngày của ḿnh” [2].
2.
Để làm nổi bật giá trị giáo lư và để đáp lại một yêu cầu do Đại hội Quốc
tế về Giáo lư đạo đạt vào năm 2002, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă
thành lập một Ủy ban đặc biệt vào năm 2003, đứng đầu là Đức Hồng y Joseph
Ratzinger, Bộ trưởng Bộ Giáo lư Đức tin, ủy thác cho ngài công tác viết
một bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, trong
đó các nội dung đức tin được tŕnh bày một cách tổng hợp hơn. Sau hai năm
làm việc, Ủy ban viết được bản Dự thảo bản toát yếu; bản này được
trao cho các Hồng y và Chủ tịch các Hội đồng Giám mục để xin ư kiến. Một
số đông các phúc đáp đều đánh giá cao bản dự thảo này. V́ thế Ủy ban bắt
đầu cho duyệt lại bản dự thảo dựa theo các đề nghị chỉnh sửa để chuẩn bị
cho bản văn cuối cùng.
3.
Bản Toát yếu này có ba đặc điểm chính như sau : lệ thuộc chặt chẽ
vào sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo; h́nh thức hỏi thưa; và
việc sử dụng các h́nh ảnh nghệ thuật vào trong Giáo lư.
Trước hết, bản Toát yếu này không phải là một tác phẩm hoàn toàn
độc lập và cũng không phải để thay thế cho sách Giáo lư của Hội thánh
Công giáo; ngược lại luôn qui hướng về sách Giáo lư, bằng cách
ghi những số liên hệ và theo sát cấu trúc, cách tŕnh bày và nội dung của
sách Giáo lư. Ngoài ra bản Toát yếu muốn khơi dậy mối quan
tâm và ḷng nhiệt thành đối với sách Giáo lư, sách vẫn luôn là bản
văn nền tảng cho giáo lư của Hội thánh ngày nay bởi cách tŕnh bày khôn
ngoan và chiều sâu thiêng liêng của nó.
Như sách Giáo lư, bản Toát yếu cũng chia ra làm bốn phần
tương ứng với những lề luật căn bản cho đời sống trong Đức Kitô.
Phần đầu tiên – có tựa đề “Tuyên xưng đức tin” – gồm một tổng hợp cơ bản
về Lex credendi, có nghĩa là Luật đức tin được Hội thánh Công giáo
tuyên xưng, một tổng hợp rút ra từ Kinh Tin Kính của các thánh Tông đồ,
được bổ túc bằng bản Kinh Tin Kính của hai Công đồng Nicea và
Constantinopoli, mà việc công bố liên tục trong những buổi họp mặt giúp
người Kitô hữu luôn nhớ các chân lư nền tảng của đức tin.
Phần thứ hai – có tựa đề “Cử hành mầu nhiệm Kitô giáo” – tŕnh bày các
yếu tố căn bản của Lex celebrandi. Việc rao giảng Tin Mừng t́m được
câu trả lời thích ứng trong đời sống Bí tích. Trong đời sống này, các tín
hữu có kinh nghiệm và làm chứng trong mỗi giây phút cuộc đời ḿnh hiệu
năng cứu độ của mầu nhiệm Vượt qua, trong đó Đức Kitô hoàn tất công tŕnh
cứu độ chúng ta.
Phần thứ ba – có tựa đề “Đời sống trong Đức Kitô” – nhắc nhớ lại Lex
vivendi, có nghĩa là sự dấn thân mà các tín hữu biểu lộ trong thái độ
và sự chọn lựa đạo đức của ḿnh, sự trung thành với đức tin đă được tuyên
xưng và được cử hành. Chúa Giêsu mời gọi các tín hữu thực hiện những hành
động phù hợp với phẩm giá là con của Chúa Cha trong t́nh yêu của Chúa
Thánh Thần.
Phần thứ tư – có tựa đề “Kinh nguyện Kitô giáo” - tŕnh bày một tổng hợp
về Lex Orandi, có nghĩa là về đời sống cầu nguyện. Theo gương Chúa
Giêsu, mẫu mực tuyệt vời cho kẻ cầu nguyện, người Kitô hữu được mời gọi
đối thoại với Thiên Chúa trong kinh nguyện, mà một trong những cách diễn
tả ưu thế nhất là Kinh Lạy Cha, đó là kinh do chính Chúa Giêsu dạy chúng
ta.
4.
Đặc điểm thứ hai của bản toát yếu này là h́nh thức đối thoại, lấy lại h́nh
thức cổ xưa của sách giáo lư, gồm các câu hỏi và câu thưa. Đây là cách đối
thoại giữa thầy và tṛ qua một loạt câu hỏi gây chú ư cho người đọc, mời
gọi họ khám phá những phương diện luôn luôn mới của chân lư đức tin của
ḿnh. H́nh thức hỏi thưa thu ngắn bản văn, đúc kết vào điểm chính yếu,
tiện cho việc học thuộc ḷng nội dung.
5.
Đặc điểm thứ ba là có nhiều h́nh ảnh làm nổi bật cách phân chia bản toát
yếu. Các tranh ảnh này được rút từ gia sản phong phú của nghệ thuật tranh
ảnh thánh của Kitô giáo. Từ truyền thống cả ngh́n năm của các Công đồng,
chúng ta học biết rằng tranh ảnh cũng là một cách rao giảng Tin Mừng. Các
nghệ nhân của mọi thời đại tŕnh bày cho các tín hữu chiêm ngắm và kinh
ngạc trước những sự kiện nổi bật của mầu nhiệm cứu độ với sự huy hoàng của
màu sắc và vẻ đẹp tuyệt vời. Đó là một dấu chỉ cho thấy tranh ảnh thánh,
trong văn hóa h́nh ảnh ngày nay, có thể diễn tả nhiều hơn là ngôn từ, v́
trong sự sinh động của nó, sứ điệp Tin Mừng sẽ có nhiều hiệu quả hơn khi
được diễn tả bằng ngôn từ và được tiếp tục truyền đạt.
6.
Bốn mươi năm sau ngày kết thúc Công đồng Vaticanô II và trong năm Thánh
Thể, bản Toát yếu có thể xem như là một công cụ mới để thỏa măn
khát vọng t́m kiếm chân lư của các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và trong mọi
hoàn cảnh, cũng như ước muốn của những ai, dù chưa phải là tín hữu, đang
khao khát chân lư và công bằng. Việc công bố bản Toát yếu này được
diễn ra trong ngày Đại lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, cột trụ của
Hội thánh toàn cầu và là những người rao giảng gương mẫu Tin Mừng cho thế
giới trong thời đại của các ngài. Các vị Tông đồ này biết rơ điều các ngài
rao giảng và chứng minh cho chân lư Đức Kitô đến hy sinh mạng sống. Chúng
ta hăy bắt chước các ngài trong sự dấn thân truyền giáo và cầu xin Chúa
cho Hội thánh luôn dơi theo giáo huấn của các Tông đồ, nhờ các ngài mà Hội
thánh đă lănh nhận trước tiên lời tuyên xưng vinh phúc của đức tin.
Lễ
Lá, ngày 20 tháng 03 năm 2005
Hồng Y Joseph Ratzinger
Chủ tịch Ủy Ban đặc biệt
Chú thích
[1] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Fidei depositum, 11.10.1992, DC
91 (1993) trang 1.
[2] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Laetamur magnopere, 1508, 1997,
DC 94 (1997) trang 851.
Kiệt tác hoành tráng diễn tả việc các Đạo sĩ đến thờ lạy Chúa (x. Mt
2,1-12) tŕnh bày mạc khải của Chúa Giêsu cho muôn dân. Mầu nhiệm Nhập thể
là một hồng ân không những dành cho niềm tin của Đức Maria, của thánh
Giuse, của các người phụ nữ, của những mục đồng, những con người đơn sơ
của dân Israel, nhưng cũng cho niềm tin của những kẻ xa lạ đến từ phương
Đông, để thờ lạy Đấng Mêsia mới sinh và dâng lên Người các lễ vật : “Họ
vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp ḿnh bái lạy
Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt
2,11).
Các Đạo sĩ là những người đầu tiên của những dân tộc được mời gọi đến đức
tin; họ đến với Chúa Giêsu không phải với bàn tay không, nhưng với sự
phong phú của quê hương và văn hóa của họ.
Tin Mừng của Chúa Giêsu là lời cứu độ cho toàn thể nhân loại. Thánh Giáo
hoàng Lêô Cả đă nói : “Mọi dân tộc, được ba vị Đạo sĩ này đại diện, thờ
lạy Đấng Sáng Tạo vũ tru,ï và Thiên Chúa không những được rao giảng trong
vùng Giuđêa, nhưng trên toàn thế giới, để Danh Ngài thật vĩ đại trên toàn
Israel (x. Tv 75,2)” (Bài giảng thứ 3 ngày lễ Hiển linh).
Phần thứ nhất của bản Toát yếu tŕnh bày việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với
con người và là lời đáp trả đức tin mà Hội thánh, nhân danh toàn thể nhân
loại, dâng lên đáp lại hồng ân Nhập thể cứu độ của Con Thiên Chúa và cuộc
Mạc khải thần linh của Người.
Gentile da Fabriano (1423) , Các Đạo sĩ thờ lạy, Galleria degli
Uffizi, Florenz.
PHẦN I
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
ĐOẠN
THỨ NHẤT
“TÔI
TIN” – “CHÚNG TÔI TIN”
Bức ảnh nhỏ này tŕnh bày chu kỳ trọn vẹn của sáu
ngày sáng tạo cho đến lúc nguyên tổ của nhân loại bị cám dỗ (x. St 1-3).
Công tŕnh Ngài, lạy Chúa, quả thiên h́nh vạn
trạng !
Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan,
những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.
Này đại dương bát ngát mênh mông,
nơi muôn vàn sinh vật to lẫn nhỏ vẫy vùng,
nơi tàu bè cỡi sóng và thủy quái tung tăng,
là vật Chúa tạo thành để làm tṛ tiêu khiển.
Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa
đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn.
Ngài ban xuống, chúng lượm về,
Ngài mở tay, chúng thỏa thuê ơn phúc…
Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi !
(Tv 104,
24-28.35)
Trong đêm Vọng Phục sinh,
Hội thánh ca ngợi Chúa v́ công tŕnh vĩ đại hơn nữa của ơn cứu độ nhân
loại và vũ trụ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
Chúa luôn hoạt động với sự khôn ngoan tuyệt
vời,
Chúa ban cho loài người mà Chúa đă cứu chuộc
để hiểu hy tế của Đức Kitô, Chiên lễ Vượt qua của
chúng con,
là một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn cả công tŕnh
sáng tạo vào lúc khởi đầu vũ trụ.
Thánh Kinh của Souvigny, Những mẫu ảnh nhỏ về những Ngày Tạo dựng,
Moulins, Thư viện thành phố.
1. Ư định của Thiên Chúa
dành cho con người là ǵ ?
1-25
Thiên Chúa tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ư định
nhân hậu, Ngài đă tự ư tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự
sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian đến hồi viên măn, Thiên Chúa Cha đă
cử Con Ngài đến làm Đấng Cứu Thế chuộc tội cho nhân loại đă sa ngă trong
tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội thánh Ngài, và nhờ tác động của Chúa
Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử, và được thừa hưởng hạnh phúc vĩnh
cửu của Ngài.
CHƯƠNG MỘT
CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN
CHÚA
“Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và đáng ca tụng. . . . Chúa đă dựng nên chúng
con cho Chúa, và tâm hồn của chúng con luôn xao xuyến cho đến khi được yên
nghỉ trong Chúa” (Thánh Augustinô).
2. Tại sao con người khát
khao Thiên Chúa ?
27-30
44-45
Khi tạo dựng con người theo h́nh ảnh ḿnh, chính Thiên Chúa đă khắc ghi
vào trong tâm hồn họ sự khát khao nh́n thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra
sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo họ đến với ḿnh, v́
chỉ nơi Thiên Chúa, họ mới sống và t́m được chân lư và hạnh phúc viên măn
mà họ luôn t́m kiếm. V́ vậy, tự bản chất và do ơn gọi của ḿnh, con người
là một hữu thể tôn giáo, có khả năng bước vào sự hiệp thông với Thiên
Chúa. Dây liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa đem lại cho
con người phẩm giá căn bản của ḿnh.
3. Với ánh sáng tự nhiên của
lư trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa không ?
31-36
46-47
Khởi từ công tŕnh tạo dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người,
con người có thể chỉ dùng lư trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên
Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, là sự thiện hảo tuyệt vời, là
chân lư và vẻ đẹp vô cùng vô tận.
4.
Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người có đủ khả năng để
nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không ?
37-38
Chỉ với ánh sáng của lư trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong
việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự ḿnh, con người không thể nào bước
vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. V́ thế, con người cần được Mạc khải
của Thiên Chúa soi dẫn, không những về những ǵ vượt quá sự hiểu biết nhân
loại, mà cả về những chân lư tôn giáo và luân lư, tự chúng vốn không vượt
quá khả năng của lư trí, để mọi người trong t́nh trạng hiện thời của nhân
loại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn và không sai lầm.
5. Chúng ta có thể nói về
Thiên Chúa thế nào ?
39-43
48-49
Chúng ta có thể nói về
Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con
người và của những thụ tạo khác, đó là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự
hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh
luyện ngôn ngữ của chúng ta v́ nó bất toàn và bị lệ thuộc vào h́nh ảnh,
phải ư thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô
tận của Thiên Chúa.
CHƯƠNG HAI
THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI
Mạc khải của Thiên Chúa
6. Thiên Chúa mạc khải cho
con người điều ǵ ?
50-53
68-69
Với ḷng nhân hậu và sự
khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính ḿnh cho con người. Qua các hành
động và lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ư định của
ḷng nhân hậu, mà Ngài đă hoạch định tự muôn đời trong Đức Kitô. Ư định
này nhằm đón nhận tất cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy
nhất của Ngài nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự
sống của Thiên Chúa.
7. Những giai đoạn đầu tiên
của Mạc khải là ǵ ?
54-58
70-71
Từ nguyên thủy, Thiên
Chúa tỏ ḿnh ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời
gọi họ bước vào sự hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngă, Ngài
đă không chấm dứt việc Mạc khải, nhưng đă hứa ban ơn cứu độ cho tất cả
miêu duệ của họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đă kư kết với ông Noe một
Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh linh.
8. Những giai đoạn tiếp theo
của Mạc khải của Thiên Chúa là ǵ ?
59-64
72
Thiên Chúa chọn ông
Abraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô
số dân tộc” (St 17,5) và hứa qua ông sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên
mặt đất” (St 12,3). Con cháu của ông Abraham là những kẻ thừa hưởng các
lời Thiên Chúa đă hứa với tổ phụ họ. Thiên Chúa đă lập Israel làm dân Ngài
tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, kư kết với họ Giao ước
Sinai và, qua ông Môsê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đă
loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa cũng là ơn cứu độ dành
cho tất cả mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Chúa Giêsu,
Đấng Mêsia, đă được sinh ra từ dân Israel, và từ ḍng dơi Vua Đavít.
9. Giai đoạn Mạc khải trọn
vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa là ǵ ?
65-66
73
Giai đoạn Mạc khải trọn
vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là
Đức Giêsu Kitô, Đấng là trung gian và là viên măn của Mạc khải. Chúa
Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa, đă làm người, là Lời hoàn hảo và dứt
khoát của Chúa Cha. Mạc khải đă được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên
Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội thánh
phải dần dần trải qua bao thế kỷ mới nhận biết ư nghĩa đầy đủ của Mạc
khải.
“Từ
khi Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt
khoát của Ngài, Thiên Chúa đă nói với chúng ta một lần duy nhất trong Lời
này và Ngài không c̣n ǵ để nói thêm nữa” (Thánh Gioan Thánh Giá).
10. Các mạc khải tư có gía trị
ǵ ?
67
Mặc dầu các mạc khải tư
không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng chúng có thể giúp chúng ta sống đức
tin, với điều kiện chúng có một liên hệ chặt chẽ với Đức Kitô. Huấn quyền
Hội thánh, có thẩm quyền để phân định các mạc khải tư đó, không thể chấp
nhận những mạc khải tư nào vượt qua hay muốn sửa đổi Mạc khải dứt khoát là
chính Đức Kitô.
Lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa
11. Tại sao phải lưu truyền Mạc
khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào ?
74
Thiên Chúa “muốn cho
mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1 Tm 2,4), nghĩa là nhận biết
Đức Giêsu Kitô. V́ thế, phải rao giảng Đức Kitô cho mọi người, như chính
lời Người dạy : “Hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).
Điều này đă được thực hiện bởi Truyền thống các Tông đồ, gọi tắt là Truyền
thống tông đồ.
12.
Truyền thống tông đồ là ǵ ?
75-79
83
96, 98
Truyền thống tông đồ
là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Kitô, đă được thực hiện ngay từ lúc
khởi đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự,
và các sách được linh ứng. Các Tông đồ đă chuyển đạt mọi điều các ngài đă
lănh nhận từ Đức Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế
nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua họ, cho mọi thế hệ đến tận thế.
13.
Truyền thống tông đồ được thực hiện như thế nào ?
76
Tông truyền được thực
hiện bằng hai cách : qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách
đơn sơ là Thánh truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng
ơn cứu độ được ghi lại thành chữ viết.
14.
Tương quan giữa Thánh truyền và Thánh Kinh như thế nào ?
80-82
97
Thánh truyền và Thánh
Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu
nhiệm Đức Kitô được hiện diện và sung măn trong Hội thánh và cả hai cùng
xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức
tin duy nhất, nơi Hội thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những
chân lư được mạc khải.
15.
Kho tàng đức tin đă được ủy thác cho ai ?
84, 91
94, 99
Từ thời các thánh Tông
đồ, kho tàng đức tin đă được ủy thác cho toàn thể Hội thánh. Nhờ Chúa
Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của
đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận Mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi
ngày một sâu xa hơn, và cố gắng sống Mạc khải đó.
16.
Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin ?
85-90
100
Chỉ có Huấn quyền sinh
động của Hội thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm Giám mục Rôma và
các Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng
đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng về
chân lư, có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức
tŕnh bày các chân lư chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền
này cũng áp dụng trên các chân lư có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.
17. Đâu là mối tương quan giữa
Thánh truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền ?
95
Thánh Kinh, Thánh
Truyền và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không
hiện hữu nếu không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa
Thánh Thần, cả ba góp phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi
thực thể theo cách thức riêng của ḿnh.
Thánh Kinh
18. Tại sao Thánh Kinh lại có
thể dạy chân lư ?
105-108
135-136
Bởi v́ chính Thiên Chúa
là tác giả của Thánh Kinh. Thánh Kinh là quyển sách được linh ứng và dạy
dỗ cách không sai lạc những chân lư cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật
vậy, Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra
những điều Thiên Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo
không phải là một “tôn giáo của sách vở”, nhưng là của Lời Thiên Chúa,
“không là một ngôn từ được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể
và sống động” (thánh Bênađô Clairvaux).
19. Chúng ta phải đọc Thánh Kinh
như thế nào ?
109-119
137
Thánh Kinh phải được
đọc và giải thích dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và phải theo sự
hướng dẫn của Huấn quyền Hội thánh, theo ba tiêu chuẩn : (1) phải chú ư
đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh
Kinh trong Thánh truyền sống động của Hội thánh; (3) phải chú ư đến tính
tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài ḥa giữa các chân lư
đức tin với nhau.
20. Quy điển (Canon) của các
Sách Thánh là ǵ ?
120, 138
Quy điển các
Sách Thánh là danh mục đầy đủ về các Sách Thánh, mà Tông truyền đă phân
định rơ ràng cho Hội thánh. Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác
phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác phẩm Tân Ước.
21. Đâu là tầm quan trọng của
Cựu Ước đối với các người Kitô hữu ?
121-123
Người Kitô hữu tôn kính
Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu
Ước được Thiên Chúa linh ứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước là
bằng chứng cho thấy nghệ thuật giáo dục bằng t́nh yêu cứu độ của Thiên
Chúa. Và nhất là, các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc
Đức Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài, ngự đến.
22. Đâu là tầm quan trọng của
Tân Ước đối với các người Kitô hữu ?
124-127
139
Trung tâm của Tân Ước
là Đức Giêsu Kitô. Tân Ước dạy chúng ta chân lư dứt khoát được Thiên Chúa
mạc khải. Trong Tân Ước, bốn quyển Phúc Âm – Matthêu, Marcô, Luca và Gioan
– là những chứng từ chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa
Giêsu; bốn quyển sách này tạo thành trung tâm của tất cả Sách Thánh và có
một vị trí độc nhất trong Hội thánh.
23. Đâu là sự thống nhất giữa
Cựu Ước và Tân Ước ?
128-130
140
Thánh Kinh chỉ là một,
v́ chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương tŕnh cứu độ duy nhất của
Thiên Chúa và một linh ứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân
Ước. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước : cả hai
soi sáng cho nhau.
24. Thánh Kinh giữ vai tṛ nào
trong đời sống Hội thánh ?
131-133
141-142
Thánh Kinh đem lại sự
hỗ trợ và sức mạnh cho đời sống Hội thánh. Đối với con cái Hội thánh,
Thánh Kinh là sự củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống
tinh thần. Thánh Kinh là linh hồn của các môn thần học và giảng thuyết mục
vụ. Thánh Vịnh gọi Thánh Kinh là “đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ
đường con đi” (Tv 118 [119],105). V́ thế, Hội thánh khuyến khích chúng ta
thường xuyên đọc Thánh Kinh, v́ “không biết Thánh Kinh là không biết Đức
Kitô” (thánh Giêrônimô).
CHƯƠNG BA
LỜI ĐÁP TRẢ CỦA CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA
Tôi Tin
25. Con người đáp trả như thế
nào với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải ?
142-143
Được ân sủng của Thiên
Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin,
bao gồm việc tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lư của
Ngài, chân lư được Thiên Chúa bảo đảm v́ chính Ngài là Chân Lư.
26. Trong Thánh Kinh, ai là
những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức tin ?
144-149
Có rất nhiều chứng
nhân, nhưng đặc biệt là hai vị :
- Ông Abraham, dù bị
thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng phục tiếng
gọi của Ngài; v́ thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm
4,11.18);
- Đức Trinh Nữ Maria,
trong suốt cuộc đời đă thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin :
“Fiat mihi secundum verbum tuum – xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần
nói” (Lc 1,38).
27. Tin vào Thiên Chúa có ư
nghĩa cụ thể ǵ cho con người ?
150-152
176-178
Tin vào Thiên Chúa có
nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài
và chấp nhận tất cả những chân lư do Ngài mạc khải v́ Ngài chính là Chân
lư. Điều này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị :
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
28. Đức tin có những đặc điểm ǵ
?
153-165
179-180
183-184
Đức tin là một hồng
ân nhưng không của Thiên Chúa, được trao ban cho tất cả những
ai cầu xin với ḷng khiêm hạ; đó là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được
cứu độ. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là
một hành động của lư trí con người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự
do gắn bó với chân lư của Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin c̣n có đặc tính
chắc chắn, v́ được đặt nền tảng trên Lời Chúa; đức tin có đặc tính
năng động “nhờ Đức ái” (Gl 5,6); đức tin luôn tăng triển, đặc
biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Trong hiện tại, đức tin cho
chúng ta nếm trước niềm vui trên trời.
29. Tại sao không có mâu thuẫn
giữa đức tin và khoa học ?
159
Dù đức tin vượt lên
trên lư trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, v́
cả hai đều có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh
sáng lư trí và đức tin cho con người.
“Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin” (Thánh Augustinô).
Chúng Tôi Tin
30. Tại sao đức tin là một hành
vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính giáo hội ?
166-169
181
Đức tin là một hành vi
cá nhân, v́ đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Đấng
tự mạc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội,
tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng đức tin : “Chúng tôi tin.”
Thật vậy, chính Hội thánh tin : qua đó, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần,
Hội thánh đi bước trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. V́
thế, Hội thánh là Mẹ và là Thầy.
“Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội thánh là
Mẹ.” (Thánh Cyrianô)
31. Tại sao những công thức đức
tin lại quan trọng ?
170-171
Những công thức đức tin
là quan trọng v́ chúng giúp ta diễn tả, đồng hóa, cử hành và cùng chia sẻ
với những người khác các chân lư đức tin, khi sử dụng một ngôn ngữ chung.
32. Phải hiểu như thế nào về đức
tin duy nhất của Hội thánh ?
172-175
182
Dù được h́nh thành do
nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, Hội thánh đồng
thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lănh nhận từ một Chúa duy nhất
và được chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội thánh tuyên
xưng một Thiên Chúa duy nhất –Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – và
dạy một con đường cứu độ duy nhất. V́ thế, chúng ta, cùng một ḷng một ư,
tin những ǵ chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra và
được Hội thánh xác định là do Thiên Chúa mạc khải.
ĐOẠN THỨ HAI
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KITÔ GIÁO
Bức tranh ghép đá cổ xưa, trong đại thánh đường
Rôma cổ mang tên thánh Clêmentê, tôn vinh vinh quang thập giá, mầu nhiệm
trung tâm của đức tin Kitô giáo. Chúng ta có thể thấy hoa rực rỡ quanh gốc
cây ô-rô, từ gốc cây này mọc lên rất nhiều cành lá uốn lượn theo mọi
hướng, cùng với hoa và quả của chúng. Sức sống của cây này xuất phát từ
thánh giá Chúa Giêsu, mà Hy tế của Người làm nên cuộc tái sáng tạo con
người và vũ trụ. Chúa Giêsu là Ađam mới, Đấng nhờ mầu nhiệm khổ nạn, cái
chết và sự Phục sinh, làm cho nhân loại được nở hoa, khi Người giao ḥa
nhân loại này lại với Chúa Cha.
Chung quanh Đức Kitô đau khổ có mười hai con bồ câu trắng, chỉ mười hai
vị Tông đồ. Dưới chân thánh giá, có Đức Maria và người môn đệ được thương
mến : “Khi thấy thân mẫu và môn đệ ḿnh thương mến đứng bên cạnh, Chúa
Giêsu nói với thân mẫu rằng : ‘Thưa Bà, đây là con của bà.’ Rồi Người nói
với môn đệ : ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về
nhà ḿnh” (Ga 29,26-27).
Trên cao, xuất hiện bàn tay của Chúa Cha, trao ṿng vinh quang cho Con
ḿnh, Đấng chiến thắng sự chết nhờ mầu nhiệm Vượt qua của Người.
Ở dưới gốc cây, một con nai con chiến đấu với con rắn của sự dữ. Cây
này tượng trưng cho cây cứu độ, sản sinh ra một ḍng suối từ đó nước tuôn
tràn, đem lại sức sống cho bốn con suối nhỏ biểu trưng cho bốn sách Phúc
Âm, mà các tín hữu kín múc để uống, như những con nai uống suối nước hằng
sống. Ở đây, Hội thánh được tŕnh bày như một vườn thiên quốc được Chúa
Giêsu làm cho sinh động, Người chính thực là cây sự sống.
Đại thánh đường Thánh Clêmentê, Rôma, Tranh ghép đá ở tiền đ́nh,
thế kỷ XII, (chi tiết : Thập giá, cây sự sống). Được phục chế với
phép của các cha ḍng Đaminh Ai-len
KINH TIN KÍNH
Kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ
Tôi tin kính Đức Chúa Trời
là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.
Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô
là Con Một Đức Chúa Cha
cùng là Chúa chúng tôi.
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần
mà Người xuống thai,
sinh bởi bà Maria đồng trinh,
chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đinh trên cây thánh giá,
chết và táng xác,
xuống ngục tổ tông,
ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng,
ngày sau bởi trời lại xuống
phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.
Tôi tin có Hội thánh hằng có ở khắp thế này,
các Thánh thông công.
Tôi tin phép tha tội.
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
Tôi tin hằng sống vậy. Amen.
Kinh Tin Kính Nicea-Constantinopoli
Tôi tin kính một Thiên Chúa
là Cha toàn năng,
Đấng tạo thành trời đất,
muôn vật hữu h́nh và vô h́nh.
Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô,
Con Một Thiên Chúa,
sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa,
Ánh sáng bởi Ánh sáng,
Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,
được sinh ra mà không phải được tạo thành,
đồng bản thể với Đức Chúa Cha :
nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.
V́ loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta,
Người đă từ trời xuống thế.
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần,
Người đă nhập thể trong ḷng Trinh Nữ Maria
và đă làm người.
Người chịu đóng đinh vào thập giá v́ chúng ta,
thời quan Phongxiô Philatô;
Người chịu khổ h́nh và mai táng,
ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.
Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha,
và Người sẽ lại đến trong vinh quang
để phán xét kẻ sống và kẻ chết,
Nước Người sẽ không bao giờ cùng.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần
là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống,
Người bởi Đức Chúa Cha
và Đức Chúa Con mà ra.
Người được phụng thờ và tôn vinh
cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con :
Người đă dùng các tiên tri mà phán dạy.
Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện,
công giáo và tông truyền.
Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội.
Tôi trông đợi kẻ chết sống lại
và sự sống đời sau. Amen.
CHƯƠNG MỘT
TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA
Những bản tuyên xưng đức tin
33. Những bản tuyên xưng đức tin
là ǵ ?
185-188
192, 197
Đó là những công thức
ngắn gọn, c̣n được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin
Kính,” qua đó Hội thánh, ngay từ thuở ban đầu, đă diễn tả đức tin của ḿnh
một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và
chung cho mọi tín hữu.
34. Những bản tuyên xưng đức tin
cổ nhất là những bản nào ?
189-191
Những bản tuyên xưng
đức tin cổ xưa nhất là những Kinh Tin Kính khi cử hành Bí tích Rửa tội.
V́ Bí tích Rửa tội được ban “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt
28,19), nên các chân lư đức tin mà các người lănh nhận Bí tích Rửa tội
tuyên xưng, được phân chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.
35. Những bản tuyên xưng đức tin
quan trọng nhất là những bản nào ?
193-195
Những bản quan trọng
nhất là :
- Kinh Tin Kính của các
Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa nhất dùng khi cử hành Bí
tích Rửa tội của Giáo hội Rôma;
- Kinh Tin Kính Công Đồng
Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công Đồng Chung đầu tiên, tại
Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).
Hai bản này vẫn c̣n là
hai bản chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Đông phương và Tây phương.
“TÔI TIN
KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG,
DỰNG NÊN
TRỜI ĐẤT”
36. Tại sao bản tuyên xưng đức
tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời” ?
198-199
Bởi v́ xác quyết “Tôi
tin kính Đức ChúaTrời” là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc
của mọi chân lư khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của
những ai tin Thiên Chúa.
37. Tại sao chúng ta tuyên xưng
một Thiên Chúa duy nhất ?
200-202
228
Bởi v́ Thiên Chúa đă
mạc khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài
nói : “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa
duy nhất” (Đnl 6,4). “Ta là Th