TỰ SẮC
ĐỂ CHẤP
THUẬN VÀ CÔNG BỐ
BẢN “TOÁT YẾU GIÁO LƯ”
CỦA HỘI
THÁNH CÔNG GIÁO
Kính gởi CHƯ HUYNH đáng
kính,
Quư HỒNG Y, THƯỢNG PHỤ,
TỔNG GIÁM MỤC, GIÁM MỤC
LINH MỤC, PHÓ TẾ VÀ MỌI
THÀNH PHẦN DÂN CHÚA
Cách đây hai
mươi năm, sách GIÁO LƯ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO đă bắt đầu được soạn thảo,
theo yêu cầu Khoá họp bất thường của Thượng Hội đồng Giám mục nhân dịp kỷ
niệm hai mươi năm ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II.
Tôi
vô cùng cảm tạ Thiên Chúa, v́ Ngài đă ban cho Hội thánh sách Giáo lư
này; sách này đă được công bố vào năm 1992 do vị tiền nhiệm kính yêu của
Tôi, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Giá
trị lớn lao và vẻ đẹp của quà tặng này đă được hàng Giám mục xác nhận qua
việc các ngài đón nhận một cách tích cực và rộng răi. Sách Giáo lư ấy nhắm
trao vào tay các vị Giám mục như bản qui chiếu chắc chắn và đích thực để
giảng dạy giáo lư công giáo và đặc biệt để soạn thảo các sách giáo lư địa
phương. Sách Giáo lư cũng được mọi thành phần Dân Chúa đón nhận cách thuận
lợi đáng kinh ngạc. Sách này cho đến nay đă được dịch ra hơn năm mươi thứ
tiếng.
Giờ
đây, với niềm vui lớn lao, Tôi chấp thuận và công bố bản Toát yếu Giáo
lư này.
Vào
tháng 10 năm 2002, các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế về Giáo lư đă nói
lên một yêu cầu phổ biến trong Hội thánh là ước mong có được bản Toát
yếu sách giáo lư. Vị Tiền nhiệm kính yêu của Tôi đă đón nhận ước muốn
này và vào tháng 02 năm 2003 đă quyết định bắt đầu thực hiện. Ngài trao
việc soạn thảo cho một Uỷ ban Hồng y, do chính Tôi làm chủ tịch, với sự
cộng tác của nhiều chuyên viên. Trong quá tŕnh làm việc, một dự thảo bản
Toát yếu này được chuyển đến các Hồng y và những vị Chủ tịch các
Hội đồng Giám mục. Bản dự thảo này được một số rất đông đón nhận và đánh
giá cao.
Toát yếu mà hôm nay Tôi giới thiệu cho Hội thánh phổ quát là một tổng
hợp trung thành và chắc chắn sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo.
Bản toát yếu này chứa đựng cách ngắn gọn mọi yếu tố căn bản và nền tảng
của đức tin Hội thánh, tạo thành một thứ thủ bản “cầm tay – Vademecum”
như vị Tiền nhiệm của Tôi ước muốn, cho phép mọi người, dù tin hay không,
có thể có được một cái nh́n toàn diện về đức tin công giáo.
Bản
Toát yếu này phản ánh cách trung thành sách Giáo lư của Hội
thánh Công giáo ngay trong cấu trúc, nội dung lẫn ngôn ngữ; hy vọng
nhờ sự hỗ trợ và động viên của bản Toát yếu này, sách Giáo lư
của Hội thánh Công giáo được biết đến cách rộng răi hơn và được đào
sâu nhiều hơn.
Với sự tin
tưởng, Tôi trao bản Toát yếu này trước tiên cho toàn Hội thánh và
đặc biệt cho từng người Kitô hữu, để vào thiên niên kỷ thứ ba này, mỗi
người nhờ vào bản Toát yếu, có được một sức bật mới trong cố gắng
Phúc Âm hoá và giáo dục đức tin. Đây phải là đặc điểm của tất cả các cộng
đoàn trong Hội thánh và của tất cả những ai tin vào Đức Kitô, bất luận
tuổi tác hay thuộc quốc gia nào.
Nhờ tính chất ngắn gọn, trong sáng và đầy đủ, bản Toát yếu này
cũng nhắm đến mọi người, đang sống trong một thế giới phân tán và có quá
nhiều sứ điệp, khao khát biết được con Đường Sự sống, Chân lư, đă được
Thiên Chúa trao phó cho Hội thánh của Con ḿnh.
Khi đọc bản Toát yếu có thẩm quyền này, nhờ sự cầu bầu của Đức
Trinh Nữ Maria rất thánh, Mẹ Đức Kitô và là Mẹ Hội thánh, mỗi người có thể
nhận ra và đón nhận ngày một hơn vẻ đẹp, sự thống nhất và tính hiện thực
bất tận của món quà vô giá mà Thiên Chúa đă ban tặng cho nhân loại : đó là
Con Duy Nhất của Ngài, Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Đường, là Sự thật và là Sự
sống” (Ga 14,6).
Ban hành tại Rôma,
gần Đền thờ thánh Phêrô, ngày 28 tháng 06 năm 2005,
Áp Đại lễ kính hai
thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô,
Năm thứ nhất triều
đại Giáo hoàng của Tôi
BENEDICTUS PP XVI
Bức tranh Đức Kitô PANTOCRATOR (Chủ tể muôn loài), có một vẻ đẹp mỹ thuật
đặc biệt, gợi nhớ lời Thánh vịnh : “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ,
ân sủng được tuôn đổ trên môi ngài”(Tv 44 [45], 3). Áp dụng lời ca ngợi
này vào Chúa Giêsu, thánh Gioan Kim Khẩu viết : “Đức Kitô ở vào tuổi tuyệt
vời, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; nơi Người chiếu tỏa một nét đẹp
trên cả hai b́nh diện, nét đẹp của tâm hồn và nét đẹp của thể xác” (Giáo
phụ Hy Lạp [PG] 52,479).
Bằng ngôn ngữ tượng h́nh, bức tranh này là một tổng hợp các Công đồng
chung đầu tiên, không những tŕnh bày vẻ huy hoàng của nhân tính, nhưng cả
vinh quang của thần tính Chúa Giêsu.
Đức Kitô mặc một áo dài đỏ, bên ngoài là một áo choàng xanh đậm. Hai màu
sắc này nhắc nhớ đến hai bản tính của Người, trong khi các phản chiếu ánh
vàng gợi lên ngôi vị thần linh của Ngôi Lời. Từ vai phải có một dây các
phép nạm vàng sa xuống, biểu trưng chức tư tế vĩnh cửu của Người. Gương
mặt Người, uy nghi và trang trọng, được bao bọc bằng bộ tóc dày trên nền
một hào quang ở giữa có h́nh thánh giá. Trên h́nh thánh giá có ba mẫu tự
O?N (Người là Đấng Hiện Hữu) lấy lại mạc khải danh Thiên Chúa trong sách
Xuất Hành 14,3. Trên cao, ở viền bức tranh có hai cặp mẫu tự “IC – XC”
(“Jesus” – “Christus”) tạo thành tựa đề cho bức ảnh.
Bàn tay mặt, ngón cái và ngón đeo nhẫn gấp lại gần như đụng nhau
(để chỉ hai bản tính của Đức Kitô trong sự hợp nhất của ngôi vị), được
tŕnh bày với cử chỉ đặc trưng của việc ban phúc lành. Ngược lại, bàn tay
trái, siết chặt quyển Tin Mừng; quyển sách này có ba ổ khóa, nhiều viên
ngọc trai và đá quí. Quyển Tin Mừng, biểu trưng và tổng hợp Lời Chúa, cũng
có một ư nghĩa Phụng vụ v́ trong mỗi Thánh lễ chúng ta đều đọc một đoạn và
khi truyền phép chúng ta đọc lại lời của chính Chúa Giêsu.
Bức tranh này liên kết
một cách thành công những yếu tố tự nhiên và biểu trưng, mời gọi chúng ta
suy niệm và bước theo Chúa Giêsu. Ngày hôm nay, thông qua Hội thánh là Hôn
thê và là Thân thể nhiệm mầu của Người, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chúc lành
cho nhân loại và soi sáng nhân loại bằng Tin Mừng của Người, đó thực sự là
cuốn sách của chân lư, của hạnh phúc và của ơn cứu độ con người.
Vào tháng 08 năm 386, khi đang ở trong vườn, thánh Augustinô nghe một
tiếng nói với ngài : “Hăy cầm lấy và đọc, hăy cầm lấy và đọc” (Tự thuật
8,12,29). Bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo là một tổng
hợp Tin Mừng của Chúa Giêsu được huấn giáo của Hội thánh dạy dỗ; đó là một
lời mời để mở quyển sách chân lư và đọc, và có thể là “ nuốt đi” như lời
ngôn sứ Êdêkien (x. Ed 3,1-4).
THÉOPHANE DE CRÈTE (1546),
Bức tranh về Đức Kitô, Tu viện Stavronikita, núi Athos.
DẪN NHẬP
1.
Ngày 11 tháng 10 năm 1992, Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II trao cho các tín
hữu trên toàn thế giới sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, như
một “bản văn qui chiếu” [1] cho Giáo lư được canh tân từ nguồn gốc sống
động của đức tin. Ba mươi năm sau ngày khai mạc Công đồng Vaticanô II
(1962-1965) một ước mơ đă trở thành hiện thực, ước mơ này đă được Thượng
Hội đồng bất thường của các Giám mục vào năm 1985 đạo đạt lên, đó là ước
muốn có một sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo tŕnh bày tất cả đức tin
cũng như luân lư.
Năm năm sau, ngày 15 tháng 08 năm 1997, khi công bố Ấn bản mẫu của
sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, Đức Giáo hoàng xác nhận mục
đích cơ bản của tác phẩm này : “Đây là một tŕnh bày đầy đủ và trọn vẹn
giáo lư công giáo, cho phép mỗi người nhận ra điều Hội thánh tuyên xưng,
cử hành, sống và cầu nguyện trong cuộc sống hằng ngày của ḿnh” [2].
2.
Để làm nổi bật giá trị giáo lư và để đáp lại một yêu cầu do Đại hội Quốc
tế về Giáo lư đạo đạt vào năm 2002, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă
thành lập một Ủy ban đặc biệt vào năm 2003, đứng đầu là Đức Hồng y Joseph
Ratzinger, Bộ trưởng Bộ Giáo lư Đức tin, ủy thác cho ngài công tác viết
một bản Toát yếu sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo, trong
đó các nội dung đức tin được tŕnh bày một cách tổng hợp hơn. Sau hai năm
làm việc, Ủy ban viết được bản Dự thảo bản toát yếu; bản này được
trao cho các Hồng y và Chủ tịch các Hội đồng Giám mục để xin ư kiến. Một
số đông các phúc đáp đều đánh giá cao bản dự thảo này. V́ thế Ủy ban bắt
đầu cho duyệt lại bản dự thảo dựa theo các đề nghị chỉnh sửa để chuẩn bị
cho bản văn cuối cùng.
3.
Bản Toát yếu này có ba đặc điểm chính như sau : lệ thuộc chặt chẽ
vào sách Giáo lư của Hội thánh Công giáo; h́nh thức hỏi thưa; và
việc sử dụng các h́nh ảnh nghệ thuật vào trong Giáo lư.
Trước hết, bản Toát yếu này không phải là một tác phẩm hoàn toàn
độc lập và cũng không phải để thay thế cho sách Giáo lư của Hội thánh
Công giáo; ngược lại luôn qui hướng về sách Giáo lư, bằng cách
ghi những số liên hệ và theo sát cấu trúc, cách tŕnh bày và nội dung của
sách Giáo lư. Ngoài ra bản Toát yếu muốn khơi dậy mối quan
tâm và ḷng nhiệt thành đối với sách Giáo lư, sách vẫn luôn là bản
văn nền tảng cho giáo lư của Hội thánh ngày nay bởi cách tŕnh bày khôn
ngoan và chiều sâu thiêng liêng của nó.
Như sách Giáo lư, bản Toát yếu cũng chia ra làm bốn phần
tương ứng với những lề luật căn bản cho đời sống trong Đức Kitô.
Phần đầu tiên – có tựa đề “Tuyên xưng đức tin” – gồm một tổng hợp cơ bản
về Lex credendi, có nghĩa là Luật đức tin được Hội thánh Công giáo
tuyên xưng, một tổng hợp rút ra từ Kinh Tin Kính của các thánh Tông đồ,
được bổ túc bằng bản Kinh Tin Kính của hai Công đồng Nicea và
Constantinopoli, mà việc công bố liên tục trong những buổi họp mặt giúp
người Kitô hữu luôn nhớ các chân lư nền tảng của đức tin.
Phần thứ hai – có tựa đề “Cử hành mầu nhiệm Kitô giáo” – tŕnh bày các
yếu tố căn bản của Lex celebrandi. Việc rao giảng Tin Mừng t́m được
câu trả lời thích ứng trong đời sống Bí tích. Trong đời sống này, các tín
hữu có kinh nghiệm và làm chứng trong mỗi giây phút cuộc đời ḿnh hiệu
năng cứu độ của mầu nhiệm Vượt qua, trong đó Đức Kitô hoàn tất công tŕnh
cứu độ chúng ta.
Phần thứ ba – có tựa đề “Đời sống trong Đức Kitô” – nhắc nhớ lại Lex
vivendi, có nghĩa là sự dấn thân mà các tín hữu biểu lộ trong thái độ
và sự chọn lựa đạo đức của ḿnh, sự trung thành với đức tin đă được tuyên
xưng và được cử hành. Chúa Giêsu mời gọi các tín hữu thực hiện những hành
động phù hợp với phẩm giá là con của Chúa Cha trong t́nh yêu của Chúa
Thánh Thần.
Phần thứ tư – có tựa đề “Kinh nguyện Kitô giáo” - tŕnh bày một tổng hợp
về Lex Orandi, có nghĩa là về đời sống cầu nguyện. Theo gương Chúa
Giêsu, mẫu mực tuyệt vời cho kẻ cầu nguyện, người Kitô hữu được mời gọi
đối thoại với Thiên Chúa trong kinh nguyện, mà một trong những cách diễn
tả ưu thế nhất là Kinh Lạy Cha, đó là kinh do chính Chúa Giêsu dạy chúng
ta.
4.
Đặc điểm thứ hai của bản toát yếu này là h́nh thức đối thoại, lấy lại h́nh
thức cổ xưa của sách giáo lư, gồm các câu hỏi và câu thưa. Đây là cách đối
thoại giữa thầy và tṛ qua một loạt câu hỏi gây chú ư cho người đọc, mời
gọi họ khám phá những phương diện luôn luôn mới của chân lư đức tin của
ḿnh. H́nh thức hỏi thưa thu ngắn bản văn, đúc kết vào điểm chính yếu,
tiện cho việc học thuộc ḷng nội dung.
5.
Đặc điểm thứ ba là có nhiều h́nh ảnh làm nổi bật cách phân chia bản toát
yếu. Các tranh ảnh này được rút từ gia sản phong phú của nghệ thuật tranh
ảnh thánh của Kitô giáo. Từ truyền thống cả ngh́n năm của các Công đồng,
chúng ta học biết rằng tranh ảnh cũng là một cách rao giảng Tin Mừng. Các
nghệ nhân của mọi thời đại tŕnh bày cho các tín hữu chiêm ngắm và kinh
ngạc trước những sự kiện nổi bật của mầu nhiệm cứu độ với sự huy hoàng của
màu sắc và vẻ đẹp tuyệt vời. Đó là một dấu chỉ cho thấy tranh ảnh thánh,
trong văn hóa h́nh ảnh ngày nay, có thể diễn tả nhiều hơn là ngôn từ, v́
trong sự sinh động của nó, sứ điệp Tin Mừng sẽ có nhiều hiệu quả hơn khi
được diễn tả bằng ngôn từ và được tiếp tục truyền đạt.
6.
Bốn mươi năm sau ngày kết thúc Công đồng Vaticanô II và trong năm Thánh
Thể, bản Toát yếu có thể xem như là một công cụ mới để thỏa măn
khát vọng t́m kiếm chân lư của các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi và trong mọi
hoàn cảnh, cũng như ước muốn của những ai, dù chưa phải là tín hữu, đang
khao khát chân lư và công bằng. Việc công bố bản Toát yếu này được
diễn ra trong ngày Đại lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, cột trụ của
Hội thánh toàn cầu và là những người rao giảng gương mẫu Tin Mừng cho thế
giới trong thời đại của các ngài. Các vị Tông đồ này biết rơ điều các ngài
rao giảng và chứng minh cho chân lư Đức Kitô đến hy sinh mạng sống. Chúng
ta hăy bắt chước các ngài trong sự dấn thân truyền giáo và cầu xin Chúa
cho Hội thánh luôn dơi theo giáo huấn của các Tông đồ, nhờ các ngài mà Hội
thánh đă lănh nhận trước tiên lời tuyên xưng vinh phúc của đức tin.
Lễ
Lá, ngày 20 tháng 03 năm 2005
Hồng Y Joseph Ratzinger
Chủ tịch Ủy Ban đặc biệt
Chú thích
[1] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Fidei depositum, 11.10.1992, DC
91 (1993) trang 1.
[2] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Laetamur magnopere, 1508, 1997,
DC 94 (1997) trang 851.
Kiệt tác hoành tráng diễn tả việc các Đạo sĩ đến thờ lạy Chúa (x. Mt
2,1-12) tŕnh bày mạc khải của Chúa Giêsu cho muôn dân. Mầu nhiệm Nhập thể
là một hồng ân không những dành cho niềm tin của Đức Maria, của thánh
Giuse, của các người phụ nữ, của những mục đồng, những con người đơn sơ
của dân Israel, nhưng cũng cho niềm tin của những kẻ xa lạ đến từ phương
Đông, để thờ lạy Đấng Mêsia mới sinh và dâng lên Người các lễ vật : “Họ
vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp ḿnh bái lạy
Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt
2,11).
Các Đạo sĩ là những người đầu tiên của những dân tộc được mời gọi đến đức
tin; họ đến với Chúa Giêsu không phải với bàn tay không, nhưng với sự
phong phú của quê hương và văn hóa của họ.
Tin Mừng của Chúa Giêsu là lời cứu độ cho toàn thể nhân loại. Thánh Giáo
hoàng Lêô Cả đă nói : “Mọi dân tộc, được ba vị Đạo sĩ này đại diện, thờ
lạy Đấng Sáng Tạo vũ tru,ï và Thiên Chúa không những được rao giảng trong
vùng Giuđêa, nhưng trên toàn thế giới, để Danh Ngài thật vĩ đại trên toàn
Israel (x. Tv 75,2)” (Bài giảng thứ 3 ngày lễ Hiển linh).
Phần thứ nhất của bản Toát yếu tŕnh bày việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với
con người và là lời đáp trả đức tin mà Hội thánh, nhân danh toàn thể nhân
loại, dâng lên đáp lại hồng ân Nhập thể cứu độ của Con Thiên Chúa và cuộc
Mạc khải thần linh của Người.
Gentile da Fabriano (1423) , Các Đạo sĩ thờ lạy, Galleria degli
Uffizi, Florenz.
PHẦN I
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
ĐOẠN
THỨ NHẤT
“TÔI
TIN” – “CHÚNG TÔI TIN”
Bức ảnh nhỏ này tŕnh bày chu kỳ trọn vẹn của sáu
ngày sáng tạo cho đến lúc nguyên tổ của nhân loại bị cám dỗ (x. St 1-3).
Công tŕnh Ngài, lạy Chúa, quả thiên h́nh vạn
trạng !
Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan,
những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.
Này đại dương bát ngát mênh mông,
nơi muôn vàn sinh vật to lẫn nhỏ vẫy vùng,
nơi tàu bè cỡi sóng và thủy quái tung tăng,
là vật Chúa tạo thành để làm tṛ tiêu khiển.
Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa
đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn.
Ngài ban xuống, chúng lượm về,
Ngài mở tay, chúng thỏa thuê ơn phúc…
Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi !
(Tv 104,
24-28.35)
Trong đêm Vọng Phục sinh,
Hội thánh ca ngợi Chúa v́ công tŕnh vĩ đại hơn nữa của ơn cứu độ nhân
loại và vũ trụ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
Chúa luôn hoạt động với sự khôn ngoan tuyệt
vời,
Chúa ban cho loài người mà Chúa đă cứu chuộc
để hiểu hy tế của Đức Kitô, Chiên lễ Vượt qua của
chúng con,
là một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn cả công tŕnh
sáng tạo vào lúc khởi đầu vũ trụ.
Thánh Kinh của Souvigny, Những mẫu ảnh nhỏ về những Ngày Tạo dựng,
Moulins, Thư viện thành phố.
1. Ư định của Thiên Chúa
dành cho con người là ǵ ?
1-25
Thiên Chúa tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ư định
nhân hậu, Ngài đă tự ư tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự
sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian đến hồi viên măn, Thiên Chúa Cha đă
cử Con Ngài đến làm Đấng Cứu Thế chuộc tội cho nhân loại đă sa ngă trong
tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội thánh Ngài, và nhờ tác động của Chúa
Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử, và được thừa hưởng hạnh phúc vĩnh
cửu của Ngài.
CHƯƠNG MỘT
CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN
CHÚA
“Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và đáng ca tụng. . . . Chúa đă dựng nên chúng
con cho Chúa, và tâm hồn của chúng con luôn xao xuyến cho đến khi được yên
nghỉ trong Chúa” (Thánh Augustinô).
2. Tại sao con người khát
khao Thiên Chúa ?
27-30
44-45
Khi tạo dựng con người theo h́nh ảnh ḿnh, chính Thiên Chúa đă khắc ghi
vào trong tâm hồn họ sự khát khao nh́n thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra
sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo họ đến với ḿnh, v́
chỉ nơi Thiên Chúa, họ mới sống và t́m được chân lư và hạnh phúc viên măn
mà họ luôn t́m kiếm. V́ vậy, tự bản chất và do ơn gọi của ḿnh, con người
là một hữu thể tôn giáo, có khả năng bước vào sự hiệp thông với Thiên
Chúa. Dây liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa đem lại cho
con người phẩm giá căn bản của ḿnh.
3. Với ánh sáng tự nhiên của
lư trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa không ?
31-36
46-47
Khởi từ công tŕnh tạo dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người,
con người có thể chỉ dùng lư trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên
Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, là sự thiện hảo tuyệt vời, là
chân lư và vẻ đẹp vô cùng vô tận.
4.
Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lư trí, con người có đủ khả năng để
nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không ?
37-38
Chỉ với ánh sáng của lư trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong
việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự ḿnh, con người không thể nào bước
vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. V́ thế, con người cần được Mạc khải
của Thiên Chúa soi dẫn, không những về những ǵ vượt quá sự hiểu biết nhân
loại, mà cả về những chân lư tôn giáo và luân lư, tự chúng vốn không vượt
quá khả năng của lư trí, để mọi người trong t́nh trạng hiện thời của nhân
loại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn và không sai lầm.
5. Chúng ta có thể nói về
Thiên Chúa thế nào ?
39-43
48-49
Chúng ta có thể nói về
Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con
người và của những thụ tạo khác, đó là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự
hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh
luyện ngôn ngữ của chúng ta v́ nó bất toàn và bị lệ thuộc vào h́nh ảnh,
phải ư thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô
tận của Thiên Chúa.
CHƯƠNG HAI
THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI
Mạc khải của Thiên Chúa
6. Thiên Chúa mạc khải cho
con người điều ǵ ?
50-53
68-69
Với ḷng nhân hậu và sự
khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính ḿnh cho con người. Qua các hành
động và lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ư định của
ḷng nhân hậu, mà Ngài đă hoạch định tự muôn đời trong Đức Kitô. Ư định
này nhằm đón nhận tất cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy
nhất của Ngài nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự
sống của Thiên Chúa.
7. Những giai đoạn đầu tiên
của Mạc khải là ǵ ?
54-58
70-71
Từ nguyên thủy, Thiên
Chúa tỏ ḿnh ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời
gọi họ bước vào sự hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngă, Ngài
đă không chấm dứt việc Mạc khải, nhưng đă hứa ban ơn cứu độ cho tất cả
miêu duệ của họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đă kư kết với ông Noe một
Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh linh.
8. Những giai đoạn tiếp theo
của Mạc khải của Thiên Chúa là ǵ ?
59-64
72
Thiên Chúa chọn ông
Abraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô
số dân tộc” (St 17,5) và hứa qua ông sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên
mặt đất” (St 12,3). Con cháu của ông Abraham là những kẻ thừa hưởng các
lời Thiên Chúa đă hứa với tổ phụ họ. Thiên Chúa đă lập Israel làm dân Ngài
tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, kư kết với họ Giao ước
Sinai và, qua ông Môsê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đă
loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa cũng là ơn cứu độ dành
cho tất cả mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Chúa Giêsu,
Đấng Mêsia, đă được sinh ra từ dân Israel, và từ ḍng dơi Vua Đavít.
9. Giai đoạn Mạc khải trọn
vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa là ǵ ?
65-66
73
Giai đoạn Mạc khải trọn
vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là
Đức Giêsu Kitô, Đấng là trung gian và là viên măn của Mạc khải. Chúa
Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa, đă làm người, là Lời hoàn hảo và dứt
khoát của Chúa Cha. Mạc khải đă được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên
Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội thánh
phải dần dần trải qua bao thế kỷ mới nhận biết ư nghĩa đầy đủ của Mạc
khải.
“Từ
khi Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt
khoát của Ngài, Thiên Chúa đă nói với chúng ta một lần duy nhất trong Lời
này và Ngài không c̣n ǵ để nói thêm nữa” (Thánh Gioan Thánh Giá).
10. Các mạc khải tư có gía trị
ǵ ?
67
Mặc dầu các mạc khải tư
không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng chúng có thể giúp chúng ta sống đức
tin, với điều kiện chúng có một liên hệ chặt chẽ với Đức Kitô. Huấn quyền
Hội thánh, có thẩm quyền để phân định các mạc khải tư đó, không thể chấp
nhận những mạc khải tư nào vượt qua hay muốn sửa đổi Mạc khải dứt khoát là
chính Đức Kitô.
Lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa
11. Tại sao phải lưu truyền Mạc
khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào ?
74
Thiên Chúa “muốn cho
mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1 Tm 2,4), nghĩa là nhận biết
Đức Giêsu Kitô. V́ thế, phải rao giảng Đức Kitô cho mọi người, như chính
lời Người dạy : “Hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).
Điều này đă được thực hiện bởi Truyền thống các Tông đồ, gọi tắt là Truyền
thống tông đồ.
12.
Truyền thống tông đồ là ǵ ?
75-79
83
96, 98
Truyền thống tông đồ
là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Kitô, đă được thực hiện ngay từ lúc
khởi đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự,
và các sách được linh ứng. Các Tông đồ đă chuyển đạt mọi điều các ngài đă
lănh nhận từ Đức Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế
nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua họ, cho mọi thế hệ đến tận thế.
13.
Truyền thống tông đồ được thực hiện như thế nào ?
76
Tông truyền được thực
hiện bằng hai cách : qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách
đơn sơ là Thánh truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng
ơn cứu độ được ghi lại thành chữ viết.
14.
Tương quan giữa Thánh truyền và Thánh Kinh như thế nào ?
80-82
97
Thánh truyền và Thánh
Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu
nhiệm Đức Kitô được hiện diện và sung măn trong Hội thánh và cả hai cùng
xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức
tin duy nhất, nơi Hội thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những
chân lư được mạc khải.
15.
Kho tàng đức tin đă được ủy thác cho ai ?
84, 91
94, 99
Từ thời các thánh Tông
đồ, kho tàng đức tin đă được ủy thác cho toàn thể Hội thánh. Nhờ Chúa
Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của
đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận Mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi
ngày một sâu xa hơn, và cố gắng sống Mạc khải đó.
16.
Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin ?
85-90
100
Chỉ có Huấn quyền sinh
động của Hội thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm Giám mục Rôma và
các Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng
đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng về
chân lư, có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức
tŕnh bày các chân lư chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền
này cũng áp dụng trên các chân lư có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.
17. Đâu là mối tương quan giữa
Thánh truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền ?
95
Thánh Kinh, Thánh
Truyền và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không
hiện hữu nếu không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa
Thánh Thần, cả ba góp phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi
thực thể theo cách thức riêng của ḿnh.
Thánh Kinh
18. Tại sao Thánh Kinh lại có
thể dạy chân lư ?
105-108
135-136
Bởi v́ chính Thiên Chúa
là tác giả của Thánh Kinh. Thánh Kinh là quyển sách được linh ứng và dạy
dỗ cách không sai lạc những chân lư cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật
vậy, Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra
những điều Thiên Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo
không phải là một “tôn giáo của sách vở”, nhưng là của Lời Thiên Chúa,
“không là một ngôn từ được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể
và sống động” (thánh Bênađô Clairvaux).
19. Chúng ta phải đọc Thánh Kinh
như thế nào ?
109-119
137
Thánh Kinh phải được
đọc và giải thích dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và phải theo sự
hướng dẫn của Huấn quyền Hội thánh, theo ba tiêu chuẩn : (1) phải chú ư
đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh
Kinh trong Thánh truyền sống động của Hội thánh; (3) phải chú ư đến tính
tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài ḥa giữa các chân lư
đức tin với nhau.
20. Quy điển (Canon) của các
Sách Thánh là ǵ ?
120, 138
Quy điển các
Sách Thánh là danh mục đầy đủ về các Sách Thánh, mà Tông truyền đă phân
định rơ ràng cho Hội thánh. Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác
phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác phẩm Tân Ước.
21. Đâu là tầm quan trọng của
Cựu Ước đối với các người Kitô hữu ?
121-123
Người Kitô hữu tôn kính
Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu
Ước được Thiên Chúa linh ứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước là
bằng chứng cho thấy nghệ thuật giáo dục bằng t́nh yêu cứu độ của Thiên
Chúa. Và nhất là, các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc
Đức Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài, ngự đến.
22. Đâu là tầm quan trọng của
Tân Ước đối với các người Kitô hữu ?
124-127
139
Trung tâm của Tân Ước
là Đức Giêsu Kitô. Tân Ước dạy chúng ta chân lư dứt khoát được Thiên Chúa
mạc khải. Trong Tân Ước, bốn quyển Phúc Âm – Matthêu, Marcô, Luca và Gioan
– là những chứng từ chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa
Giêsu; bốn quyển sách này tạo thành trung tâm của tất cả Sách Thánh và có
một vị trí độc nhất trong Hội thánh.
23. Đâu là sự thống nhất giữa
Cựu Ước và Tân Ước ?
128-130
140
Thánh Kinh chỉ là một,
v́ chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương tŕnh cứu độ duy nhất của
Thiên Chúa và một linh ứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân
Ước. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước : cả hai
soi sáng cho nhau.
24. Thánh Kinh giữ vai tṛ nào
trong đời sống Hội thánh ?
131-133
141-142
Thánh Kinh đem lại sự
hỗ trợ và sức mạnh cho đời sống Hội thánh. Đối với con cái Hội thánh,
Thánh Kinh là sự củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống
tinh thần. Thánh Kinh là linh hồn của các môn thần học và giảng thuyết mục
vụ. Thánh Vịnh gọi Thánh Kinh là “đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ
đường con đi” (Tv 118 [119],105). V́ thế, Hội thánh khuyến khích chúng ta
thường xuyên đọc Thánh Kinh, v́ “không biết Thánh Kinh là không biết Đức
Kitô” (thánh Giêrônimô).
CHƯƠNG BA
LỜI ĐÁP TRẢ CỦA CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA
Tôi Tin
25. Con người đáp trả như thế
nào với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải ?
142-143
Được ân sủng của Thiên
Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin,
bao gồm việc tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lư của
Ngài, chân lư được Thiên Chúa bảo đảm v́ chính Ngài là Chân Lư.
26. Trong Thánh Kinh, ai là
những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức tin ?
144-149
Có rất nhiều chứng
nhân, nhưng đặc biệt là hai vị :
- Ông Abraham, dù bị
thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng phục tiếng
gọi của Ngài; v́ thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm
4,11.18);
- Đức Trinh Nữ Maria,
trong suốt cuộc đời đă thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin :
“Fiat mihi secundum verbum tuum – xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần
nói” (Lc 1,38).
27. Tin vào Thiên Chúa có ư
nghĩa cụ thể ǵ cho con người ?
150-152
176-178
Tin vào Thiên Chúa có
nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài
và chấp nhận tất cả những chân lư do Ngài mạc khải v́ Ngài chính là Chân
lư. Điều này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị :
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
28. Đức tin có những đặc điểm ǵ
?
153-165
179-180
183-184
Đức tin là một hồng
ân nhưng không của Thiên Chúa, được trao ban cho tất cả những
ai cầu xin với ḷng khiêm hạ; đó là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được
cứu độ. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là
một hành động của lư trí con người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự
do gắn bó với chân lư của Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin c̣n có đặc tính
chắc chắn, v́ được đặt nền tảng trên Lời Chúa; đức tin có đặc tính
năng động “nhờ Đức ái” (Gl 5,6); đức tin luôn tăng triển, đặc
biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Trong hiện tại, đức tin cho
chúng ta nếm trước niềm vui trên trời.
29. Tại sao không có mâu thuẫn
giữa đức tin và khoa học ?
159
Dù đức tin vượt lên
trên lư trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, v́
cả hai đều có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh
sáng lư trí và đức tin cho con người.
“Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin” (Thánh Augustinô).
Chúng Tôi Tin
30. Tại sao đức tin là một hành
vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính giáo hội ?
166-169
181
Đức tin là một hành vi
cá nhân, v́ đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Đấng
tự mạc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội,
tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng đức tin : “Chúng tôi tin.”
Thật vậy, chính Hội thánh tin : qua đó, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần,
Hội thánh đi bước trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. V́
thế, Hội thánh là Mẹ và là Thầy.
“Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội thánh là
Mẹ.” (Thánh Cyrianô)
31. Tại sao những công thức đức
tin lại quan trọng ?
170-171
Những công thức đức tin
là quan trọng v́ chúng giúp ta diễn tả, đồng hóa, cử hành và cùng chia sẻ
với những người khác các chân lư đức tin, khi sử dụng một ngôn ngữ chung.
32. Phải hiểu như thế nào về đức
tin duy nhất của Hội thánh ?
172-175
182
Dù được h́nh thành do
nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, Hội thánh đồng
thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lănh nhận từ một Chúa duy nhất
và được chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội thánh tuyên
xưng một Thiên Chúa duy nhất –Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – và
dạy một con đường cứu độ duy nhất. V́ thế, chúng ta, cùng một ḷng một ư,
tin những ǵ chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra và
được Hội thánh xác định là do Thiên Chúa mạc khải.
ĐOẠN THỨ HAI
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KITÔ GIÁO
Bức tranh ghép đá cổ xưa, trong đại thánh đường
Rôma cổ mang tên thánh Clêmentê, tôn vinh vinh quang thập giá, mầu nhiệm
trung tâm của đức tin Kitô giáo. Chúng ta có thể thấy hoa rực rỡ quanh gốc
cây ô-rô, từ gốc cây này mọc lên rất nhiều cành lá uốn lượn theo mọi
hướng, cùng với hoa và quả của chúng. Sức sống của cây này xuất phát từ
thánh giá Chúa Giêsu, mà Hy tế của Người làm nên cuộc tái sáng tạo con
người và vũ trụ. Chúa Giêsu là Ađam mới, Đấng nhờ mầu nhiệm khổ nạn, cái
chết và sự Phục sinh, làm cho nhân loại được nở hoa, khi Người giao ḥa
nhân loại này lại với Chúa Cha.
Chung quanh Đức Kitô đau khổ có mười hai con bồ câu trắng, chỉ mười hai
vị Tông đồ. Dưới chân thánh giá, có Đức Maria và người môn đệ được thương
mến : “Khi thấy thân mẫu và môn đệ ḿnh thương mến đứng bên cạnh, Chúa
Giêsu nói với thân mẫu rằng : ‘Thưa Bà, đây là con của bà.’ Rồi Người nói
với môn đệ : ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về
nhà ḿnh” (Ga 29,26-27).
Trên cao, xuất hiện bàn tay của Chúa Cha, trao ṿng vinh quang cho Con
ḿnh, Đấng chiến thắng sự chết nhờ mầu nhiệm Vượt qua của Người.
Ở dưới gốc cây, một con nai con chiến đấu với con rắn của sự dữ. Cây
này tượng trưng cho cây cứu độ, sản sinh ra một ḍng suối từ đó nước tuôn
tràn, đem lại sức sống cho bốn con suối nhỏ biểu trưng cho bốn sách Phúc
Âm, mà các tín hữu kín múc để uống, như những con nai uống suối nước hằng
sống. Ở đây, Hội thánh được tŕnh bày như một vườn thiên quốc được Chúa
Giêsu làm cho sinh động, Người chính thực là cây sự sống.
Đại thánh đường Thánh Clêmentê, Rôma, Tranh ghép đá ở tiền đ́nh,
thế kỷ XII, (chi tiết : Thập giá, cây sự sống). Được phục chế với
phép của các cha ḍng Đaminh Ai-len
KINH TIN KÍNH
Kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ
Tôi tin kính Đức Chúa Trời
là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.
Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô
là Con Một Đức Chúa Cha
cùng là Chúa chúng tôi.
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần
mà Người xuống thai,
sinh bởi bà Maria đồng trinh,
chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đinh trên cây thánh giá,
chết và táng xác,
xuống ngục tổ tông,
ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng,
ngày sau bởi trời lại xuống
phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.
Tôi tin có Hội thánh hằng có ở khắp thế này,
các Thánh thông công.
Tôi tin phép tha tội.
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
Tôi tin hằng sống vậy. Amen.
Kinh Tin Kính Nicea-Constantinopoli
Tôi tin kính một Thiên Chúa
là Cha toàn năng,
Đấng tạo thành trời đất,
muôn vật hữu h́nh và vô h́nh.
Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô,
Con Một Thiên Chúa,
sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa,
Ánh sáng bởi Ánh sáng,
Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,
được sinh ra mà không phải được tạo thành,
đồng bản thể với Đức Chúa Cha :
nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.
V́ loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta,
Người đă từ trời xuống thế.
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần,
Người đă nhập thể trong ḷng Trinh Nữ Maria
và đă làm người.
Người chịu đóng đinh vào thập giá v́ chúng ta,
thời quan Phongxiô Philatô;
Người chịu khổ h́nh và mai táng,
ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.
Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha,
và Người sẽ lại đến trong vinh quang
để phán xét kẻ sống và kẻ chết,
Nước Người sẽ không bao giờ cùng.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần
là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống,
Người bởi Đức Chúa Cha
và Đức Chúa Con mà ra.
Người được phụng thờ và tôn vinh
cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con :
Người đă dùng các tiên tri mà phán dạy.
Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện,
công giáo và tông truyền.
Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội.
Tôi trông đợi kẻ chết sống lại
và sự sống đời sau. Amen.
CHƯƠNG MỘT
TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA
Những bản tuyên xưng đức tin
33. Những bản tuyên xưng đức tin
là ǵ ?
185-188
192, 197
Đó là những công thức
ngắn gọn, c̣n được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin
Kính,” qua đó Hội thánh, ngay từ thuở ban đầu, đă diễn tả đức tin của ḿnh
một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và
chung cho mọi tín hữu.
34. Những bản tuyên xưng đức tin
cổ nhất là những bản nào ?
189-191
Những bản tuyên xưng
đức tin cổ xưa nhất là những Kinh Tin Kính khi cử hành Bí tích Rửa tội.
V́ Bí tích Rửa tội được ban “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt
28,19), nên các chân lư đức tin mà các người lănh nhận Bí tích Rửa tội
tuyên xưng, được phân chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.
35. Những bản tuyên xưng đức tin
quan trọng nhất là những bản nào ?
193-195
Những bản quan trọng
nhất là :
- Kinh Tin Kính của các
Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa nhất dùng khi cử hành Bí
tích Rửa tội của Giáo hội Rôma;
- Kinh Tin Kính Công Đồng
Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công Đồng Chung đầu tiên, tại
Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).
Hai bản này vẫn c̣n là
hai bản chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Đông phương và Tây phương.
“TÔI TIN
KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG,
DỰNG NÊN
TRỜI ĐẤT”
36. Tại sao bản tuyên xưng đức
tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời” ?
198-199
Bởi v́ xác quyết “Tôi
tin kính Đức ChúaTrời” là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc
của mọi chân lư khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của
những ai tin Thiên Chúa.
37. Tại sao chúng ta tuyên xưng
một Thiên Chúa duy nhất ?
200-202
228
Bởi v́ Thiên Chúa đă
mạc khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài
nói : “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa
duy nhất” (Đnl 6,4). “Ta là Thiên Chúa, chẳng c̣n chúa nào khác” (Is
45,22). Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận điều này : Thiên Chúa là “Đức Chúa
duy nhất” (Mc 12,29). Tuyên xưng Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần là Thiên
Chúa và là Đức Chúa, không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy
nhất.
38. Thiên Chúa tự mạc khải với
danh thánh nào ?
203-205
230-231
Thiên Chúa đă mạc khải
chính ḿnh cho Môsê là Thiên Chúa hằng sống, “Thiên Chúa của Ábraham,
Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6). Ngài cũng mạc khải
Danh Thánh huyền nhiệm của Ngài cho ông : “Ta là Đấng Hằng Hữu” (YHWH).
Ngay từ thời Cựu Ước, Danh Thánh của Thiên Chúa không được phép đọc lên,
nên phải thay thế bằng thuật ngữ Đức Chúa. Như vậy trong Tân Ước,
Chúa Giêsu được người ta gọi là Đức Chúa, tức là được nh́n nhận là
Thiên Chúa thật.
39. Có phải chỉ một ḿnh Thiên
Chúa “hiện hữu” không ?
212-213
Trong khi tất cả mọi
thụ tạo đều lănh nhận từ Thiên Chúa tất cả những ǵ chúng có và hiện hữu,
chỉ Thiên Chúa mới tự ḿnh hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài
là “Đấng hằng hữu,” không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa
Giêsu cũng mạc khải rằng Người mang Danh Thánh : “Ta là Đấng hằng hữu” (Ga
8,28).
40. Tại sao việc Mạc khải Danh
Thánh Thiên Chúa là điều quan trọng ?
206-213
Qua việc Mạc khải Danh
Thánh, Thiên Chúa cho thấy sự phong phú chất chứa trong mầu nhiệm khôn
lường của Ngài. Chỉ ḿnh Ngài hiện hữu từ muôn thuở và cho đến muôn đời.
Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài là Đấng tạo thành trời
đất. Ngài là Thiên Chúa trung tín, luôn gần gũi với dân để cứu độ họ. Ngài
là Đấng Thánh tuyệt hảo, “giàu ḷng nhân hậu” (Ep 2,4), luôn sẵn sàng tha
thứ. Ngài là Hữu Thể thiêng liêng, siêu việt, toàn năng, vĩnh cửu, ngôi
vị, trọn hảo. Ngài là chân lư và t́nh yêu.
“Thiên Chúa là Hữu Thể tuyệt hảo vô tận, là Ba Ngôi cực thánh.”
(thánh Turibius thành Montenegro)
41. Phải hiểu “Thiên Chúa là
chân lư” như thế nào ?
214-217
231
Thiên Chúa là chính
Chân lư; và do đó, Ngài không tự dối gạt ḿnh cũng không dối gạt ai. Ngài
là “Ánh sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5). Con
vĩnh cửu của Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đă được sai đi vào thế
gian “để làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37).
42. Thiên Chúa mạc khải Ngài là
T́nh Yêu như thế nào ?
218-221
Thiên Chúa tự mạc khải
cho dân Israel rằng Ngài là Đấng có một t́nh yêu mạnh mẽ hơn t́nh yêu của
cha mẹ đối với con cái hoặc của vợ chồng đối với nhau. Tự bản chất, Thiên
Chúa “là T́nh Yêu” (1 Ga 4, 8.16), Ngài tự hiến ban ḿnh cách trọn vẹn và
nhưng không, Ngài “yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, […] để nhờ Con
Ngài, mà thế gian được cứu độ” (Ga 3,16-17). Khi sai phái Con Ngài và Chúa
Thánh Thần, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài là sự trao đổi t́nh yêu vĩnh
cửu.
43. Niềm tin vào Thiên Chúa duy
nhất bao hàm những ǵ ?
222-227
229
Niềm tin vào Thiên Chúa
duy nhất bao hàm việc nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Ngài, sống
trong sự cảm tạ, luôn tin tưởng vào Ngài, cả khi gặp nghịch cảnh, nhận
biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người, đă được sáng tạo
theo h́nh ảnh Thiên Chúa, và sử dụng cách đúng đắn những ǵ Thiên Chúa đă
dựng nên.
44. Mầu nhiệm trung tâm của đức
tin và đời sống Kitô giáo là ǵ ?
232-237
Mầu nhiệm trung tâm của
đức tin và đời sống Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.
Các người Kitô hữu được Rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
45. Chỉ dùng lư trí, con người
có thể nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi hay không ?
237
Thiên Chúa đă để lại
những dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công tŕnh tạo dựng và
trong Cựu Ước, nhưng đời sống nội tại của Ba Ngôi chí thánh vẫn là một mầu
nhiệm mà lư trí thuần túy của con người không thể nào đạt đến được, và
ngay cả đức tin của Israel cũng không thể biết mầu nhiệm đó, trước thời
Con Thiên Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được gởi đến. Mầu nhiệm này đă
được Đức Giêsu Kitô mạc khải và là nguồn gốc của tất cả các mầu nhiệm
khác.
46. Chúa Giêsu đă mạc khải cho
chúng ta điều ǵ về mầu nhiệm Chúa Cha ?
240-242
Đức Giêsu Kitô mạc khải
cho chúng ta Thiên Chúa là “Cha”, không những v́ Ngài là Đấng sáng tạo vũ
trụ và con người, nhưng trên hết, từ đời đời Ngài đă sinh ra Chúa Con tự
ḷng ḿnh, Đấng là Ngôi Lời, là “phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung
thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3).
47. Chúa Thánh Thần, mà Chúa
Giêsu đă mạc khải cho chúng ta, là ai ?
243-248
Ngài là Ngôi thứ ba
trong Ba Ngôi cực thánh. Ngài là Thiên Chúa, hợp nhất và đồng hàng với
Chúa Cha và Chúa Con. Ngài “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), Đấng là
nguyên lư không có khởi đầu, là nguồn gốc trọn vẹn cuộc sống của Ba Ngôi
Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cũng xuất phát từ Chúa Con (Filioque),
v́ Chúa Cha đă trao ban Ngài cho Chúa Con như Ân ban vĩnh cửu. Được Chúa
Cha và Chúa Con nhập thể sai phái, Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội thánh đến
sự nhận biết “Chân lư trọn vẹn” (Ga 16,13).
48. Hội thánh diễn tả đức tin
vào Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào ?
249-256
266
Hội thánh diễn tả đức
tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi khi tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mà Ngài
có Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi vị thần linh chỉ là một Thiên
Chúa duy nhất, v́ mỗi Ngôi vị đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không
thể phân chia của Thiên Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt giữa nhau qua các
liên hệ tương quan với nhau. Chúa Cha sinh Chúa Con; Chúa Con được Chúa
Cha sinh ra; Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con.
49. Các Ngôi vị Thiên Chúa hoạt
động như thế nào ?
257-260
267
Ba Ngôi vị thần linh
không thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, th́ cũng không
thể tách rời trong các hoạt động của ḿnh. Ba Ngôi có cùng một hoạt động
duy nhất . Tuy nhiên, trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị
hiện diện theo cách đặc thù của ḿnh trong Ba Ngôi.
“Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Ba Ngôi con tôn thờ . . . xin ban b́nh an
cho linh hồn con, xin biến linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, nơi
trú ngụ dễ mến và nơi yên nghỉ của Chúa. Không bao giờ con muốn bỏ mặc
Chúa một ḿnh, nhưng con sẽ trọn vẹn ở đó, tỉnh thức trong đức tin, hoàn
toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác vào hoạt động sáng tạo của Chúa.”
(Chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi)
50. Thiên Chúa toàn năng nghĩa
là ǵ ?
268-278
Thiên Chúa tự mạc khải
chính Ngài là “Đấng mạnh mẽ, oai hùng” (Tv 23 [24],8), Đấng “không có ǵ
là không thể làm được” (Lc 1,37). Sự toàn năng của Ngài là phổ quát, và
mầu nhiệm. Sự toàn năng này được biểu lộ trong việc sáng tạo vũ trụ từ hư
vô và sáng tạo con người v́ t́nh yêu, nhưng nhất là trong mầu nhiệm Nhập
thể và trong sự Phục sinh Con của Ngài, trong hồng ân đón nhận chúng ta
làm nghĩa tử và thứ tha tội lỗi. V́ thế, Hội thánh dâng lời cầu nguyện lên
“Thiên Chúa toàn năng và vĩnh cửu” (“Omnipotens sempiterne Deus…”).
51. Tại sao việc khẳng định rằng
: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên trời và đất” (St 1,1) lại rất quan
trọng ?
279-289
315
Bởi v́ việc tạo dựng là
nền tảng cho tất cả dự định cứu độ của Thiên Chúa. Tạo dựng là việc biểu
lộ t́nh yêu toàn năng và khôn ngoan của Thiên Chúa; đó là bước đầu tiên
hướng đến Giao ước của Thiên Chúa duy nhất với dân Ngài; đó là khởi điểm
của lịch sử cứu độ, lịch sử này đạt tới chóp đỉnh nơi Chúa Giêsu; đó là
câu trả lời đầu tiên cho các vấn nạn căn bản của con người về nguồn gốc và
cùng đích của ḿnh.
52. Ai đă tạo dựng vũ trụ ?
290-292
316
Chúa Cha, Chúa Con và
Chúa Thánh Thần là nguyên lư duy nhất và không thể phân chia của việc tạo
dựng, mặc dù công tŕnh tạo dựng vũ trụ được đặc biệt gán cho Chúa Cha.
53. Vũ trụ được dựng nên để làm
ǵ ?
293-294
319
Vũ trụ được dựng nên để
tôn vinh Thiên Chúa, Đấng đă muốn biểu lộ và thông ban ḷng nhân hậu, chân
lư và vẻ đẹp của Ngài. Mục đích tối hậu của việc tạo dựng là để Thiên
Chúa, trong Đức Kitô, “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28), v́ vinh
quang của Ngài và hạnh phúc của chúng ta.
“Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống và sự sống của con người
là được nh́n thấy Thiên Chúa” (Thánh Irênê).
54. Thiên Chúa đă sáng tạo vũ
trụ như thế nào ?
295-301
317-320
Thiên Chúa đă sáng tạo
vũ trụ cách tự do, bằng sự khôn ngoan và t́nh yêu. Vũ trụ không phải là
sản phẩm của một luật tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi
ngẫu nhiên. Thiên Chúa đă sáng tạo “từ hư vô” (ex nihilo; 2 Mcb
7,28), một thế giới được sắp xếp trật tự và tốt lành, nhưng Ngài vô
cùng cao cả siêu việt trên mọi loài. Ngài ǵn giữ vạn vật trong sự hiện
hữu, nâng đỡ và ban cho nó khả năng hoạt động và hướng dẫn nó đến sự trọn
hảo nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
55. Sự Quan pḥng của Thiên Chúa
là ǵ ?
302-306
321
Sự Quan pḥng của Thiên
Chúa là những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa hướng dẫn các thụ tạo của ḿnh đến
chỗ hoàn hảo mà Ngài đă định cho chúng. Thiên Chúa là tác giả tối cao của
kế hoạch Ngài; nhưng để thực hiện kế hoạch đó, Ngài cũng sử dụng sự cộng
tác của các thụ tạo. Đồng thời, Ngài ban cho chúng phẩm giá là tự hoạt
động và trở thành nguyên nhân cho nhau.
56. Con người cộng tác vào sự
Quan pḥng của Thiên Chúa như thế nào ?
307-308
323
Tuy tôn trọng tự do của
con người, nhưng Thiên Chúa ban cơ hội và đ̣i hỏi con người cộng tác với
Ngài qua hành động, kinh nguyện và cả sự đau khổ của họ, khi gợi lên trong
họ “ước muốn cũng như hành động theo ḷng nhân hậu của Ngài” (Pl 2,13).
57. Nếu Thiên Chúa toàn năng và quan pḥng, tại sao lại có sự dữ ?
309-310
324, 400
Chỉ có toàn bộ
đức tin Kitô giáo mới có thể trả lời cho câu hỏi vừa bi thảm vừa mầu nhiệm
này. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ, dù trực tiếp hay
gián tiếp. Ngài làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ nhờ Con Ngài là Đức Giêsu
Kitô, Đấng đă chết và đă sống lại để chiến thắng sự dữ luân lư to lớn là
tội lỗi của con người, nguồn gốc của tất cả những sự dữ khác.
58. Tại sao Thiên
Chúa lại cho phép sự dữ xuất hiện ?
311-314
324
Đức tin giúp chúng ta
xác tín rằng Thiên Chúa đă không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không
làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó. Điều này Thiên Chúa đă
thực hiện cách tuyệt vời trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Thật
vậy, từ sự dữ luân lư lớn nhất, là cái chết của Con Ngài, Ngài đă rút ra
những điều thiện hảo vĩ đại nhất, đó là việc tôn vinh Đức Kitô và là ơn
cứu độ chúng ta.
Trời và Đất
59. Thiên Chúa đă
tạo dựng những ǵ ?
325-327
Thánh Kinh nói : “Lúc
khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Trong bản tuyên xưng đức
tin, Hội thánh công bố Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo muôn vật hữu h́nh và vô
h́nh, mọi loài thiêng liêng và vật chất, nghĩa là các thiên thần và thế
giới hữu h́nh, và đặc biệt nhất là con người.
60. Các thiên thần
là ai ?
328-333
350-351
Các thiên thần là những
thụ tạo thiêng liêng, không có thân xác, vô h́nh và bất tử; đó là những
hữu thể có ngôi vị, có lư trí và ư chí. Họ không ngừng chiêm ngắm Thiên
Chúa diện đối diện và tôn vinh Thiên Chúa; các ngài phục vụ Thiên Chúa và
là những sứ giả của Ngài để thực hiện sứ vụ cứu độ loài người.
61. Các thiên thần hiện diện
trong đời sống của Hội thánh như thế nào ?
Hội thánh liên kết với
các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa; Hội thánh kêu cầu sự trợ giúp của
các ngài và trong phụng vụ, Hội thánh kính nhớ một số vị trong các ngài.
“Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một thiên thần như Đấng bảo trợ và mục tử,
hướng dẫn họ đến sự sống” (Thánh Basiliô cả).
62. Thánh Kinh dạy ǵ về việc
tạo dựng thế giới hữu h́nh ?
337-344
Qua chuyện kể “sáu
ngày” tạo dựng, Thánh Kinh cho chúng ta biết giá trị của thế giới thụ tạo,
và mục đích của nó là để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ con người. Mọi vật
hiện hữu là nhờ Thiên Chúa, tất cả đều lănh nhận từ Thiên Chúa sự tốt lành
và hoàn hảo, lề luật và vị trí của ḿnh trong vũ trụ.
63. Đâu là vị trí của con
người trong công tŕnh tạo dựng ?
343-344
353
Con người là chóp đỉnh
của các thụ tạo hữu h́nh, v́ được dựng nên theo h́nh ảnh và giống Thiên
Chúa.
64. Các thụ tạo liên hệ với
nhau như thế nào ?
342
354
Giữa các thụ tạo có mối
liên hệ với nhau và một phẩm trật theo ư Thiên Chúa. Đồng thời cũng có một
sự hợp nhất và liên đới giữa các thụ tạo, v́ tất cả đều có cùng một Đấng
Sáng Tạo, tất cả đều được Ngài yêu mến và được sắp xếp để tôn vinh Ngài.
V́ thế, tôn trọng những lề luật đă được khắc ghi trong công tŕnh tạo dựng
và những mối tương quan phát xuất từ bản tính của mọi vật, là một nguyên
tắc khôn ngoan và là một nền tảng của luân lư.
65. Đâu là mối liên hệ giữa
công tŕnh sáng tạo và công tŕnh cứu chuộc ?
345-349
Công tŕnh sáng tạo đạt
tới tột đỉnh trong một công tŕnh c̣n vĩ đại hơn nữa, là công tŕnh cứu
chuộc. Thật vậy, công tŕnh cứu chuộc là khởi điểm cho công tŕnh sáng tạo
mới, trong đó tất cả sẽ t́m được ư nghĩa trọn vẹn và sự viên măn của ḿnh.
Con người
66. Phải hiểu “Con người được
dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa” theo nghĩa nào ?
355-357
Con người được dựng nên
theo h́nh ảnh Thiên Chúa theo nghĩa họ có khả năng nhận biết và yêu mến
một cách tự do Đấng Sáng Tạo nên ḿnh. Trên mặt đất, chỉ có con người là
thụ tạo đă được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ và mời gọi họ tham dự vào
đời sống thần linh của Ngài nhờ nhận biết và yêu thương. V́ được tạo dựng
theo h́nh ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị; họ không
phải là một sự vật, nhưng là một con người có khả năng nhận thức về bản
thân ḿnh, tự hiến ḿnh cách tự do và đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa
và với tha nhân.
67. Thiên Chúa dựng nên con
người với mục đích ǵ ?
358-359
381
Thiên Chúa đă dựng nên tất cả cho con người, nhưng con người được dựng
nên để nhận biết, phục vụ và yêu mến Thiên Chúa; hầu ở trần gian, họ dâng
lên Thiên Chúa mọi thụ tạo mà tạ ơn Ngài, nhờ đó họ sẽ được nâng lên trời
sống với Thiên Chúa. Chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập thể mà mầu
nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ. Con người được tiền định để
phản ánh h́nh ảnh của Con Thiên Chúa làm người, Đấng là “h́nh ảnh trọn hảo
của Thiên Chúa vô h́nh” (Cl 1,15).
68. Tại sao loài người tạo
thành một sự thống nhất ?
360-361
Tất cả mọi người tạo
thành sự thống nhất của ḍng giống loài người, v́ họ có cùng một nguồn
gốc, được lănh nhận từ nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, “đă tạo thành
toàn thể nhân loại từ một người duy nhất” (Cv 17,26). Tất cả đều có một
Đấng Cứu Độ duy nhất. Tất cả đều được mời gọi dự phần vào hạnh phúc vĩnh
cửu của Thiên Chúa.
69. Trong con người, linh hồn
và thân xác tạo thành một sự thống nhất như thế nào ?
362-365
382
Con người là một hữu
thể vừa thể xác, lại vừa tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất
tạo thành một bản thể duy nhất. Sự thống nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ
nguyên lư tinh thần là linh hồn mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một
thân xác con người sống động, và được dự phần vào phẩm giá “là h́nh ảnh
của Thiên Chúa.”
70. Ai ban linh hồn cho con
người ?
366-368
382
Linh hồn thiêng liêng
và bất tử không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực
tiếp. Linh hồn ĺa khỏi thân xác lúc người ta chết, nhưng linh hồn không
chết. Linh hồn sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sống lại sau hết.
71. Thiên Chúa đă thiết lập
mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ?
369-373
383
Người nam và người nữ
được Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và
đồng thời họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đă
muốn tạo dựng họ cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các bản vị. Cả
hai cùng được mời gọi truyền lại sự sống con người trong hôn nhân, khi cả
hai trở nên “một xương một thịt” (St 2,24) và làm chủ trái đất như những
“người quản lư” của Thiên Chúa.
72. T́nh trạng nguyên thủy của
con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là ǵ ?
374-379
384
Khi sáng tạo người nam
và người nữ, Thiên Chúa đă cho họ tham dự cách đặc biệt vào đời sống thần
linh của Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của
Thiên Chúa, con người sẽ không phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài
ra, có một sự hài ḥa tuyệt hảo nơi chính con người, giữa thụ tạo với Đấng
Sáng tạo, giữa người nam với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên
với toàn thể thụ tạo.
Sự Sa Ngă
73. Làm thế nào để hiểu được
thực tại của tội lỗi ?
385-389
Tội lỗi hiện diện trong
lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ
dưới ánh sáng Mạc khải của Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Đức
Kitô, Đấng Cứu Độ mọi người, Đấng tuôn đổ ân sủng thật sung măn bất cứ nơi
nào tràn đầy tội lỗi.
74. Sự sa ngă của các thiên
thần là ǵ ?
391-395
414
Với cách diễn tả này,
người ta muốn nói rằng Satan và các ma quỉ khác, được Thánh Kinh và Thánh
truyền nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên,
nhưng đă trở thành ác xấu, bởi v́, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát,
chúng từ chối Thiên Chúa và Vương quyền của Ngài và như thế làm phát sinh
ra hỏa ngục. Chúng cố gắng lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại
Thiên Chúa; nhưng trong Đức Kitô, Thiên Chúa xác nhận chiến thắng chắc
chắn của Ngài trên Ác thần.
75. Tội đầu tiên của con người
cốt tại điều ǵ ?
396-403
415-417
Con người, bị ma quỷ
cám dỗ, đă dập tắt trong trái tim ḿnh sự tin tưởng vào những liên hệ với
Đấng Sáng Tạo của ḿnh. Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở
nên “như Thiên Chúa,” không nh́n nhận Thiên Chúa và không c̣n căn cứ vào
Thiên Chúa nữa (St 3,5). Như thế, Ađam và Evà lập tức đánh mất ân sủng của
sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy cho bản thân và tất cả con
cháu họ.
76. Tội tổ tông truyền là ǵ
?
404
419
Mọi người đều bị sinh
ra trong nguyên tội. Nguyên tội là t́nh trạng thiếu vắng ơn thánh sủng và
sự công chính nguyên thủy. Đó là một tội mà chúng ta “vướng mắc” chứ không
phải là một tội mà chúng ta vấp phạm ; đó là t́nh trạng lúc chào đời chứ
không phải là một hành vi cá nhân. Do sự thống nhất của toàn thể loài
người, tội này được truyền lại cho con cháu của Ađam trong bản tính loài
người, “không phải do bắt chước, nhưng là qua truyền sinh.” Việc truyền
đạt này là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu được cách trọn vẹn.
77. Những hậu quả khác do
nguyên tội gây nên là ǵ ?
405-409
418
Sau khi tổ tông đă phạm
tội, bản tính con người không hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng bị thương tật
trong các sức lực tự nhiên của ḿnh, chịu sự u mê, đau khổ và nằm dưới
quyền lực sự chết; bản tính con người bị nghiêng chiều về tội lỗi. Sự
nghiêng chiều này được gọi là dục vọng (concupiscentia).
78. Thiên Chúa đă làm ǵ sau
tội đầu tiên của con người ?
410-412
420
Sau tội đầu tiên, thế
gian đă bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đă không bỏ rơi con người
dưới quyền lực sự chết. Trái lại, Ngài đă tiên báo cách mầu nhiệm – trong
“Tiền Tin Mừng” (x. St 3,15)– rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ
được nâng dậy khỏi sự sa ngă của họ. Đó là lời tiên báo đầu tiên về Đấng
Mêsia cứu chuộc. V́ thế, chúng ta đă gọi sự sa ngă là “tội hồng phúc”
(felix culpa), v́ “nhờ có ngươi, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao
cả dường này” (Phụng Vụ đêm Vọng Phục sinh).
CHƯƠNG HAI
TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ,
CON MỘT THIÊN CHÚA
79. Tin Mừng cho con người là
ǵ ?
422-424
Tin Mừng là lời loan
báo về Đức Giêsu Kitô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Đấng đă chết
và đă sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và Hoàng Đế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa
đă thực hiện những lời Ngài đă hứa với Ábraham và ḍng dơi qua việc Ngài
đă sai “Con Ḿnh tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để
chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”
(Ga 4,4-5).
80. Tin Mừng này được loan
truyền như thế nào ?
425-429
Ngay từ đầu, các môn đệ
tiên khởi đă khao khát loan báo Đức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin
vào Người. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Đức Kitô làm nẩy sinh
nơi các tín hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lư, nghĩa là
giúp mọi người nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người
Chúa Giêsu và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Người.
“TÔI TIN
KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ,
LÀ CON
MỘT ĐỨC CHÚA CHA, CÙNG LÀ CHÚA CHÚNG TÔI”
81. Danh thánh “Giêsu” nghĩa
là ǵ ?
430-435
452
Danh thánh Giêsu, được
thiên thần gọi ngay từ lúc Truyền tin, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”.
Danh thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Chúa Giêsu, v́ “chính Người
sẽ cứu dân ḿnh khỏi tội” (Mt 1,21). Thánh Phêrô khẳng định rằng “dưới gầm
trời này không có danh nào khác đă được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ
vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).
82. Tại sao Chúa Giêsu lại
được gọi là “Đấng Kitô” ?
436-440
453
“Kitô” là tiếng Hy Lạp,
c̣n “Mêsia” là tiếng Hypri, có nghĩa là “được xức dầu”. Chúa Giêsu là Đấng
Kitô v́ Người được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh
Thần để đảm nhận sứ mạng cứu chuộc của Người. Người là Đấng Mêsia mà dân
Israel mong đợi, được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Giêsu đă chấp
nhận tước hiệu Mêsia, nhưng đă xác định rơ ràng ư nghĩa tước hiệu này :
“từ trời xuống” (Ga 3,13), chịu đóng đinh và rồi sống lại, Người là Tôi
Trung Đau Khổ, “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).
Từ tước hiệu Kitô này, chúng ta được mang danh hiệu là người
Kitô hữu.
83. Chúa Giêsu là “Con Một
Thiên Chúa” theo ư nghĩa nào ?
441-445
454
Chúa Giêsu là “Con Một
Thiên Chúa” theo một ư nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Người chịu phép
rửa và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu là
“Con yêu dấu” của Ngài. Khi Chúa Giêsu tự giới thiệu ḿnh là Con, chỉ ḿnh
Người “biết Chúa Cha” (Mt 11,27), Người khẳng định mối tương quan duy nhất
và vĩnh cửu của ḿnh với Thiên Chúa là Cha của Người. “Người là Con duy
nhất của Thiên Chúa” (1 Ga 4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Người là trung
tâm của lời rao giảng của các thánh Tông đồ : các Tông đồ đă thấy “vinh
quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một” (Ga
1,14).
84. Tước hiệu “Đức Chúa” có ư
nghĩa ǵ ?
446-451
455
Trong Thánh Kinh,
thường tước hiệu này để chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giêsu tự nhận cho
ḿnh tước hiệu này và mạc khải quyền tối thượng thần linh của Người qua
quyền năng của Người trên thiên nhiên, trên ma quỉ, trên tội lỗi và trên
cái chết, và nhất là qua cuộc phục sinh của Người. Những tuyên xưng đầu
tiên của các người Kitô hữu công bố quyền năng, danh dự và vinh quang dành
cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu, Đấng mà Thiên Chúa “đă ban
tặng danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,9). Người là Đức Chúa
của trần gian và của lịch sử, là Đấng duy nhất mà mọi người, với sự tự do
của ḿnh, phải hoàn toàn tùng phục.
“BỞI PHÉP
ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN
MÀ NGƯỜI
XUỐNG THAI SINH BỞI BÀ MARIA ĐỒNG TRINH”
85. Tại sao Con Thiên Chúa làm
người ?
456-460
Con Thiên Chúa đă nhập
thể trong ḷng Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, v́ loài người
chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, có nghĩa là để chúng ta, là những kẻ tội
lỗi, được giao ḥa với Thiên Chúa, để cho chúng ta biết được t́nh thương
vô bờ bến của Ngài, để trở nên mẫu gương cho chúng ta về sự thánh thiện và
để làm cho chúng ta trở thành những người “được thông phần bản tính Thiên
Chúa ( 2 Pr 1,4).
86. Hai tiếng “Nhập Thể” có
nghĩa là ǵ ?
461-463
483
Hội thánh dùng từ “Nhập
Thể” để gọi mầu nhiệm của sự kết hợp tuyệt vời của thần tính và nhân tính
trong Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Để thực hiện công cuộc cứu
rỗi chúng ta, Con Thiên Chúa đă hóa thành “xác thể” (Ga 1,14), trở thành
con người thật. Đức tin vào mầu nhiệm Nhập thể là dấu chỉ phân biệt của
niềm tin Kitô giáo.
87. Đức Giêsu Kitô vừa là
Thiên Chúa thật, vừa là người thật như thế nào ?
464-467
469
Chúa Giêsu là Thiên
Chúa thật và là người thật, không thể tách rời nhau trong sự duy nhất của
Ngôi vị Thiên Chúa của Người. Chính Người là Con Thiên Chúa, là Đấng “được
sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha”,
Người thật sự trở thành con người, trở thành anh em của chúng ta, tuy
không ngừng là Thiên Chúa, là Đức Chúa của chúng ta.
88. Công đồng Chalcedonia (năm
451) dạy ǵ về vấn đề này ?
467
Công đồng Chalcedonia
dạy chúng ta phải tuyên xưng : “một Chúa Con duy nhất, là Đức Giêsu Kitô
Chúa chúng ta, Người hoàn hảo trong thần tính, Người cũng hoàn hảo trong
nhân tính, thật sự là Thiên Chúa và thật sự là người, có một linh hồn có
lư trí và một thân xác, đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính mà cũng
đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính, “giống chúng ta về mọi phương
diện ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15), sinh bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ
trước muôn đời, và trong những ngày cuối cùng này, v́ chúng ta và để cứu
rỗi chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ Trinh Nữ Maria, Mẹ
Thiên Chúa.”
89. Hội thánh diễn tả mầu
nhiệm Nhập thể như thế nào ?
464-469
479-481
Hội thánh diễn tả mầu
nhiệm này khi xác quyết rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người
thật, với hai bản tính là thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết
hợp trong Ngôi Lời. V́ thế, trong nhân tính của Chúa Giêsu, tất cả – các
phép lạ, đau khổ và cái chết – đều được qui về Ngôi vị thần linh của
Người, Đấng hoạt động qua nhân tính mà Ngôi vị này đảm nhận.
“Ôi Con duy nhất và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử, nhưng để cứu
rỗi chúng con, Chúa đă nhập thể nơi Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa
và măi măi đồng trinh… Chúa là Một trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh
cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con!” (Phụng vụ
Byzantin của thánh Gioan Kim Khẩu).
90. Có phải Con Thiên Chúa làm
người có một linh hồn với tri thức nhân loại không ?
470-474
482
Con Thiên Chúa đă đón
nhận một thân xác được một linh hồn nhân loại có tri thức làm cho sinh
động. Với tri thức nhân loại, Chúa Giêsu đă học hỏi nhiều qua kinh nghiệm.
Nhưng cũng với tư cách là con người, Con Thiên Chúa có một sự hiểu biết
thâm sâu và trực tiếp về Thiên Chúa, Cha của Người. Người cũng nh́n thấu
những tư tưởng thầm kín của con người và hiểu biết đầy đủ các ư định muôn
thuở mà Người đến để mạc khải.
91. Hai ư muốn nơi Ngôi Lời
nhập thể hợp tác với nhau như thế nào ?
475
482
Chúa Giêsu có một ư
muốn của Thiên Chúa và một ư muốn của con người. Trong cuộc sống nơi trần
gian, Con Thiên Chúa đă muốn làm theo con người điều mà Người đă quyết
định theo thần tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về ơn cứu độ chúng ta.
Ư muốn nhân loại của Đức Kitô luôn theo ư muốn thần linh, không miễn
cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa, ư muốn nhân loại của Người đă tùng
phục ư muốn thần linh.
92. Đức Kitô có một thân xác
con người thật không ?
476-477
Đức Kitô đă đón nhận
một thân xác thật sự của con người, qua đó Thiên Chúa vô h́nh đă trở nên
hữu h́nh. V́ thế, Đức Kitô có thể được tŕnh bày và tôn kính qua các ảnh
tượng thánh.
93. Trái tim của Đức Kitô nói
lên điều ǵ ?
478
Đức Kitô biết và yêu
thương chúng ta bằng một trái tim của con người. Trái tim của Người bị đâm
thâu để cứu độ chúng ta, là biểu trưng cho t́nh yêu vô biên của Người đối
với Chúa Cha và đối với tất cả mọi người.
94. Câu “Bởi phép Đức Chúa
Thánh Thần mà Người xuống thai…” có ư nghĩa ǵ ?
484-486
Câu này muốn nói lên
rằng Đức Trinh Nữ Maria đă thụ thai trong ḷng ḿnh Người Con Vĩnh Cửu là
bởi tác động của Chúa Thánh Thần chứ không có sự cộng tác của một người
nam : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1,35), đó là lời thiên thần đă
nói với Đức Maria lúc Truyền tin.
95. “… sinh bởi Bà Maria Đồng
Trinh” : tại sao Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa ?
495
509
Đức Maria thật sự là
Mẹ Thiên Chúa bởi v́ là Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 2,1; 19,25). Thật vậy,
Đấng mà Mẹ đă cưu mang bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đă thực sự là
con của Mẹ, chính là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Chính Người là Thiên
Chúa.
96. “Vô Nhiễm Nguyên Tội”
nghĩa là ǵ ?
487-492
508
Từ muôn thuở và một
cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đă chọn Đức Maria làm Mẹ của Con
ḿnh. Để chu toàn sứ mạng này, Mẹ đă được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được
thụ thai. Điều này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và đón nhận
trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đă được ǵn giữ khỏi tội
nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai.
97. Đức Maria đă cộng tác vào
kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như thế nào ?
493-494
508-511
Nhờ ân sủng của Thiên
Chúa, Đức Maria, suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm một tội riêng nào.
Mẹ là “Đấng đầy ân phúc”(Lc 1,28), “Đấng rất thánh.” Khi Thiên Thần báo
tin rằng Mẹ sẽ sinh “Con Đấng Tối cao” (Lc 1,32), Mẹ đă tự do chấp nhận
trong “sự vâng phục của đức tin” (Rm 1,5). Đức Maria tự hiến hoàn toàn cho
con người và công tŕnh của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, và với trọn tâm hồn
Mẹ chấp nhận ư định cứu độ của Thiên Chúa.
98. Việc mang thai Chúa Giêsu
một cách đồng trinh có ư nghĩa ǵ ?
496-498
503
Điều này có nghĩa là
Chúa Giêsu được thụ thai trong ḷng Đức Trinh Nữ chỉ do quyền năng của
Chúa Thánh Thần mà thôi, không có sự can thiệp của người đàn ông. Người là
Con Thiên Chúa trên trời theo thần tính, là Con của Đức Maria theo nhân
tính, nhưng thực sự là Con Thiên Chúa trong hai bản tính, cùng hiện diện
trong một Ngôi vị duy nhất, là ngôi vị thần linh.
99. Câu “Đức Maria trọn đời
đồng trinh” có ư nghĩa ǵ ?
499-507
510-511
“Đức Maria trọn đời
đồng trinh” có nghĩa là Mẹ “vẫn c̣n đồng trinh khi thụ thai Con ḿnh, đồng
trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho Người
bú mớm, là người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh” (thánh Augustinô).
Khi các Phúc Âm nói về “anh chị em của Chúa Giêsu,” th́ đó là những người
bà con họ hàng gần của Chúa Giêsu, theo như cách nói thông thường trong
Thánh Kinh.
100. Bằng cách nào t́nh mẫu
tử thiêng liêng của Đức Maria mang tính phổ quát ?
501-507
511
Đức Maria chỉ có một
người Con duy nhất, là Chúa Giêsu, nhưng trong Người, t́nh mẫu tử thiêng
liêng của Mẹ nới rộng cho hết mọi người đă được Chúa Giêsu cứu độ. Vâng
phục bên cạnh Ađam mới là Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ là bà Evà mới, bà
mẹ đích thực của chúng sinh. Với t́nh yêu từ mẫu, Mẹ cộng tác vào việc
sinh hạ và nuôi dưỡng họ trong trật tự ân sủng. Vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ,
Đức Maria là h́nh ảnh của Hội thánh, là sự thể hiện toàn hảo nhất của Hội
thánh.
101. “Cả cuộc đời Đức Kitô là
một Mầu nhiệm” nghĩa là ǵ ?
512-521
561-562
Cả cuộc đời của Đức
Kitô là một sự kiện mạc khải. Điều có thể thấy được trong cuộc đời trần
thế của Người dẫn chúng ta đến Mầu nhiệm vô h́nh , nhất là Mầu
nhiệm Con Thiên Chúa của Người : “Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha” (Ga
14,9). Đàng khác, mặc dù ơn cứu độ đă được hoàn thành trọn vẹn qua thập
giá và cuộc phục sinh, nhưng trọn cuộc đời của Đức Kitô là Mầu nhiệm
cứu độ, v́ tất cả những ǵ Chúa Giêsu đă làm, đă nói và đă chịu đau
khổ đều có mục đích là để cứu độ loài người sa ngă và để tái lập ơn gọi
làm con Thiên Chúa của chúng ta.
102. Các mầu nhiệm của Chúa
Giêsu đă được chuẩn bị như thế nào ?
522-524
Trước hết, đă có một
thời gian hy vọng lâu dài hằng bao thế kỷ, mà chúng ta cảm nhận lại khi cử
hành Phụng vụ mùa Vọng. Ngoài sự chờ đợi lờ mờ mà Thiên Chúa đă đặt để
trong tâm hồn các người ngoại giáo, Thiên Chúa đă chuẩn bị cho việc Con
Ngài ngự đến qua Giao ước cũ, cho đến thời ông Gioan Tẩy Giả, là
người cuối cùng, nhưng lại vĩ đại nhất trong số các tiên tri.
103. Tin Mừng về mầu nhiệm
Giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu dạy chúng ta điều ǵ ?
525-530
563-564
Vào lúc Giáng sinh,
vinh quang thiên quốc được tỏ lộ trong sự yếu đuối của Hài Nhi. Việc
cắt b́ Chúa Giêsu đă lănh nhận là dấu chỉ Người thuộc về dân Do Thái
và tượng trưng cho Bí tích Rửa tội của chúng ta. Hiển Linh là việc
Vua-Mêsia của Israel tỏ ḿnh ra cho tất cả muôn dân. Lúc dâng Chúa vào
trong Đền Thờ, người ta nhận ra nơi ông Simeon và bà Anna sự chờ đợi
của dân Israel, nay đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ của ḿnh. Cuộc trốn
sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội báo trước cả cuộc đời của
Đức Kitô sẽ chịu nhiều bách hại. Việc Người rời bỏ Ai Cập
để trở về nhắc lại cuộc xuất hành và giới thiệu Đức Kitô như ông Môsê
mới : Người là Đấng giải phóng đích thực và tối hậu.
104. Quăng đời ẩn dật của
Chúa Giêsu tại Nazareth dạy chúng ta điều ǵ ?
533-534
564
Suốt cuộc sống ẩn
dật ở Nazareth, Chúa Giêsu đă âm thầm sống một cuộc sống b́nh thường.
Như vậy, Người cho phép chúng ta hiệp thông với Người trong sự thánh thiện
của đời sống thường ngày được dệt bằng lời cầu nguyện, sự đơn sơ, lao
động, t́nh yêu gia đ́nh. Việc vâng phục của Người đối với Đức Maria và
thánh Giuse, cha nuôi của Người, là h́nh ảnh của sự vâng phục con thảo đối
với Chúa Cha của Người. Với đức tin, Đức Maria và thánh Giuse đón nhận mầu
nhiệm của Chúa Giêsu, dù rằng không phải lúc nào các ngài cũng hiểu được
mầu nhiệm ấy.
105. Tại sao Chúa Giêsu lănh nhận phép rửa của ông Gioan để “sám hối
hầu được ơn tha tội” (Lc 3,3) ?
535-537
565
Để khởi đầu quăng đời
công khai và để tham dự trước vào Phép rửa là cái chết của ḿnh,
Chúa Giêsu, dù không có tội lỗi nào, và là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội
trần gian” (Ga 1,29), cũng chấp nhận liệt ḿnh vào hàng các tội nhân. Chúa
Cha tuyên bố Người là “Con yêu dấu” của ḿnh (Mt 3,17) và Thánh Thần ngự
xuống trên Người. Phép rửa của Chúa Giêsu là h́nh ảnh báo trước Bí tích
Rửa tội của chúng ta.
106.
Những cơn cám dỗ của Chúa Giêsu
trong sa mạc nói lên điều ǵ ?
538-540
566
Những cám dỗ Chúa Giêsu
phải chịu trong sa mạc thu tóm cơn cám dỗ của Ađam trong vườn địa đàng và
những cơn cám dỗ của Israel trong sa mạc. Satan cám dỗ Chúa Giêsu về sự
vâng phục sứ vụ mà Chúa Cha đă trao phó. Đức Kitô, Ađam mới, đă chống lại
cơn cám dỗ, và chiến thắng của Người báo trước chiến thắng của cuộc khổ
nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong t́nh yêu con thảo của Người. Trong
thời gian Phụng vụ Mùa Chay, Hội thánh kết hợp với Mầu nhiệm này cách đặc
biệt.
107. Ai được mời gọi tham dự vào Nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu loan
báo và thực hiện ?
541-546
567
Chúa Giêsu mời gọi mọi
người tham dự vào Nước Thiên Chúa. Cả kẻ xấu xa nhất trong các tội nhân
cũng được mời gọi sám hối và đón nhận ḷng thương xót vô biên của Chúa
Cha. Ngay trên mặt đất này, Nước Thiên Chúa đă thuộc về những ai đón nhận
với tâm hồn khiêm tốn. Những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa được mạc khải
cho những người này.
108. Tại sao Chúa Giêsu biểu lộ Nước Trời bằng các dấu chỉ và phép lạ ?
547-550
567
Chúa Giêsu làm các dấu
chỉ và phép lạ kèm theo lời của Người, để chứng tỏ rằng Nước Trời đang
hiện diện nơi Người, là Đấng Mêsia. Mặc dù đă chữa lành một số bệnh nhân,
Người không đến để loại trừ mọi cái xấu ra khỏi trái đất, nhưng trước hết
là để giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Cuộc chiến đấu chống
lại ma quỉ báo trước rằng thập giá của Người sẽ chiến thắng “thủ lănh thế
gian” (Ga 12,31).
109. Trong Nước Trời, Chúa Giêsu đă trao quyền hành nào cho các Tông đồ
của Người ?
551-553
567
Chúa Giêsu chọn Nhóm
Mười Hai, những chứng nhân tương lai cho cuộc phục sinh của Người.
Người cho họ tham dự vào sứ vụ và quyền hành của Người để dạy dỗ, tha thứ
tội lỗi, xây dựng và điều khiển Hội thánh. Trong Nhóm này, thánh Phêrô
lănh nhận “ch́a khóa Nước Trời” (Mt 16,19) và chiếm địa vị thứ nhất, có sứ
mạng ǵn giữ đức tin được toàn vẹn và củng cố các anh em ḿnh.
110. Việc Hiển Dung có ư nghĩa ǵ ?
554-556
568
Trước hết, Thiên Chúa
Ba Ngôi xuất hiện trong cuộc Hiển Dung : “Chúa Cha trong lời nói, Chúa Con
trong nhân tính của ḿnh, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói” (thánh
Tôma Aquinô). Khi gợi lên cho ông Môsê và ông Êlia về cuộc “ra đi của
ḿnh” (Lc 9,31), Chúa Giêsu cho thấy rằng vinh quang của Người phải kinh
qua thập giá; và Người sống trước cuộc phục sinh và cuộc trở lại trong
vinh quang của Người, lúc Người “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta
nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21).
“Chúa đă hiển dung trên núi và các môn đệ chiêm ngắm vinh quang Người
tùy khả năng, để mai sau khi thấy Người chịu đóng đinh thập giá, họ hiểu
rằng Người đă tự nguyện chịu khổ h́nh. Rồi họ sẽ loan báo cho muôn dân
biết Người chính là vinh quang Chúa Cha chiếu tỏa” (Phụng Vụ
Byzantin).
111. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Mêsia như thế
nào ?
557-560
569-570
Vào thời gian đă định,
Chúa Giêsu quyết lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại từ
cơi chết. Với tư cách là Đức Vua-Mêsia, Đấng loan báo Vương quốc của Thiên
Chúa đến, Người đi vào thành của Người, cỡi trên một con lừa. Những kẻ bé
mọn đón rước Người bằng lời tung hô mà về sau được đưa vào kinh “Thánh!
Thánh! Thánh!” trong Thánh Lễ : “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh
Chúa” (Mt 21,9). Phụng vụ Hội thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành
biến cố này.
“ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐĂ CHỊU NẠN ĐỜI QUAN PHONGXIÔ PHILATO,
CHỊU ĐÓNG
ĐINH TRÊN CÂY THÁNH GIÁ, CHẾT VÀ TÁNG XÁC”
112. Mầu nhiệm Vượt qua của
Chúa Giêsu có tầm quan trọng nào ?
571-573
Mầu nhiệm Vượt qua của
Chúa Giêsu, bao gồm cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và tôn vinh của
Người, là trung tâm của đức tin Kitô giáo. V́ ư định cứu độ của Thiên Chúa
được hoàn tất một lần thay cho tất cả nhờ cái chết cứu độ của Con Thiên
Chúa là Đức Giêsu Kitô.
113. Chúa Giêsu bị kết án v́ những lời buộc tội nào ?
574-576
Một số thủ lănh Israel
đă kết án Chúa Giêsu chống lại Lề Luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và
đặc biệt chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, bởi v́ Người tự tuyên
bố ḿnh là Con của Thiên Chúa. Chính v́ thế họ đă nộp Người cho quan
Philatô, để Người bị kết án tử h́nh.
114. Đâu là thái độ của Chúa Giêsu đối với Lề luật Israel ?
577-582
592
Chúa Giêsu không hủy bỏ
Lề luật do Thiên Chúa trao ban cho ông Môsê trên núi Sinai, nhưng Người đă
làm cho Lề luật nên trọn bằng cách đem lại cho Lề luật lời giải thích tối
hậu. Người là Đấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, Đấng chu toàn Lề luật
cách viên măn. Ngoài ra, qua cái chết đền tội trong vai tṛ Người Tôi
Trung, Người hiến dâng hy tế duy nhất có khả năng cứu chuộc tất cả “tội
lỗi người ta đă phạm trong thời Giao ước đầu tiên” (Dt 9,15).
115. Đâu là thái độ của Chúa Giêsu đối với Đền thờ Giêrusalem ?
583-586
593
Chúa Giêsu bị kết án là
có thái độ thù nghịch với Đền thờ. Thực ra, Người đă tôn trọng Đền thờ như
là “nhà của Cha ḿnh” (Ga 2,16). Chính tại đó Người đă giảng dạy một phần
giáo huấn quan trọng của Người. Nhưng Người cũng báo trước Đền thờ sẽ bị
tàn phá, trong liên hệ với cái chết của Người. Người tự giới thiệu ḿnh là
nơi cư ngụ vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa loài người.
116. Chúa Giêsu có chống lại
niềm tin của Israel vào Thiên Chúa duy nhất và là Đấng cứu độ hay không ?
587-591
594
Chúa Giêsu không bao
giờ chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, cả khi Người hoàn tất công
tŕnh của Thiên Chúa cách trọn hảo, chu toàn các lời hứa về Đấng Mêsia và
đồng thời mạc khải Người ngang hàng với Thiên Chúa : đó là việc tha thứ
các tội lỗi. Người mời gọi chúng ta phải tin vào Người và phải sám hối,
giúp chúng ta nhận ra sự hiểu lầm bi thảm của Công nghị đă kết án Người
đáng phải chết v́ lư do phạm thượng.
117. Ai chịu trách nhiệm về
cái chết của Chúa Giêsu ?
595-598
Không thể qui trách
nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho
mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân,
nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau
khổ của Đấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người,
đặc biệt nhất là các người Kitô hữu, thường xuyên sa ngă phạm tội và vui
thoả trong những điều xấu xa.
118. Tại sao cái chết của
Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa ?
599-605
619
Để tất cả chúng ta, là
những kẻ đáng chết, được giao ḥa trong Đức Kitô, Thiên Chúa đă đưa ra một
kế hoạch tràn đầy t́nh yêu là sai Con ḿnh đến phó ḿnh chịu chết v́
những kẻ tội lỗi. Cái chết của Đức Kitô đă được loan báo trong Cựu Ước,
đặc biệt như hy tế của Người Tôi Tớ chịu đau khổ, và đă xảy ra “theo như
lời Thánh Kinh.”
119. Đức Kitô đă dâng hiến
ḿnh cho Chúa Cha như thế nào ?
606-609
620
Đức Kitô đă tự do dâng
hiến ḿnh cho Chúa Cha, để chu toàn ư định cứu độ. Người đă trao ban sự
sống “làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45). Nhờ đó, Người giao ḥa
toàn thể nhân loại với Thiên Chúa. Sự đau khổ và cái chết của Người cho
thấy nhân tính của Người là dụng cụ tự do và hoàn hảo để Thiên Chúa, Đấng
muốn cứu độ mọi người, thể hiện t́nh yêu của Ngài.
120.
Việc dâng hiến của Chúa Giêsu
được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly ?
610-611
621
Trong Bữa Tiệc Ly với
các Tông đồ vào buổi tối truớc cuộc Khổ nạn, Chúa Giêsu đă tham dự trước,
nghĩa là Người ám chỉ và thực hiện trước, việc tự nguyện dâng hiến chính
ḿnh : “Đây là Ḿnh Thầy bị nộp v́ anh em” (Lc 22,19); “Đây là Máu Thầy,
máu đổ ra…” (Mt 26,28). Như thế, Người vừa thiết lập Bí tích Thánh Thể như
việc “tưởng nhớ” (1 Cr 11,25) đến hy tế của Người, vừa thiết lập các Tông
đồ của Người thành những tư tế của Giao ước mới.
121. Điều ǵ đă xảy ra trong
cơn hấp hối nơi vườn Giếtsêmani ?
612
Mặc dầu nhân tính rất
thánh của Đấng là “Tác giả sự sống” (Cv 3,15) đă khiếp sợ sự chết, nhưng ư
chí nhân loại của Con Thiên Chúa vẫn tùng phục thánh ư Chúa Cha : để cứu
độ chúng ta, Chúa Giêsu chấp nhận gánh lấy tội lỗi chúng ta trong thân xác
ḿnh, Người “vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết” (Pl 2,8).
122. Hiệu quả hy tế của
Đức Kitô trên thập giá là ǵ ?
613-617
622-623
Chúa Giêsu tự nguyện
hiến dâng mạng sống ḿnh làm hy lễ đền tội, nghĩa là Người sửa lại tội lỗi
chúng ta bằng sự vâng phục trọn vẹn của Người v́ t́nh yêu cho đến chết.
T́nh “Yêu thương đến cùng” (Ga 13,1) của Con Thiên Chúa đă giao ḥa toàn
thể nhân loại với Thiên Chúa. Như vậy, Hy lễ Vượt qua của Đức Kitô cứu
chuộc mọi người cách độc nhất vô nhị, hoàn hảo và tối hậu, và mở lối cho
họ vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.
123. Tại sao Chúa Giêsu kêu
gọi các môn đệ vác lấy thập giá của họ ?
618
Khi kêu gọi các môn đệ
vác thập giá ḿnh mà theo Người, Chúa Giêsu muốn những người đầu tiên
hưởng nhờ hy tế cứu độ của Người được kết hợp vào hy tế ấy.
124. Thân xác của Chúa Giêsu
ở trong t́nh trạng nào khi Người nằm trong mồ ?
624-630
Đức Kitô đă chết thật
sự và đă được mai táng thật sự. Nhưng quyền năng Thiên Chúa đă ǵn giữ
thân xác Người khỏi bị hư nát.
“ĐỨC
GIÊSU KITÔ XUỐNG NGỤC TỔ TÔNG,
NGÀY THỨ
BA BỞI TRONG KẺ CHẾT MÀ SỐNG LẠI”
125. “Ngục tổ tông” mà Chúa
Giêsu đi xuống là ǵ ?
632-637
“Ngục tổ tông” – khác
với hỏa ngục của án phạt – là t́nh trạng của những người chết trước thời
của Chúa Giêsu, dù họ lành thánh hay xấu xa. Với linh hồn được kết hợp với
Ngôi vị thần linh, Chúa Giêsu xuống với những kẻ công chính trong ngục tổ
tông, là những người đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc họ, để cuối cùng họ có
thể đạt được sự hưởng kiến Thiên Chúa. Sau khi nhờ cái chết của Người,
Chúa Giêsu đă chiến thắng cả sự chết lẫn ma quỉ là “lănh chúa của sự chết”
(Dt 2,14), Người giải thoát những người công chính đang mong chờ Đấng Cứu
Chuộc, và Người mở cửa trời cho họ.
126. Cuộc Phục sinh của Chúa
Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta ?
631,638
Cuộc Phục sinh là chân
lư cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Đức Kitô. Với thập giá, cuộc Phục
sinh là phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt qua.
127. Những “dấu chỉ” nào làm
chứng cho cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu ?
639-644
656-657
Ngoài dấu chỉ chính yếu
là mồ trống, cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu được làm chứng bởi một số phụ
nữ ; họ là những người đầu tiên đă gặp gỡ Người và đă báo tin cho các
Tông đồ. Tiếp đó, Chúa Giêsu đă “hiện ra với Kêpha” (tức là thánh Phêrô),
rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đă hiện ra cùng một lúc với hơn năm
trăm anh em (1 Cr 15,5-6) và c̣n nhiều người khác nữa. Các Tông đồ đă
không thể bày đặt ra chuyện Phục sinh, v́ Phục sinh đối với họ là chuyện
không thể có được. Quả thật, Chúa Giêsu cũng đă trách cứ sự cứng ḷng tin
của họ.
128. Tại sao Phục sinh cũng
là một biến cố siêu việt ?
647
656-657
Tuy là một sự kiện mang
tính lịch sử, có thể xác định và chứng thực qua các dấu chỉ và chứng cớ,
nhưng v́ là việc nhân tính của Đức Kitô bước vào vinh quang của Thiên
Chúa, nên Phục sinh cũng siêu việt và vượt quá lịch sử, thực sự là Mầu
nhiệm đức tin. Chính v́ thế, Đức Kitô Phục sinh không tỏ ḿnh ra cho thế
gian, nhưng chỉ cho các môn đệ Người, làm cho họ trở thành những chứng
nhân của Người trước mặt dân chúng.
129. Thân xác phục sinh của
Chúa Giêsu ở trong t́nh trạng nào ?
645-646
Sự Phục sinh của Đức
Kitô không phải là một cuộc trở lại đời sống trần thế. Thân xác phục sinh
của Người, cũng chính là thân xác đă chịu đóng đinh, và vẫn mang vết tích
của cuộc khổ nạn, nhưng từ lúc Phục sinh, thân xác này được tham dự vào
đời sống thần linh với những đặc điểm của một thân xác vinh hiển. V́ thế,
Đức Giêsu Kitô Phục sinh tuyệt đối tự do khi hiện ra với các môn đệ Người,
theo cách thức và nơi chốn như Người muốn, dưới nhiều h́nh dạng khác nhau.
130. Sự Phục sinh là công
tŕnh của Ba Ngôi Cực Thánh theo cách nào ?
648-650
Sự Phục sinh của Đức
Kitô là một hành động siêu việt của Thiên Chúa. Cả Ba Ngôi cùng hoạt động
chung theo tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi : Chúa Cha bày tỏ quyền năng
của ḿnh; Chúa Con “lấy lại” sự sống mà Người đă tự do dâng hiến (Ga
10,17) bằng cách kết hợp linh hồn và thân xác ḿnh, mà Chúa Thánh Thần làm
cho sống động và tôn vinh.
131. Đâu là ư nghĩa và ảnh
hưởng của cuộc Phục sinh đối với ơn cứu độ ?
651-655
658
Phục sinh là chóp đỉnh
của mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Đức Kitô cũng như tất cả
những ǵ Người đă làm và đă giảng dạy. Cuộc Phục sinh thực hiện tất cả các
lời hứa của Thiên Chúa v́ lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Đấng Phục sinh,
Đấng chiến thắng tội lỗi và cái chết, là nguyên lư cho việc công chính hóa
và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục sinh mang lại cho
chúng ta ơn được làm nghĩa tử Thiên Chúa, khiến chúng ta được thực sự tham
dự vào sự sống của Con duy nhất, Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được
sống lại vào ngày tận thế.
“CHÚA
GIÊSU LÊN TRỜI
NGỰ BÊN
HỮU ĐỨC CHÚA CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG”
132. Việc Đức Kitô lên trời
có ư nghĩa ǵ ?
659-667
Trong ṿng bốn mươi
ngày, Đức Kitô hiện ra với các tông đồ dưới h́nh dạng con người b́nh
thường, che giấu vinh quang của Đấng Phục sinh, sau đó Người lên trời và
ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Người là Chúa, từ nay với nhân tính của Người,
Người cai trị trong vinh quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa và không ngừng
chuyển cầu cho chúng ta nơi Thiên Chúa Cha. Người cử Thánh Thần của Người
đến với chúng ta và ban cho chúng ta niềm hy vọng một ngày kia sẽ được
theo Ngườiù, đến nơi Người đă dọn sẵn cho chúng ta.
“NGÀY SAU
BỞI TRỜI
LẠI XUỐNG
PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT”
133. Hiện tại, Chúa Giêsu
thống trị như thế nào ?
668-674
680
Là Đức Chúa của vũ trụ
và lịch sử, là Thủ lănh Hội thánh của Người, Đức Kitô vinh hiển vẫn hiện
diện một cách mầu nhiệm trên trần gian, nơi Vương quốc của Người đă hiện
diện như hạt giống và đă khởi đầu trong Hội thánh. Một ngày kia, Người sẽ
trở lại trong vinh quang, nhưng chúng ta không biết được ngày nào giờ nào.
V́ thế, chúng ta sống tỉnh thức trong cầu nguyện : “Lạy Chúa, xin hăy đến”
(Kh 22,20).
134. Việc Chúa ngự đến trong
vinh quang sẽ diễn ra như thế nào ?
675-677
680
Sau cơn rung chuyển
cuối cùng trong vũ trụ của thế giới sẽ qua đi này, Đức Kitô sẽ ngự đến
vinh quang với chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa trong cuộc quang lâm
và với cuộc phán xét cuối cùng. Như thế Nước Thiên Chúa sẽ được
hoàn thành.
135. Đức Kitô sẽ phán xét kẻ
sống và kẻ chết như thế nào ?
678-679
681-682
Đức Kitô sẽ phán xét
với quyền năng mà Người đă thu nhận được như Đấng Cứu Chuộc trần gian, đă
đến để cứu độ loài người. Những điều kín nhiệm trong tâm hồn cũng như thái
độ của mỗi người đối với Thiên Chúa và tha nhân sẽ được tỏ ra. Mỗi người
sẽ đón nhận sự sống hay bị kết án đời đời tùy theo các công việc họ đă
làm. Như thế “sự viên măn của Đức Kitô” (Ep 4,13) được thành tựu, trong đó
“Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).
CHƯƠNG BA
“TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN”
136. Hội thánh muốn nói ǵ
khi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần” ?
683-686
Tin vào Chúa Thánh Thần
là tuyên xưng rằng Ngài là Ngôi Thứ Ba của Ba Ngôi Cực Thánh; Ngài xuất
phát từ Chúa Cha và Chúa Con, và Ngài “được phụng thờ và tôn vinh cùng với
Chúa Cha và Chúa Con”. Chúa Thánh Thần được “sai đến . . . trong ḷng
chúng ta” (Gl 4,6) để chúng ta có thể nhận lănh sự sống mới như những
người con của Thiên Chúa.
137. Tại sao sứ vụ của Chúa
Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau ?
687-690
742-743
Trong Ba Ngôi không thể
phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không
tách rời nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa
Cha sai Con Ngài, th́ cũng sai Thánh Thần của ḿnh, Đấng kết hợp chúng ta
với Đức Kitô trong đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể
gọi Thiên Chúa là “Cha” (Rm 8,15). Chúa Thánh Thần vô h́nh, nhưng chúng ta
nhận ra Ngài qua tác động của Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng
ta và khi Ngài hoạt động trong Hội thánh.
138. Những tên gọi khác của
Chúa Thánh Thần là ǵ ?
691-693
“Chúa Thánh Thần” là
Danh xưng của Ngôi Ba. Đức Kitô cũng gọi Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi
(Parakletos - Trạng sư) và Thần Chân Lư. Tân Ước c̣n gọi Ngài là Thánh
Thần của Đức Kitô, của Đức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh
quang, Thánh Thần của Lời hứa.
139. Những biểu tượng về Chúa
Thánh Thần là ǵ ?
694-701
Có rất nhiều biểu tượng
về Chúa Thánh Thần : nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm
thâu của Đức Kitô và giải cơn khát cho những người đă được Rửa tội; việc
xức dầu, đó là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức; lửa biến đổi
tất cả những ǵ lửa bén tới; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong
đó vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện; việc đặt tay thông ban Chúa
Thánh Thần; chim bồ câu đă ngự xuống và ở lại trên Đức Kitô lúc
Người chịu phép rửa.
140. “Chúa Thánh Thần đă dùng
các tiên tri mà phán dạy” nghĩa là ǵ ?
687-688
702-706
743
Từ “Các tiên tri”
ở đây được dùng để chỉ những người được Chúa Thánh Thần linh ứng để họ
nói nhân danh Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đă làm cho các lời tiên tri
trong Cựu Ước được ứng nghiệm hoàn toàn nơi Đức Kitô; cũng chính Chúa
Thánh Thần mạc khải mầu nhiệm Đức Kitô trong Tân Ước.
141. Hoạt động của Chúa Thánh
Thần nơi thánh Gioan Tẩy Giả như thế nào ?
717-720
Chúa Thánh Thần đổ tràn
trên thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Dưới tác động
của Thánh Thần, ông được sai đi để “chuẩn bị một dân cho Chúa” (Lc 1,17)
và để loan báo việc Đức Kitô, Con Thiên Chúa, ngự đến ; đó là Đấng mà ông
đă thấy Thánh Thần ngự xuống và ở lại trên Người, Đấng “sẽ làm phép rửa
trong Thánh Thần” (Ga 1,33).
142. Đâu là công tŕnh của
Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria ?
721-726
744
Mọi mong chờ việc Đức
Kitô đến và sự chuẩn bị cho Người trong Cựu Ước được Chúa Thánh Thần hoàn
thành tất cả nơi Đức Maria. Một cách độc nhất vô nhị, Chúa Thánh Thần đă
đổ tràn ân sủng trên Đức Maria và làm cho đức trinh khiết của Mẹ nên phong
phú, để Mẹ sinh hạ Người Con của Thiên Chúa trong thân xác. Chúa Thánh
Thần đă làm cho Đức Maria trở thành Mẹ của “Đức Kitô toàn thể,” nghĩa là
của Đức Kitô là Đầu và của Hội thánh là thân thể Người. Đức Maria hiện
diện giữa nhóm Mười Hai ngày lễ Hiện Xuống, khi Thánh Thần khai mở “thời
đại cuối cùng” với việc xuất hiện của Hội thánh.
143. Trong sứ vụ trần thế,
Đức Giêsu Kitô có liên hệ ǵ với Chúa Thánh Thần ?
727-730
745-746
Từ khi nhập thể, Con
Thiên Chúa được thánh hiến trở thành Đức Kitô trong nhân tính của Người
nhờ việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần. Đức Kitô mạc khải Chúa Thánh Thần
trong giáo huấn của Người, hoàn thành lời hứa đă được ban cho các tổ phụ.
Người trao ban Thánh Thần cho Hội thánh vừa khai sinh khi thổi hơi trên
các Tông đồ sau khi Người Phục sinh.
144. Điều ǵ dă xảy ra trong
ngày lễ Ngũ tuần ?
731-732
738
Năm mươi ngày sau cuộc
Phục sinh, vào lễ Ngũ tuần, Đức Giêsu Kitô vinh hiển đă đổ tràn Thánh Thần
và mạc khải Ngài là một Ngôi Vị Thiên Chúa, qua đó Ba Ngôi cực thánh được
mạc khải trọn vẹn. Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ
vụ của Hội thánh, được sai đi công bố và loan truyền mầu nhiệm hiệp thông
của Chúa Ba Ngôi.
“Chúng con đă thấy ánh sáng thật, chúng con đă lănh nhận Thánh Thần
Thiên Chúa, chúng con đă t́m được đức tin chân chính : chúng con tôn thờ
Ba Ngôi bất khả phân ly, v́ chính Ba Ngôi đă cứu độ chúng con” (Phụng
vụ Byzantin, Điệp ca lễ Hiện Xuống).
145. Chúa Thánh Thần làm ǵ
trong Hội thánh ?
733-741
747
Chúa Thánh Thần xây
dựng, linh hoạt và thánh hóa Hội thánh : Là Thánh Thần T́nh Yêu, Ngài làm
cho những người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội nhận lại được ơn giống Thiên
Chúa đă bị đánh mất v́ tội lỗi; Ngài giúp họ sống trong Đức Kitô bằng
chính Sự sống của Ba Ngôi cực thánh. Người sai họ đi làm chứng cho Chân lư
của Đức Kitô và cắt đặt họ vào trong các phận vụ hỗ tương, để mọi người
đem lại “hoa trái của Thánh Thần” (Ga 5,22).
146. Đức Kitô và Thánh Thần
của Người hoạt động như thế nào trong tâm hồn các tín hữu ?
738-741
Nhờ các Bí tích,
Đức Kitô thông truyền Thánh Thần của Người và ân sủng của Thiên Chúa cho
các chi thể trong thân thể Người. Ân sủng này mang lại hoa trái của đời
sống mới theo Thánh Thần. Cuối cùng, Thánh Thần là Thầy dạy cầu
nguyện.
“TÔI TIN
CÓ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO”
Hội thánh trong kế hoạch của Thiên Chúa
147. Hai tiếng Hội
thánh có nghĩa là ǵ ?
751-752
777, 804
Hội thánh là dân được
Thiên Chúa kêu gọi và qui tụ từ khắp nơi trên thế giới, gồm những người,
nhờ đức tin và Bí tích Rửa tội, trở thành con cái Thiên Chúa, chi thể của
Đức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần.
148. Trong Thánh
Kinh, có những danh hiệu và h́nh ảnh nào khác để chỉ Hội thánh không ?
753-757
Trong Thánh Kinh chúng
ta t́m thấy nhiều h́nh ảnh làm nổi bật những phương diện khác nhau của mầu
nhiệm Hội thánh. Cựu Ước dành ưu tiên cho những h́nh ảnh liên kết với
dân Thiên Chúa ; Tân Ước bằng những h́nh ảnh gắn liền với Đức Kitô như
là đầu và dân là chi thể của Người; cũng có những h́nh ảnh khác rút từ đời
sống thôn quê (chuồng chiên, đàn chiên, con chiên), đời sống đồng áng
(ruộng vườn, cây Ôliu, vườn nho), từ nhà cửa (nhà ở, viên đá, đền thờ) và
từ cuộc sống gia đ́nh (người vợ, người mẹ, gia đ́nh).
149. Đâu là khởi đầu
và hoàn thành của Hội thánh ?
758-766
778
Cả khởi đầu và sự hoàn
thành của Hội thánh đều nằm trong kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hội
thánh đă được chuẩn bị trong Giao ước cũ qua việc tuyển chọn Israel, dấu
chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Hội thánh được
đặt nền tảng trên lời nói và việc làm của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt được
hiện thực nhờ cái chết và cuộc phục sinh cứu độ của Người. Rồi Hội thánh
được tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ bằng việc tuôn đổ Thánh Thần trong ngày
lễ Hiện xuống. Hội thánh sẽ hoàn thành vào ngày tận thế như cuộc tập họp
thiên quốc của tất cả những người được cứu chuộc.
150. Sứ mạng của Hội
thánh là ǵ ?
767-769
Sứ mạng của Hội thánh
là rao truyền Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô đă khởi đầu và thiết lập
Nước ấy giữa mọi dân tộc. Hội thánh thiết lập trên trái đất mầm giống và
khởi điểm của Vương quốc cứu độ này.
151. Hội thánh là
mầu nhiệm theo nghĩa nào ?
770-773
779
Hội thánh là mầu nhiệm
bởi v́, trong thực tại hữu h́nh của ḿnh, Hội thánh diễn tả và thực hiện
một thực tại thiêng liêng, thần linh, chỉ có thể nhận ra bằng con mắt đức
tin.
152. “Hội thánh là
bí tích phổ quát của ơn cứu độ” có nghĩa là ǵ ?
774-776
780
Câu này muốn nói Hội
thánh là dấu chỉ và khí cụ cho việc giao ḥa và hiệp thông toàn thể nhân
loại với Thiên Chúa cũng như cho sự hợp nhất nhân loại.
Hội Thánh : Dân Thiên Chúa, Thân thể Đức
Kitô, Đền thờ Chúa Thánh Thần
153. Tại sao Hội
thánh là Dân Thiên Chúa ?
781
802-804
Hội thánh là Dân Thiên
Chúa, bởi v́ Ngài muốn thánh hóa và cứu độ mọi người không phải cách riêng
rẽ, nhưng thiết lập họ thành một Dân duy nhất, được qui tụ trong sự hợp
nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
154. Đâu là những
đặc tính của Dân Thiên Chúa ?
782
Dân Thiên Chúa mà chúng
ta là thành phần nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ Bí tích Rửa tội, có
cội nguồn là Thiên Chúa Cha, có Thủ lănh là Đức Giêsu
Kitô, có địa vị là phẩm giá và sự tự do của con cái Thiên Chúa, có
Lề luật là giới răn mới của t́nh yêu, có sứ vụ là trở thành
muối và ánh sáng của thế giới, có cùng đích là Nước Thiên Chúa, đă
được khởi đầu trên trần thế.
155. Dân Thiên Chúa thông dự như thế nào vào ba phận vụ của Đức Kitô
là Tư tế, là Tiên tri và là Vương đế ?
783-786
Dân Thiên Chúa được dự
phần vào phận vụ Tư tế của Đức Kitô, v́ các người Kitô hữu được
Chúa Thánh Thần thánh hiến để dâng các hy lễ thiêng liêng. Họ được tham dự
vào phận vụ Tiên tri v́, nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, họ
gắn bó cách dứt khoát với đức tin, đào sâu để hiểu biết đức tin và trở
thành chứng nhân cho đức tin. Họ được tham dự vào phận vụ là Vương đế
qua việc phục vụ, noi gương Đức Kitô Giêsu, Vua vũ trụ, Đấng tự trở thành
tôi tớ cho mọi người, nhất là cho những người nghèo túng và đau khổ.
156. Hội thánh là
Thân thể của Đức Kitô theo cách nào ?
787-791
805-806
Nhờ Chúa Thánh Thần,
Đức Kitô, đă chết và đă phục sinh, kết hợp các tín hữu với chính Người một
cách mật thiết. Như thế những ai tin vào Đức Kitô, v́ được kết hợp chặt
chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, th́ cũng kết hợp với nhau
nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Hội thánh, hợp nhất với
nhau trong sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ.
157. Ai là đầu của
thân thể này ?
792-795
807
Đức Kitô là “Đầu của
thân thể, nghĩa là của Hội thánh” (Cl 1,18). Hội thánh sống nhờ Người,
trong Người và cho Người. Đức Kitô và Hội thánh tạo thành “Đức Kitô toàn
thể” (thánh Augustinô). “Có thể nói được là, Đầu và các chi thể làm nên
cùng một con người huyền nhiệm” (Thánh Tôma Aquinô).
158. Tại sao Hội
thánh được gọi là Hôn thê của Đức Kitô ?
796
808
Hội thánh được gọi là
Hôn thê của Đức Kitô bởi v́ chính Chúa đă tự xưng là “Hôn phu” (Mc 2,19),
Đấng đă yêu thương Hội thánh, đă kết ước với Hội thánh bằng một Giao ước
vĩnh cửu. Người đă phó nộp ḿnh v́ Hội thánh, để thanh tẩy Hội thánh bằng
Máu của Người, để làm cho Hội thánh “trở nên thánh thiện” (Ep 5,26) và làm
cho Hội thánh thành mẹ của tất cả các con cái của Thiên Chúa. Nếu hai chữ
“Thân thể” cho thấy sự hợp nhất giữa “Đầu” và các chi thể, th́ hai chữ
“Hôn thê” làm nổi bật sự phân biệt giữa đôi bên trong một quan hệ liên
vị.
159. Tại sao Hội thánh được gọi là Đền
thờ Chúa Thánh Thần ?
797-798
809-810
Bởi v́ Chúa Thánh Thần
ngự trong thân thể là Hội thánh, trong “Đầu” và trong “các chi thể” của
Hội thánh; hơn nữa, Ngài xây dựng Hội thánh trong đức mến, nhờ Lời Chúa,
các Bí tích, các nhân đức và các đặc sủng.
“Linh hồn tương quan với chi thể thế nào th́ Chúa Thánh Thần cũng như
thế đối với các chi thể của Đức Kitô và thân thể Người là Hội thánh.”
(Thánh Augustinô).
160. Đặc sủng là ǵ ?
799-801
Đặc sủng là những ân
huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần được ban tặng cho một số người v́ lợi ích
của con người, v́ những nhu cầu của thế giới và đặc biệt là để xây dựng
Hội thánh. Chỉ có Huấn quyền của Hội thánh mới có thẩm quyền nhận định các
đặc sủng.
Hội thánh Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo
và Tông truyền
161. Tại sao Hội thánh có đặc
tính duy nhất ?
813-815
866
Hội thánh có đặc tính
là duy nhất, v́ Hội thánh có nguồn gốc và khuôn mẫu là sự duy nhất
của một Thiên Chúa trong Ba Ngôi; có Đấng sáng lập và làm Đầu là Đức Giêsu
Kitô, Đấng qui tụ mọi dân tộc trong sự duy nhất của một thân thể ; có Chúa
Thánh Thần như linh hồn, Đấng hợp nhất tất cả các tín hữu vào sự hiệp
thông trong Đức Kitô. Hội thánh có cùng một đức tin, một đời sống Bí tích,
một chuỗi kế nhiệm tông truyền duy nhất, cùng một niềm hy vọng chung và
cùng một đức mến.
162. Hội thánh duy nhất của
Đức Kitô tồn tại ở đâu ?
816
870
Với tính cách là một
cộng đoàn được thiết lập và tổ chức ở trần gian, Hội thánh duy nhất của
Đức Kitô tồn tại (subsistit in) trong Hội thánh Công giáo, được
điều hành do vị kế nhiệm thánh Phêrô và do các Giám mục hiệp thông với
ngài. Chỉ nhờ Hội thánh này người ta mới có thể đạt được cách đầy đủ các
phương tiện cứu độ, v́ Chúa đă trao phó tất cả những ǵ thiện hảo của Giao
ước Mới cho tập thể tông đồ duy nhất, có thánh Phêrô đứng đầu.
163. Phải nh́n các người Kitô
hữu không thuộc công giáo như thế nào ?
817-819
Trong các Giáo hội và
các Cộng đoàn giáo hội , đă tách rời khỏi sự hiệp thông trọn vẹn với Hội
thánh Công giáo, chúng ta cũng gặp được nhiều yếu tố thánh hóa và chân lư.
Tất cả các yếu tố này xuất phát từ Đức Kitô và đều hướng đến sự hợp nhất
công giáo. Các thành viên của các Giáo hội và các cộng đoàn này được hội
nhập vào Đức Kitô nhờ Bí tích Rửa tội; v́ vậy chúng ta nh́n nhận họ như
anh em.
164. Làm thế nào để dấn thân
cho sự hợp nhất ?
820-822
866
Ḷng khao khát muốn tái
lập sự hợp nhất giữa tất cả các người Kitô hữu là một hồng ân của Đức Kitô
và là một lời kêu gọi của Chúa Thánh Thần. Khao khát này liên quan đến
toàn thể Hội thánh và được thực hiện bằng việc sám hối tận đáy ḷng, cầu
nguyện, nh́n nhận lẫn nhau là anh em và đối thoại thần học.
165. Hội thánh có đặc tính là
thánh thiện theo nghĩa nào ?
823-829
867
Hội thánh có đặc tính
thánh thiện, v́ Thiên Chúa chí thánh là tác giả của Hội thánh. Đức
Kitô đă tự nộp ḿnh v́ Hội thánh, để thánh hóa Hội thánh và làm cho Hội
thánh có khả năng thánh hóa. Chúa Thánh Thần ban sự sống cho Hội thánh
bằng t́nh yêu. Trong Hội thánh có tất cả các phương tiện cứu độ. Sự thánh
thiện là ơn gọi của từng người trong Hội thánh và là mục đích của mọi hoạt
động của Hội thánh. Trong Hội thánh có Đức Trinh Nữ Maria và rất nhiều vị
thánh là gương mẫu và là những đấng chuyển cầu cho Hội thánh. Sự thánh
thiện của Hội thánh là suối nguồn cho sự thánh hóa các con cái ḿnh, những
người đang sống trên trần gian, tất cả đều tự nhận ḿnh là kẻ tội lỗi và
luôn cần sám hối và thanh tẩy.
166. Tại sao Hội thánh được
gọi là công giáo ?
830-831
868
Hội thánh có đặc tính
là công giáo, nghĩa là phổ quát, v́ Đức Kitô hiện diện trong
Hội thánh. “Ở đâu có Đức Kitô Giêsu, ở đó có Hội thánh Công giáo” (Thánh
Inhaxiô Antiôkia). Hội thánh loan báo sự toàn diện và toàn vẹn của đức
tin. Hội thánh ǵn giữ và quản lư tất cả các phương tiện cứu độ. Hội thánh
được sai đến với mọi dân tộc ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa của họ.
167. Giáo hội địa
phương có phải công giáo không ?
832-835
Mỗi Giáo hội địa
phương (nghĩa là một giáo phận hoặc giáo khu) đều là công giáo, được
h́nh thành bởi cộng đoàn các người Kitô hữu, cùng hiệp thông trong đức tin
và trong các Bí tích với Giám mục của họ, là người được tấn phong trong
chuổi kế nhiệm tông truyền, và với Giáo hội Rôma là giáo hội “đứng đầu về
mặt đức ái” (thánh Ignatio Antiôkia).
168. Ai thuộc về Hội
thánh Công giáo ?
836-838
Tất cả mọi người, dưới
nhiều h́nh thức khác nhau, đều thuộc về hay hướng đến sự hợp nhất công
giáo của dân Thiên Chúa. Người hoàn toàn thuộc về Hội thánh Công giáo là
người, nhận được Thánh Thần của Đức Kitô, kết hợp với Hội thánh bằng các
dây liên kết là việc tuyên xưng đức tin, các Bí tích, sự hướng dẫn của
giáo phẩm và sự hiệp thông. Những người đă được Rửa tội nhưng không thực
hiện đầy đủ sự hợp nhất công giáo th́ cũng hiệp thông một cách nào đó, tuy
là hiệp thông không trọn vẹn, với Hội thánh Công giáo.
169. Hội thánh Công
giáo liên hệ với dân Do Thái như thế nào ?
839-840
Hội Thánh Công giáo
công nhận liên hệ của ḿnh với dân Do Thái v́ Thiên Chúa đă tuyển chọn dân
này, trước tất cả mọi dân khác, để đón nhận Lời Ngài. Chính dân Do Thái
“được Thiên Chúa nhận làm con, được Ngài cho thấy vinh quang, ban tặng các
Giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ
phụ, và chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một ṇi giống với
họ” (Rm 9,4-5). Khác với các tôn giáo khác không thuộc Kitô giáo, đức tin
Do Thái đă là lời đáp trả cho Mạc khải của Thiên Chúa trong Giao Ứơc Cũ.
170. Liên hệ giữa
Hội thánh Công giáo với các tôn giáo ngoài Kitô giáo như thế nào ?
841-845
Trước hết, đó là mối
liên hệ về nguồn gốc và cứu cánh chung của toàn thể nhân loại. Hội thánh
Công giáo nh́n nhận những ǵ tốt lành và chân thật trong các tôn giáo khác
đều xuất phát từ Thiên Chúa. Đó là một tia phản chiếu chân lư của Ngài.
Điều này có thể chuẩn bị cho việc đón nhận Tin Mừng và thúc đẩy đến sự hợp
nhất nhân loại trong Hội thánh của Đức Kitô.
171.Câu khẳng định
“Ngoài Hội thánh không có ơn cứu độ” có nghĩa ǵ ?
846-848
Câu này muốn nói rằng
ơn cứu độ xuất phát từ Đức Kitô-là-Đầu thông qua trung gian là Hội thánh,
thân thể Người. Những ai biết rằng Hội thánh được Đức Kitô thiết lập và
cần thiết cho ơn cứu độ mà không muốn bước vào hay không muốn gắn bó với
Hội thánh, th́ sẽ không được cứu độ. Ngoài ra, nhờ Đức Kitô và Hội thánh
Người, những người, không v́ lỗi ḿnh mà không biết Tin Mừng của Đức Kitô
và Hội thánh Người, nhưng chân thành đi t́m Thiên Chúa và dưới ảnh hưởng
của ân sủng, cố gắng thực hiện ư Thiên Chúa qua sự hướng dẫn của lương
tâm, vẫn có thể đạt được ơn cứu độ muôn đời.
172. Tại sao Hội
thánh phải loan truyền Tin Mừng cho toàn thế giới ?
849-851
Bởi v́ Đức Kitô đă
truyền cho Hội thánh : “Anh em hăy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho
họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Mệnh lệnh này của Chúa
có cội nguồn là t́nh yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng đă sai phái Con và
Thánh Thần Ngài, v́ Ngài “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân
lư” (1 Tm 2,4).
173. Thế nào là Hội
thánh truyền giáo ?
852-856
Được Chúa Thánh Thần
hướng dẫn, suốt ḍng lịch sử, Hội thánh tiếp tục sứ vụ của chính Đức Kitô.
V́ vậy, các người Kitô hữu phải loan báo cho mọi người Tin Mừng đă được
Đức Kitô mang đến, khi bước theo cùng một con đường như Người, tức là sẵn
sàng hy sinh, thậm chí đến chỗ tử đạo.
174. Tại sao Hội
thánh có đặc tính tông truyền ?
857
869
Hội thánh có đặc tính
tông truyền căn cứ vào nguồn gốc của ḿnh, v́ Hội thánh được “xây
dựng trên nền tảng các Tông đồ” (Ep 2,20); căn cứ vào giáo lư là giáo
huấn của các thánh Tông đồ; và căn cứ vào cơ cấu của ḿnh, v́
Hội thánh được xây dựng, thánh hóa và hướng dẫn cho đến ngày Chúa lại đến,
bởi các thánh Tông đồ, nhờ những vị kế nhiệm các ngài là các Giám mục hiệp
thông với vị kế nhiệm thánh Phêrô.
175. Sứ vụ của các
thánh Tông đồ hệ tại ở đâu ?
858-861
Tông đồ có nghĩa
là người được sai đi. Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến, đă kêu gọi
và tuyển chọn mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm Tông đồ của
Người, khi làm cho họ thành những chứng nhân cho cuộc Phục sinh của Người
và làm nền tảng cho Hội thánh của Người. Người truyền cho họ phải tiếp tục
sứ vụ của Người, khi Người nói với họ : “Như Chúa Cha đă sai Thầy, Thầy
cũng sai anh em” (Ga 20,21), và Người hứa ở với họ cho đến ngày tận thế.
176. Kế nhiệm tông
truyền là ǵ ?
861-865
Kế nhiệm tông truyền là
chuyển giao sứ vụ và quyền hạn của các Tông đồ cho những người kế vị các
ngài, là các Giám mục, qua Bí tích Truyền chức thánh. Chính nhờ việc
chuyển giao này mà Hội thánh vẫn duy tŕ được sự hiệp thông trong đức tin
và đời sống với nguồn gốc của ḿnh, trải qua bao thế kỷ, Hội thánh thực
hành việc tông đồ của ḿnh là làm lan toả Vương quốc của Đức Kitô trên
trần gian.
Các người Kitô hữu : phẩm trật, giáo dân,
đời sống thánh hiến
177. Các tín hữu là ai ?
871-872
Các tín hữu là những
người được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Bí tích Rửa tội, được trở nên thành
phần của dân Thiên Chúa. Trở thành những người được dự phần vào các phận
vụ Tư tế, Tiên tri và Vương đế của Đức Kitô, tùy theo điều kiện riêng của
ḿnh, họ được mời gọi thực thi sứ vụ được Thiên Chúa trao phó cho Hội
thánh. Giữa họ, có một sự b́nh đẳng thực sự do phẩm giá của họ là con cái
Thiên Chúa.
178. Dân Thiên Chúa được h́nh
thành như thế nào ?
873
934
Theo sự xếp đặt của
Thiên Chúa, trong Hội thánh có những thừa tác viên được hiến thánh,
đă được lănh nhận Bí tích Truyền chức thánh và tạo thành phẩm trật của Hội
thánh. Những người khác được gọi là giáo dân. Trong cả hai thành
phần này, có những tín hữu được thánh hiến một cách đặc biệt cho
Thiên Chúa qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm : khiết tịnh trong đời
sống độc thân, khó nghèo và vâng phục.
179. Tại sao Đức Kitô lại
thiết lập phẩm trật trong Hội thánh ?
874-876
935
Đức Kitô đă thiết lập
phẩm trật trong Hội thánh để chăn dắt dân Thiên Chúa nhân danh Người; và
v́ thế Người đă trao ban quyền hành cho họ. Phẩm trật bao gồm các thừa tác
viên đă được thánh hiến : các giám mục, linh mục, phó tế. Nhờ Bí tích
Truyền chức thánh, các Giám mục và linh mục, khi thực thi thừa tác vụ của
ḿnh, hoạt động nhân danh và trong cương vị của Đức Kitô-là-Đầu. Các Phó
tế phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ (diakonia) lời Chúa, Phụng
vụ và việc bác ái.
180. Chiều kích tập thể của
thừa tác vụ trong Hội thánh được thực hiện như thế nào?
877
Theo gương nhóm mười
hai Tông đồ, được Đức Kitô tuyển chọn và sai đi chung với nhau, sự kết hợp
của các thành phần phẩm trật trong Hội thánh là để phục vụ sự hiệp thông
của tất cả các tín hữu. Mỗi Giám mục thực thi thừa tác vụ của ḿnh như
thành viên của Giám mục đoàn, trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, dự
phần với ngài vào việc chăm lo cho Hội thánh phổ quát. Các linh mục thực
thi thừa tác vụ của ḿnh trong linh mục đoàn của Hội thánh địa phương
trong sự hiệp thông với Giám mục và dưới sự hướng dẫn của ngài.
181. Tại sao thừa tác vụ
trong Hội thánh cũng có đặc tính cá nhân ?
878-879
Thừa tác vụ trong Hội
thánh cũng có đặc tính cá nhân, bởi v́, nhờ hiệu năng của Bí tích Truyền
chức thánh, mỗi người đều chịu trách nhiệm trước Đức Kitô, Đấng đă kêu gọi
họ một cách cá nhân khi trao phó cho họ một sứ vụ.
182. Sứ vụ của Đức Giáo hoàng
là ǵ ?
881-882
936-937
Đức Giáo hoàng, vừa là
Giám mục Rôma vừa là vị kế nhiệm Thánh Phêrô, là nguyên lư và nền tảng
trường tồn và hữu h́nh cho sự hợp nhất của Hội thánh. Ngài là vị đại diện
Đức Kitô, đứng đầu Giám mục đoàn và là mục tử của toàn thể Hội thánh. V́
do Chúa thiết lập, ngài có quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ quát
trên Hội thánh.
183. Nhiệm vụ của Giám mục
đoàn là ǵ ?
883-885
Giám mục đoàn, hiệp
thông với Đức Giáo hoàng và luôn phải có ngài, cũng thực thi trên Hội
thánh một quyền tối cao và trọn vẹn.
184. Các Giám mục thực thi
sứ vụ giảng dạy của ḿnh như thế nào ?
888-890
939
Trong sự hiệp thông với
Đức Giáo hoàng, các Giám mục có bổn phận loan báo Tin Mừng cho mọi người
cách trung thành và có thẩm quyền. Với thẩm quyền của Đức Kitô, các ngài
là chứng nhân đích thực của đức tin tông truyền. Nhờ cảm thức siêu nhiên
của đức tin, Dân Thiên Chúa, được Huấn quyền sống động của Hội thánh hướng
dẫn, gắn bó cách kiên vững với đức tin.
185. Sự bất khả ngộ của Huấn
quyền thể hiện lúc nào ?
891
Sự bất khả ngộ thể hiện
khi Đức Giáo hoàng, căn cứ vào thẩm quyền là Mục tử tối cao của Hội thánh,
hay Giám mục đoàn trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng, nhất là khi các
ngài họp Công đồng chung, công bố một giáo lư có liên quan đến đức tin hay
luân lư bằng một hành động dứt khoát, hoặc khi Đức Giáo hoàng và các Giám
mục, trong Huấn quyền thông thường của các ngài, đồng thanh tuyên bố một
tín điều dứt khoát. Tất cả các tín hữu đều phải gắn bó với giáo huấn này
trong sự vâng phục đức tin.
186. Các Giám mục thực thi sứ
vụ thánh hóa như thế nào ?
893
Các Giám mục thánh hóa
Hội thánh khi trao ban ân sủng của Đức Kitô bằng việc rao giảng và cử hành
các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. Các ngài cũng thánh hóa Hội
thánh bằng lời cầu nguyện, gương mẫu và việc làm của ḿnh.
187. Các Giám mục thực thi sứ
vụ cai quản như thế nào ?
894-896
Mỗi Giám mục, với tư
cách là thành viên của Giám mục đoàn, phải quan tâm cách tập thể đối với
mọi Giáo hội địa phương và Hội thánh toàn cầu, trong sự hợp nhất với các
Giám mục khác kết hợp với Đức Giáo hoàng. Giám mục, được ủy thác một Giáo
hội địa phương, sẽ điều khiển Giáo hội ấy với thẩm quyền do chức thánh,
riêng biệt, thông thường và trực tiếp, nhân danh Đức Kitô, vị Mục tử Nhân
lành, trong sự hiệp thông với toàn thể Hội thánh và dưới sự dẫn dắt của
Đấng kế nhiệm thánh Phêrô.
188. Ơn gọi của người tín hữu
giáo dân là ǵ ?
897-900
940
Người tín hữu giáo dân
có ơn gọi riêng để t́m kiếm Nước Thiên Chúa, bằng việc soi sáng và sắp xếp
các thực tại trần gian theo ư muốn của Thiên Chúa. Làm như vậy là họ thực
hiện ơn gọi nên thánh và hoạt động tông đồ, một ơn gọi được trao ban cho
mọi người đă lănh Bí tích Rửa tội.
189. Người tín hữu giáo dân
tham gia vào sứ vụ tư tế của Đức Kitô như thế nào ?
901-903
Họ tham gia vào sứ vụ
tư tế này, khi dâng hiến – như hy lễ thiêng liêng “dâng lên Thiên Chúa nhờ
Đức Giêsu Kitô” ( 1 Pr 2,5), nhất là trong Thánh lễ – cuộc sống riêng của
họ, cùng với tất cả các hoạt động, lời cầu nguyện và dấn thân truyền giáo,
cuộc sống gia đ́nh và lao động hằng ngày, những khó khăn trong cuộc sống
mà họ chịu đựng cách kiên nhẫn và những lúc thư giăn thân xác và tinh
thần. Bằng cách đó, người giáo dân, dấn thân cho Đức Kitô và được Chúa
Thánh Thần thánh hiến, sẽ dâng lên Thiên Chúa cả thế giới.
190. Họ tham dự vào sứ vụ
tiên tri của Đức Kitô như thế nào ?
904-907
942
Họ tham dự vào sứ vụ
tiên tri này của Đức Kitô khi luôn đón nhận trong đức tin Lời của Đức Kitô
và loan báo Lời đó cho thế giới bằng chứng từ đời sống của họ, cũng như
qua lời nói, hoạt động rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lư. Việc rao giảng
Tin Mừng như vậy đạt được hiệu quả đặc biệt v́ việc này được thực hiện
trong các hoàn cảnh thông thường nơi trần thế.
191. Họ tham dự vào sứ vụ
Vương đế của Đức Kitô như thế nào ?
908-913
943
Người giáo dân tham dự
vào sứ vụ Vương đế của Đức Kitô khi đón nhận từ nơi Người quyền năng chiến
thắng tội lỗi, nơi chính họ và trong thế giới, qua việc từ bỏ bản thân và
sống đời sống thánh thiện. Họ thực hành nhiều tác vụ khác nhau để phục vụ
cộng đoàn và ghi dấu ấn trên các hoạt động trần thế của con người và các
cơ chế xă hội bằng giá trị luân lư.
192. Đời sống thánh hiến là
ǵ ?
914-916
944
Là một bậc sống được
Hội thánh công nhận. Đó là lời tự nguyện đáp trả tiếng gọi đặc biệt của
Đức Kitô, qua đó những người được thánh hiến hoàn toàn tự hiến cho Thiên
Chúa và hướng tới sự hoàn hảo của đức ái dưới tác động của Chúa Thánh
Thần. Đặc tính của sự thánh hiến là việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.
193. Đời sống thánh hiến đóng
góp ǵ cho sứ vụ của Hội thánh ?
931-933
945
Đời sống thánh hiến dự
phần vào sứ vụ của Hội thánh, bằng việc tự hiến trọn vẹn cho Đức Kitô và
các anh em của Người, khi làm chứng cho niềm hy vọng về Nước Trời.
TÔI TIN
CÁC THÁNH THÔNG CÔNG
194. “Các thánh thông công”
có ư nghĩa ǵ ?
946-953
960
Câu nói “các thánh
thông công” trước hết nói lên sự tham dự chung của tất cả các thành phần
Hội thánh vào những thực tại thánh (sancta) : đức tin, các Bí
tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, các đặc sủng và những ân huệ thiêng
liêng khác. Cội nguồn của sự hiệp thông là đức ái “không t́m tư lợi” (1 Cr
13,5), nhưng thúc đẩy các tín hữu đặt “mọi sự là của chung” (Cv 4,32), kể
cả của cải vật chất của họ, nhằm phục vụ những người nghèo khổ hơn.
195. Câu nói “các thánh thông
công” c̣n mang ư nghĩa nào khác nữa ?
954-959
961-962
Câu này c̣n nói lên sự
hiệp thông giữa những người thánh (sancti), nghĩa là những ai, nhờ
ân sủng, được kết hợp với Đức Kitô chịu chết và sống lại. Một số c̣n lữ
hành trên trần gian; một số khác, đă rời bỏ đời này, hiện đang được thanh
luyện, và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau hết,
một số khác nữa, đă được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu
cho chúng ta. Tất cả cùng nhau làm thành một gia đ́nh duy nhất trong Đức
Kitô, là Hội thánh, để ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.
Đức Maria : Mẹ Đức Kitô, Mẹ Hội thánh
196. Đức Trinh Nữ Maria diễm
phúc là Mẹ Hội thánh theo nghĩa nào ?
963-966
973
Đức Trinh Nữ Maria diễm
phúc là Mẹ Hội thánh trong trật tự ân sủng bởi v́ Mẹ đă sinh ra Chúa
Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đầu của Thân Thể Người là Hội thánh. Khi sắp
chết trên thánh giá, Chúa Giêsu đă trối Đức Maria làm mẹ của môn đệ Người
bằng những lời này : “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,27).
197. Đức Maria trợ giúp Hội
thánh như thế nào ?
967-970
Sau khi Con ḿnh về
trời, Đức Maria đă giúp đỡ Hội thánh lúc khởi đầu bằng lời cầu nguyện, và
cả sau khi đă được lên trời, Mẹ vẫn tiếp tục chuyển cầu cho con cái ḿnh,
vẫn là mẫu gương cho mọi người về đức tin và đức ái, tạo ảnh hưởng cứu độ
trên họ, ảnh hưởng này xuất phát từ sự dư đầy các công nghiệp của Đức
Kitô. Các tín hữu nh́n Mẹ như nguyên ảnh và sự tham dự trước vào cuộc phục
sinh đang chờ đón họ ; họ kêu cầu Mẹ dưới các tước hiệu là Trạng sư, Đấng
phù trợ, Đấng bảo trợ và Đấng trung gian.
198. Đức Trinh Nữ rất thánh
được tôn kính như thế nào ?
971
Mẹ được sùng kính cách
đặc biệt, nhưng khác hẳn với việc tôn thờ chỉ dành riêng cho Ba Ngôi cực
thánh. Việc sùng kính đặc biệt này được diễn tả một cách độc đáo trong các
ngày lễ phụng vụ dành kính Mẹ Thiên Chúa cũng như trong các kinh nguyện
tôn kính Đức Mẹ, như kinh Mân Côi, được xem là bản tóm lược toàn bộ Tin
Mừng.
199.
Đức Trinh nữ Maria diễm phúc là
h́nh ảnh cánh chung của Hội thánh như thế nào ?
972
974-975
Khi nh́n lên Đức Maria,
hoàn toàn thánh thiện và đă được tôn vinh cả hồn lẫn xác, Hội thánh chiêm
ngắm nơi Mẹ điều Hội thánh được kêu gọi để sống trên trần gian và điều Hội
thánh sẽ trở thành trên quê hương thiên quốc.
“TÔI TIN
PHÉP THA TỘI”
200. Tội lỗi được tha thứ
như thế nào ?
976-980
984-985
Bí tích đầu tiên và căn
bản để tha tội là Bí tích Rửa tội. Đối với những tội phạm sau khi lănh
nhận Bí tích Rửa tội, Đức Kitô đă thiết lập Bí tích Ḥa giải hay Thống
hối, nhờ đó người đă được Rửa tội được giao ḥa với Thiên Chúa và với Hội
thánh.
201. Tại sao Hội thánh có
quyền tha tội ?
981-983
986-987
Hội thánh có sứ vụ và
quyền năng để tha các tội lỗi, bởi v́ chính Đức Kitô đă trao ban cho Hội
thánh quyền ấy : “Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai,
th́ người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, th́ người ấy bị cầm giữ” (Ga
20,22-23).
“TÔI TIN
XÁC LOÀI NGƯỜI NGÀY SAU SỐNG LẠI”
202. Hai chữ “thân xác” có ư
nghĩa ǵ ? Đâu là sự quan trọng của nó ?
990
1015
Hai chữ “thân xác” chỉ
con người trong t́nh trạng yếu đuối và phải chết. “Thân xác là then chốt
của ơn cứu độ” (Tertullien). Thật vậy, chúng ta tin Thiên Chúa, Đấng tạo
dựng nên thân xác; chúng ta tin Ngôi Lời mặc lấy thân xác để cứu chuộc
thân xác; chúng ta tin vào sự sống lại của thân xác, đó là hoàn tất việc
tạo dựng và cứu chuộc thân xác.
203. “Xác sống lại” có nghĩa
là ǵ ?
990
Điều này muốn nói đến
t́nh trạng vĩnh viễn của con người không phải chỉ là linh hồn thiêng liêng
tách biệt khỏi thân xác, nhưng thân xác phải chết của chúng ta cũng được
gọi để một ngày kia sẽ sống lại.
204.
Đâu là mối liên hệ giữa cuộc
Phục sinh của Đức Kitô với việc sống lại của chúng ta ?
998
1002-1003
Cũng như Đức Kitô đă
thực sự sống lại từ cơi chết và sống măi, cũng vậy, Người sẽ làm cho tất
cả chúng ta sống lại trong ngày sau hết, với một thân xác không c̣n hư
nát, “Ai đă làm điều lành, th́ sẽ sống lại để được sống; ai đă làm điều
dữ, th́ sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29).
205. Khi chúng ta chết, điều
ǵ sẽ xảy ra cho linh hồn và thân xác chúng ta ?
992-1004
1016-1018
Khi chết, linh hồn và
thân xác sẽ tách rời nhau, thân xác sẽ bị huỷ hoại, trong khi linh hồn, v́
là bất tử, sẽ chịu sự phán xét của Thiên Chúa và chờ đợi ngày được kết hợp
lại với thân xác khi thân xác được biến đổi vào ngày Chúa trở lại. Việc
t́m hiểu sự sống lại diễn ra như thế nào vượt quá khả năng của trí
tưởng tượng và sự hiểu biết của chúng ta.
206. “Chết trong Đức Kitô
Giêsu” có nghĩa là ǵ ?
1005-1014
1019
Điều này có nghĩa là
chết trong ân sủng của Chúa, lúc không có tội trọng. Ai tin vào Đức Kitô
và theo gương Người, sẽ có thể biến đổi cái chết của ḿnh thành một hành
vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha. “Đây là lời đáng tin cậy : Nếu
ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2 Tm 2,11).
“TÔI TIN
HẰNG SỐNG VẬY”
207. Đời sống vĩnh cửu là ǵ
?
1020
1051
Đời sống vĩnh cửu là
đời sống bắt đầu ngay sau khi chết. Đời sống này không có kết thúc. Mỗi
người, khi bắt đầu bước vào đời sống vĩnh cửu, sẽ phải nhận một cuộc phán
xét riêng do chính Đức Kitô, vị Thẩm Phán của kẻ sống và kẻ chết; đời sống
này sẽ được đóng ấn trong cuộc phán xét chung.
208. Phán xét riêng là ǵ ?
1021-1022
1051
Là cuộc phán xét thưởng
phạt tức khắc mà mỗi người, ngay sau khi chết, phải lănh nhận từ Thiên
Chúa trong linh hồn bất tử của ḿnh, liên quan đến đức tin và các việc làm
của ḿnh. Sự phân định thưởng phạt này gồm có việc được vào hưởng hạnh
phúc thiên đàng, tức khắc hoặc sau một cuộc thanh luyện thích hợp, hay là
phải chịu phạt muôn đời trong hỏa ngục.
209. “Thiên đàng”
là ǵ ?
1023-1026
1053
“Thiên đàng” là t́nh
trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên
Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ
quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh. Như vậy các
ngài tạo thành Hội thánh thiên quốc, nơi các ngài được chiêm ngắm Thiên
Chúa “mặt giáp mặt” ( 1 Cr 13,12); các ngài sống trong sự hiệp thông t́nh
yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta.
Sự sống thật và theo bản chất cốt tại điều này : Thiên Chúa Cha, nhờ
Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần, đổ tràn hồng ân thiên quốc trên tất cả
không trừ ai. Nhờ ḷng nhân hậu của Ngài, cả chúng ta nữa, chúng ta đă
lănh nhận lời hứa không thể mai một là được sống đời đời” (thánh
Cyrillô thành Giêrusalem).
210. Luyện ngục là
ǵ ?
1030-1031
1054
Luyện ngục là t́nh
trạng của những người chết trong t́nh thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đă
được đảm bảo ơn cứu độ vĩnh cửu, họ c̣n cần thanh luyện trước khi được
hưởng hạnh phúc thiên đàng.
211. Bằng cách nào chúng ta có thể giúp đỡ các linh hồn đang được
thanh luyện nơi luyện ngục ?
1032
Nhờ sự “các thánh thông
công” các tín hữu c̣n lữ hành trên trần gian, có thể giúp đỡ các linh hồn
nơi luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là Thánh lễ, và cả
những việc bố thí, ân xá và những việc hăm ḿnh để cầu cho họ.
212. Hoả ngục hệ tại điều ǵ
?
1033-1035
1056-1057
Hoả ngục hệ tại án phạt
đời đời dành cho những ai, do sự lựa chọn tự do của ḿnh, chết trong t́nh
trạng có tội trọng. H́nh phạt chính yếu của hỏa ngục là xa cách đời đời
khỏi Thiên Chúa. Chỉ nơi Ngài con người mới có sự sống và hạnh phúc; con
người được tạo dựng là để hưởng những điều ấy và họ luôn khao khát những
điều ấy. Đức Kitô diễn tả thực tại hoả ngục bằng những lời này : “Quân bị
nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25,41).
213. Thiên Chúa là Đấng nhân
hậu vô biên, làm sao Ngài lại để có hỏa ngục ?
1036-1037
Thiên Chúa muốn “cho
mọi người ăn năn hối cải” (2 Pr 3,9), nhưng v́ Ngài đă tạo dựng con người
có tự do và có trách nhiệm, nên Ngài tôn trọng các quyết định của họ. V́
thế, nếu cho đến lúc chết, con người vẫn c̣n nằm trong tội trọng, từ chối
t́nh yêu nhân từ của Thiên Chúa, th́ chính họ, với sự tự lập hoàn toàn, tự
ư loại ḿnh ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa.
214. Phán xét cuối cùng hệ
tại điều ǵ ?
1038-1041
1058-1059
Sự phán xét cuối cùng
(phán xét chung) hệ tại sự phán quyết về cuộc sống hạnh phúc hay án phạt
đời đời, mà Chúa Giêsu, khi Người trở lại như vị Thẩm phán của kẻ sống và
kẻ chết, sẽ tuyên bố cho “những người công chính cũng như kẻ có tội” (Cv
24,15), qui tụ tất cả trước mặt Người. Sau cuộc phát xét cuối cùng, thân
xác sống lại sẽ tham dự vào sự thưởng phạt mà linh hồn đă lănh nhận trong
cuộc phán xét riêng.
215. Khi nào cuộc phán xét
này sẽ xảy ra ?
1040
Cuộc phán xét này sẽ
xảy ra vào ngày tận thế mà chỉ ḿnh Thiên Chúa mới biết được ngày nào giờ
nào.
216. “Hy vọng trời mới đất mới” nghĩa là ǵ ?
1042-1050
1060
Sau cuộc phán xét cuối
cùng, chính vũ tru,ï được giải thoát khỏi nô lệ sự hư nát, sẽ được dự phần
vào vinh quang của Đức Kitô với việc khai mạc “trời mới đất mới” (2 Pr
3,13). Như thế sự viên măn của Nước Thiên Chúa sẽ đạt đến đích điểm, nghĩa
là ư định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành vĩnh viễn : “Qui tụ muôn
loài trong trời đất dưới quyền một thủ lănh là Đức Kitô” (Ep 1,10). Khi ấy
Thiên Chúa sẽ “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28), trong cuộc sống
đời đời.
“AMEN”
217. Tiếng Amen, kết
thúc Kinh Tin Kính, có nghĩa là ǵ ?
1061-1065
Tiếng Do Thái Amen
–cũng được dùng để kết thúc quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh, cũng như
một số lời cầu nguyện của Tân Ước và các lời cầu nguyện phụng vụ của Hội
thánh– diễn tả lời ‘Thưa vâng” đầy tin tưởng và trọn vẹn của chúng ta đối
với những ǵ chúng ta đă tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, chúng ta hoàn
toàn phó ḿnh cho Đấng là AMEN tối hậu (Kh 3,14), tức là Đức Kitô.
Trong bức tranh này, Chúa
Giêsu tiến đến gần các tông đồ đang ngồi ở bàn, và từ người này sang người
khác, Người cho họ rước lễ. Đây là một loại h́nh ảnh cho thấy ḷng nhiệt
thành đối với Bí tích Thánh Thể của Hội thánh trong suốt ḍng lịch sử.
Thánh tử đạo Éméritus, vào
khoảng đầu thế kỷ thứ bốn, đă nói : “Sine Dominico non possumus - chúng
tôi không thể sống thiếu ngày Chúa nhật -” khi phải chịu đựng một trong
những cuộc bách hại tệ hại nhất chống lại người Kitô hữu, đó là cuộc bách
hại dưới trào hoàng đế Diocletianus vào năm 304 scn. Bị buộc tội đă ban
phát Thánh Thể cho cộng đoàn, ngài chấp nhận không chút lưỡng lự : “Không
có Thánh Thể, chúng tôi không thể sống.” Và một trong số những vị tử đạo
thêm vào : “Vâng, tôi đă đến với cộng đoàn và tôi đă cử hành tiệc thánh
của Chúa với anh em tôi, chỉ v́ tôi là người Kitô hữu” (Hạnh các thánh tử
đạo tại Abitina, c.11; 7,16). V́ trung thành với Bí tích Thánh Thể, bốn
mươi chín vị chứng nhân của miền bắc Phi Châu đă bị kết án tử h́nh. Chúa
Giêsu của Bí tích Thánh Thể là sự sống đích thực cho Saturnin và các bạn
tử đạo tại Abitina ở Phi Châu. Các ngài muốn chết hơn là không được lănh
nhận lương thực Thánh Thể, bánh của đời sống vĩnh cửu.
Thánh Tôma Aquinô có thói quen vào giữa trưa, xuống nhà thờ và, với ḷng
tin tưởng và phó thác, ngài áp trán vào Nhà Tạm để chuyện tṛ thân mật với
Chúa Giêsu Thánh Thể. Vị thần học gia vĩ đại của thời Trung Cổ được nổi
danh v́ đă sáng tác các bản văn phụng vụ cho đại lễ Ḿnh Thánh Chúa
(Corpus Domini) trong đó, ngài diễn tả đầy đủ sự sùng kính sâu xa
Bí tích Thánh Thể.
Thánh thi ca tụng (Verbum supernum prodiens) là một bài tổng hợp
linh đạo Bí tích Thánh Thể của Kitô giáo :
Trước khi nộp ḿnh chịu chết, v́ một người môn đệ
của ḿnh phản bội,
(Chúa Giêsu) tự ban ḿnh cho các môn đệ làm lương
thực sự sống.
Người ban cho họ dưới hai h́nh dạng, Thịt và Máu của
Người;
Để qua bản thể hai h́nh dạng này, Người nuôi sống
trọn loài người.
Khi sinh ra, Người tự hiến ḿnh là bạn đồng hành
Khi ngồi cùng bàn với họ, Người tự hiến như lương
thực,
Khi chịu chết, Người tự hiến như phần thưởng.
Thánh Tôma Aquinô
gọi Bí tích Thánh Thể là “chóp đỉnh và sự
viên măn của cả đời sống tinh thần,” làm nổi bật ư thức đức tin của Hội
thánh tin tưởng vào Bí tích Thánh Thể, vào sự hiện diện của Chúa Giêsu ở
giữa chúng ta và là lương thực cần thiết cho đời sống tinh thần. Bí tích
Thánh Thể tạo thành sợi chỉ đỏ, khởi đi từ Bàn Tiệc Ly, nối kết mọi thế kỷ
lịch sử của Hội thánh cho đến chúng ta ngày hôm nay. Các lời truyền phép –
“Này là Minh Thầy” và “Này là Máu Thầy” – được nói lên, măi măi và ở khắp
mọi nơi, ngay cả trong các trại tập trung, trong các nhà tù c̣n tồn tại
đến ngày nay. Chính trên chân trời Thánh Thể mà Hội thánh đặt nền tảng
cho đời sống, sự hiệp thông và sứ vụ của ḿnh.
JOOS VAN WASSENHOVEN, Chúa
Giêsu ban Ḿnh Thánh cho các Tông đồ, Pḥng trưng bày họa phẩm quốc
gia vùng Marches, Urbino.
PHẦN II
CỬ HÀNH
MẦU NHIỆM KITÔ GIÁO
ĐOẠN THỨ NHẤT
NHIỆM CỤC BÍ TÍCH
Hy tế thập giá là nguồn mạch cho nhiệm cục bí
tích của Hội thánh. Trong ảnh, Đức Maria, tượng trưng cho Hội thánh, đón
nhận từ tay trái ḿnh máu và nước, biểu tượng các Bí tích c?a H?i thánh,
đổ ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu : “Khi đến gần Chúa Giêsu
và thấy Người đă chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người
lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức th́, máu cùng nước chảy ra” (Ga
19,33-34).
Thánh Augustinô chú giải : “Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta, đang khi chịu đau khổ, đă dâng hiến v́ chúng ta điều mà Người đă
nhận từ chúng ta khi sinh ra, và măi măi trở nên vị Thượng tế vĩ đại.
Người ra lệnh cho chúng ta dâng hy lễ mà anh em thấy, đó chính là Ḿnh và
Máu Người. Thật vậy, thân xác Người, bị lưỡi đ̣ng đâm thâu qua, tuôn chảy
nước và máu, với nước và máu này Người tha thứ tội lỗi chúng ta. Khi anh
em nhớ lại ân sủng này, th́ ơn cứu độ lại hoạt động (v́ chính Thiên Chúa
đă làm điều này nơi anh em), run rẩy và sợ sệt, anh em hăy đến gần để chia
sẻ từ bàn thánh này. Hăy nhận ra trong bánh này là chính thân xác mà anh
em đă treo trên thập giá, và trong chén này là chính máu chảy ra từ cạnh
sườn Người. Các hy lễ xa xưa của dân Chúa, trong sự đa dạng của chúng, chỉ
tiên báo hy lễ duy nhất sẽ đến. Và Đức Kitô v?a là con chiên, v́ sự vô tội
của tâm hồn thanh sạch Người, v?a là con dê, v́ xác thịt Người giống xác
thịt của kẻ tội lỗi. Tất cả những ǵ được tiên báo bằng nhiều cách khác
nhau trong các hy lễ của Cựu Ước đều hướng về hy lễ được mạc khải trong
Tân Ước.
Hăy nhận lấy và ăn Thân ḿnh Đức Kitô, v́ ngay
lúc này anh em đă trở nên chi thể của Đức Kitô, trong Thân Thể của Đức
Kitô; hăy lănh nhận và uống Máu Đức Kitô. Để không phải tách rời nhau, hăy
ăn điều nối kết anh em lại; để không tự đánh giá thấp chính ḿnh, hăy uống
giá chu?c của anh em. Mỗi khi anh em ăn và uống các thứ ấy, chúng biến đổi
nên anh em, cũng thế, nếu như trong đời sống, anh em sống vâng phục và đạo
đức, anh em biến đổi nên thân thể Đức Kitô. Thật vậy, khi gần đến cuộc khổ
nạn, khi cử hành lễ Vượt qua với các môn đệ, Người cầm lấy bánh, tạ ơn mà
nói : “Này là Ḿnh Thầy sẽ bị nộp v́ anh em.” Cùng một thể thức ấy, sau
khi chúc lành, Người trao chén, mà nói : “Đây là Máu Thầy, máu của Giao
ước mới, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”. Điều ấy, anh em đă đọc và
đă nghe trong Phúc Âm, dù vậy, anh em không biết rằng Bí tích Thánh Thể
là chính Chúa Con; nhưng ngay bây giờ, với trái tim đă được thanh tẩy
trong một lương tâm không t́ vết, và với thân xác được rửa sạch trong nước
tinh tuyền, anh em hăy đến gần Người và anh em sẽ được chiếu sáng và sẽ
không c̣n xấu hổ nữa” (Bài giảng 228B).
Nhà nguyện Redemptoris Mater, Tranh ghép
đá của bức tường tŕnh bày mầu nhiệm Nhập Thể, Vatican.
218. Phụng vụ là ǵ ?
1066-1070
Phụng vụ là việc cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, đặc biệt là cử hành Mầu nhiệm
Vượt qua của Người. Trong Phụng vụ, qua trung gian việc thực thi phận vụ
tư tế của Đức Giêsu Kitô, sự thánh hóa con người được biểu lộ và thực hiện
qua các dấu chỉ. Thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô, nghĩa là Đầu và các chi
thể, thực thi việc thờ phượng công khai dành cho Thiên Chúa.
219. Phụng vụ
có vị trí nào trong đời sống Hội thánh ?
1071-1075
Là
hành động tuyệt đối thánh thiêng, Phụng vụ là chóp đỉnh mà mọi hoạt động
của Hội thánh đều hướng tới, đồng thời là nguồn mạch phát sinh mọi năng
lực của đời sống Hội thánh. Qua Phụng vụ, Đức Kitô tiếp tục công tŕnh cứu
chuộc chúng ta trong Hội thánh, với Hội thánh và nhờ Hội thánh của Người.
220. Nhiệm cục bí tích
cốt tại điều ǵ ?
1076
Nhiệm cục bí
tích cốt tại việc thông chuyển các hiệu quả ơn cứu chuộc của Đức Kitô qua
việc cử hành các Bí tích của Hội thánh, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể,
“cho tới khi Chúa lại đến” (1 Cr 11, 26).
CHƯƠNG MỘT
MẦU NHIỆM VƯỢT QUA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA HỘI
THÁNH
PHỤNG VỤ –
CÔNG TR̀NH CỦA THIÊN CHÚA BA NGÔI
221. Chúa Cha là nguồn
mạch và cùng đích của Phụng vụ theo nghĩa nào?
1077-1083
1110
Trong Phụng vụ, Chúa Cha
đổ tràn các phúc lành của Ngài cho chúng ta trong Người Con nhập thể, đă
chết và đă sống lại v́ chúng ta, và Ngài tuôn đổ Chúa Thánh Thần vào ḷng
chúng ta. Đồng thời Hội thánh chúc tụng Chúa Cha qua việc tôn thờ, ca
tụng, tạ ơn, và cầu xin Ngài ban hồng ân là Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
222. Công tŕnh của
Đức Kitô trong Phụng vụ là ǵ ?
1084-1090
Trong Phụng vụ Hội thánh,
Đức Kitô biểu lộ và hoàn thành mầu nhiệm Vượt qua của Người. Khi trao ban
Thánh Thần cho các Tông đồ, Người trao ban cho họ và những người kế nhiệm
họ quyền thực hiện công tŕnh cứu độ qua hy tế Thánh Thể và qua các Bí
tích, nơi chính Người hoạt động để trao ban ân sủng của Người cho các tín
hữu trong mọi thời và trên toàn thế giới.
223. Chúa Thánh Thần
hoạt động như thế nào trong Phụng vụ của Hội thánh ?
1091-1109
1112
Trong Phụng vụ, Chúa
Thánh Thần hoạt động cách chặt chẽ nhất với Hội thánh. Chúa Thánh Thần
chuẩn bị cho Hội thánh gặp gỡ Chúa của ḿnh. Ngài nhắc nhớ và làm tỏ hiện
Đức Kitô cho đức tin của cộng đoàn. Ngài làm cho hiện diện và hiện tại
hóa mầu nhiệm của Đức Kitô; Ngài kết hợp Hội thánh vào đời sống và sứ vụ
của Đức Kitô, làm cho hồng ân hiệp thông được sinh hoa kết quả nơi Hội
thánh.
MẦU NHIỆM
VƯỢT QUA TRONG CÁC BÍ TÍCH CỦA HỘI THÁNH
224. Các Bí tích là ǵ
? Đó là những Bí tích nào ?
1113-1131
Các Bí tích là những dấu
chỉ khả giác và hữu hiệu của ân sủng, do Đức Kitô thiết lập và ủy thác
cho Hội thánh; qua các Bí tích, sự sống thần linh được trao ban cho chúng
ta. Có bảy Bí tích : Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Thống hối, Xức dầu bệnh
nhân, Truyền chức thánh và Hôn phối.
225. Đâu là mối liên
hệ giữa các Bí tích với Đức Kitô ?
1114-1116
Các mầu nhiệm trong đời
sống Đức Kitô là nền tảng cho những ǵ mà ngày hôm nay, qua các thừa tác
viên của Hội thánh, Đức Kitô trao ban trong các Bí tích.
“Điều hữu h́nh nơi Đấng cứu độ chúng ta được chuyển vào trong các Bí
tích ” (thánh Lêo Cả).
226. Đâu là sự liên
kết giữa các Bí tích với Hội thánh ?
1117-1119
Đức Kitô đă ủy thác các
Bí tích cho Hội thánh của Người. Các Bí tích này là “của Hội thánh” theo
hai nghĩa : các Bí tích là “do Hội thánh,” v́ các Bí tích là hoạt động của
Hội thánh, (mà Hội Thánh) là Bí tích của hoạt động Đức Kitô; các Bí tích
là “cho Hội thánh,” theo nghĩa là các Bí tích xây dựng Hội thánh.
227. Ấn tín Bí tích
là ǵ ?
1121
Là một dấu ấn
thiêng liêng được thông ban trong các Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Truyền
chức. Ấn tín này là lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Thiên Chúa. Nhờ
ấn tín, người Kitô hữu trở nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô; họ được
tham dự vào chức tư tế của Người theo nhiều cách. Họ là thành phần trong
Hội thánh theo những bậc sống và phận vụ khác nhau; như thế, ơn gọi của họ
là phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ Hội thánh. V́ ấn tín không thể xóa đi
được, nên ba Bí tích trao ban ấn tín, chỉ được nhận một lần trong đời.
228. Đâu là mối liên hệ giữa
các Bí tích với đức tin ?
1122-1126
1133
Không những các Bí tích
giả thiết phải có đức tin, mà các Bí tích c̣n nuôi dưỡng, củng cố và diễn
tả đức tin, bằng lời đọc và những nghi thức. Qua việc cử hành các Bí tích,
Hội thánh tuyên xưng đức tin tông truyền. Từ đó có câu thành ngữ cổ “lex
orandi, lex credendi”, điều này muốn nói : Hội thánh tin như
Hội thánh cầu nguyện.
229. Tại sao các Bí
tích hữu hiệu ?
1127-1128
1131
Các Bí tích hữu hiệu “ex
opere operato” (do chính hành động được hoàn tất). Thực vậy, chính Đức
Kitô hoạt động trong các Bí tích và thông ban ân sủng mà các Bí tích biểu
lộ, không lệ thuộc vào sự thánh thiện bản thân của thừa tác viên; tuy
nhiên, các hoa trái của Bí tích cũng tùy thuộc vào sự chuẩn bị nội tâm của
người lănh nhận.
230. Tại sao các Bí
tích cần thiết cho ơn cứu độ ?
1129
Mặc dù không phải tất cả
các Bí tích đều được ban cho từng người Kitô hữu, các Bí tích đều cần
thiết cho những ai tin vào Đức Kitô, bởi v́ chúng trao ban các ân sủng Bí
tích, ơn tha thứ tội lỗi, ơn được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, ơn nên đồng
h́nh đồng dạng với Đức Kitô và ơn được thuộc về Hội thánh. Chúa Thánh Thần
chữa lành và biến đổi những ai lănh nhận các Bí tích.
231. Ân sủng Bí tích là ǵ ?
1129; 1131
1134; 2003
Ân sủng Bí tích là ân
sủng của Chúa Thánh Thần, được Đức Kitô trao ban, mỗi Bí tích theo một
cách. Ân sủng này giúp người tín hữu trên bước đường nên thánh, và cũng
giúp Hội thánh tăng trưởng trong đức ái và trong chứng từ của ḿnh.
232. Đâu là mối liên hệ giữa
các Bí tích với đời sống vĩnh cửu ?
1130
Trong các Bí tích, Hội
thánh đă được tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu, đang khi “chờ đợi ngày
hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng cứu độ
chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2, 13).
CHƯƠNG HAI
CỬ HÀNH MẦU NHIỆM VƯỢT QUA
CỬ HÀNH PHỤNG VỤ CỦA HỘI
THÁNH
Ai cử
hành ?
233. Ai hoạt động trong Phụng
vụ ?
1135-1137
1187
Chính “Đức Kitô toàn thể”
(Christus Totus), gồm Đầu và Thân thể, hoạt động trong Phụng vụ.
Với tư cách là vị Thượng tế, Đức Kitô cử hành cùng với Thân thể Người là
Hội thánh trên trời và Hội thánh ở trần gian.
234. Ai cử hành Phụng vụ trên
trời ?
1138-1139
Phụng vụ trên trời được
cử hành do các thiên thần, các thánh của Cựu Ước và Tân Ước, đặc biệt là
Mẹ Thiên Chúa, các thánh Tông đồ, các thánh tử đạo và “một đoàn người thật
đông” không tài nào đếm nổi, “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi
ngôn ngữ” (Kh 7,9). Khi cử hành mầu nhiệm cứu độ trong các Bí tích, chúng
ta được dự phần vào Phụng vụ vĩnh cửu này.
235. Hội thánh ở trần gian cử
hành Phụng vụ như thế nào ?
1140-1144
1188
Hội thánh ở trần gian cử
hành Phụng vụ với tư cách là dân tư tế, trong đó mỗi người hoạt động tùy
theo phận vụ riêng của ḿnh, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần. Các
người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội hiến dâng chính ḿnh trong hy lễ thiêng
liêng, các thừa tác viên có chức thánh cử hành theo thánh chức mà họ đă
lănh nhận để phục vụ tất cả các chi thể của Hội thánh; các Giám mục và
linh mục hoạt động trong cương vị Đức Kitô, là Thủ lănh.
Cử hành thế
nào ?
236. Phụng vụ được cử hành
thế nào ?
1145
Việc cử hành Phụng vụ
được kết thành bằng các dấu chỉ và biểu tượng. Ư nghĩa của những dấu chỉ
và biểu tượng này được bắt nguồn trong công tŕnh tạo dựng và trong các
nền văn hóa nhân loại, được xác định trong các biến cố của Cựu Ước và được
hoàn tất trọn vẹn trong Con Người của Đức Kitô và trong các hoạt động của
Người.
237. Các dấu chỉ Bí
tích bắt nguồn từ đâu ?
1146-1152
1189
Một số dấu chỉ bắt nguồn
từ công tŕnh tạo dựng (ánh sáng, nước, lửa, bánh, rượu, dầu); một số khác
từ đời sống xă hội (tẩy rửa, xức dầu, bẻ bánh); một số khác từ lịch sử cứu
độ thời Cựu Ước (các nghi thức Vượt qua, các hy lễ, việc đặt tay, việc
thánh hiến). Những dấu chỉ này, có một số được qui định và bất biến, đă
được Đức Kitô sử dụng và trở thành những phương tiện chuyển thông hoạt
động cứu độ và thánh hóa của Người.
238. Đâu là mối liên hệ giữa
cử chỉ và lời nói trong việc cử hành Bí tích ?
1153-1155
1190
Trong việc cử hành Bí
tích, cử chỉ và lời nói liên hệ với nhau chặt chẽ. Thật vậy, dù các cử chỉ
tượng trưng tự chúng đă là một thứ ngôn ngữ, nhưng vẫn cần có các lời
thuộc nghi thức kèm theo và làm cho chúng sinh động. Trong Phụng vụ, lời
đọc và cử chỉ không thể tách rời nhau v́ chúng vừa là dấu chỉ vừa là giáo
huấn; chúng cũng không thể tách rời nhau v́ chúng thực hiện điều chúng
biểu thị.
239. Bài ca và âm nhạc có vai
tṛ trong việc cử hành Phụng vụ theo những tiêu chuẩn nào ?
1156-1158
1191
Bài ca và âm nhạc
liên kết chặt chẽ với hành vi Phụng vụ. V́ vậy, phải tôn trọng các tiêu
chuẩn sau đây : các bản văn phải phù hợp với giáo lư công giáo, ưu tiên
rút từ Thánh Kinh và các nguồn Phụng vụ; vẻ đẹp diễn cảm của lời cầu
nguyện; phẩm chất âm nhạc; sự tham gia của cộng đoàn; sự phong phú về văn
hóa của dân Thiên Chúa; đặc điểm thánh thiêng và trang trọng của việc cử
hành. “Hát là cầu nguyện hai lần” (thánh Augustinô).
240. Mục đích của các ảnh
tượng thánh là ǵ ?
1159-1161
1192
Ảnh tượng Đức Kitô là ảnh
tượng phụng vụ cách tuyệt hảo; các ảnh tượng thánh khác tŕnh bày Đức
Trinh Nữ và các thánh, biểu lộ Đức Kitô được tôn vinh nơi các ngài. Các
ảnh tượng này công bố chính sứ điệp Tin Mừng mà Thánh Kinh chuyển đạt bằng
lời. Các ảnh tượng thánh góp phần khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin của các
tín hữu.
Phụng vụ
được cử hành khi nào ?
241. Trung tâm của thời gian
Phụng vụ là ǵ ?
1163-1167
1193
Trung tâm của thời gian
Phụng vụ là ngày Chúa Nhật, nền tảng và cốt lơi của cả năm Phụng vụ. Năm
Phụng vụ có chóp đỉnh là lễ Phục sinh, ngày “lễ của các ngày lễ.”
242. Ư nghĩa của năm Phụng
vụ là ǵ ?
1168-1173
1194-1195
Trong năm Phụng vụ, Hội
thánh cử hành toàn thể Mầu nhiệm Đức Kitô, từ lúc Người nhập thể cho đến
ngày Người lại đến trong vinh quang. Trong một số ngày, Hội thánh tôn kính
Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, với một ḷng tŕu mến đặc
biệt; Hội thánh cũng kính nhớ các thánh là những người đă sống cho Đức
Kitô, đă chịu đau khổ với Người và hiện đang ở với Người trong vinh quang.
243. Các Giờ kinh Phụng vụ là
ǵ ?
1174-1178
1196
Các Giờ kinh Phụng vụ –
Kinh nguyện công khai và thường xuyên của Hội thánh – là lời cầu nguyện
của Đức Kitô cùng với Thân Thể Người. Nhờ Các Giờ kinh Phụng vụ, Mầu nhiệm
của Đức Kitô, mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ, thánh hóa và làm thay
h́nh đổi dạng thời gian của mỗi ngày. Các Giờ kinh Phụng vụ được kết thành
chủ yếu từ các Thánh Vịnh, các bản văn khác của Thánh Kinh, cũng như những
bài đọc của các Giáo phụ và các tôn sư linh đạo.
Phụng vụ
được cử hành ở đâu ?
244. Hội thánh có cần những
nơi chốn để cử hành Phụng vụ không ?
1197-1198
Việc thờ phượng “trong
Thần Khí và sự thật” (Ga 4,24) của Giao ước Mới không bị lệ thuộc vào bất
cứ nơi nào đặc biệt, v́ Đức Kitô là Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa; nhờ
Người, các người Kitô hữu và toàn thể Hội thánh, dưới tác động của Chúa
Thánh Thần, cũng trở thành đền thờ của Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên,
Dân Thiên Chúa, trong hoàn cảnh trần thế, cần đến những nơi chốn để cộng
đoàn có thể qui tụ cử hành Phụng vụÏ.
245. Các “thánh
đường” là ǵ ?
1198-1999
Đó là những ngôi nhà của
Thiên Chúa, biểu tượng của Hội thánh đang sống tại đó cũng như biểu trưng
nơi cư ngụ thiên quốc. Đó là những nơi cầu nguyện trong đó Hội thánh cử
hành đặc biệt là Thánh lễ và tôn thờ Đức Kitô thực sự hiện diện trong nhà
tạm.
246. Những nơi nào là
ưu tiên bên trong các thánh đường ?
1182-1186
Những nơi ưu tiên là :
bàn thờ, nhà tạm, nơi cất giữ Dầu thánh (myron), ngai Giám mục (cathedra)
hay linh mục, giảng đài, giếng rửa tội, ṭa giải tội.
SỰ ĐA DẠNG CỦA PHỤNG VỤ –
SỰ DUY NHẤT CỦA MẦU NHIỆM
247. Tại sao mầu nhiệm duy nhất của Đức Kitô lại được cử hành theo
nhiều truyền thống Phụng vụ khác nhau ?
1200-1204
1207-1209
Mầu nhiệm của Đức Kitô
phong phú khôn lường nên không một truyền thống Phụng vụ nào diễn tả trọn
vẹn được. V́ vậy, ngay từ ban đầu, sự phong phú này đă được thể hiện nơi
các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau, qua những cách diễn tả đa dạng
và bổ túc cho nhau cách kỳ diệu.
248. Có tiêu chuẩn
nào bảo đảm cho tính duy nhất trong sự đa dạng này ?
1209
Đó là sự trung thành với
Truyền thống Tông đồ, nghĩa là sự hiệp thông trong đức tin và trong các Bí
tích đă lănh nhận từ các Tông đồ; sự hiệp thông này được biểu lộ và bảo
đảm bằng sự liên tục kế nhiệm tông đồ. Hội thánh là công giáo : do đó, Hội
thánh có thể hội nhập tất cả những sự phong phú đích thực của các nền văn
hóa khác nhau vào sự duy nhất của ḿnh.
249. Trong Phụng vụ,
có phải tất cả đều bất biến không ?
1205-1206
Trong Phụng vụ, nhất là
trong Phụng vụ các Bí tích, có những yếu tố bất biến v́ là thể chế thiên
định, đuợc Hội thánh trung thành ǵn giữ. Ngoài ra, cũng có những yếu tố
có thể thay đổi mà Hội thánh có quyền và đôi khi có bổn phận thích nghi
với các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau.
ĐOẠN THỨ HAI
BẢY BÍ TÍCH CỦA HỘI THÁNH
Bảy Bí tích của Hội
thánh là :
Rửa tội,
Thêm sức
Thánh Thể
Thống hối
Xức dầu bệnh nhân
Truyền chức
Hôn phối
Các Bí tích
của Hội thánh là những hoa trái của hy tế cứu độ của Chúa Giêsu trên thập
giá. Bức tranh ba mảng tŕnh bày một nhà thờ nơi cử hành bảy Bí tích. Ở
giữa, cây thánh giá giương cao một cách vượt trội. Dưới chân thánh giá có
Đức Maria, kiệt lực, được thánh Gioan nâng đỡ, cũng như các bà đạo đức.
Hậu cảnh, một linh mục đang dâng Thánh lễ, nâng cao Bánh thánh sau truyền
phép, cho thấy rằng hy tế thập giá được hiện thực trong việc cử hành Thánh
lễ dưới hai h́nh bánh rượu. Bên trái cho thấy nhà nguyện bên cạnh, các Bí
tích Rửa tội, Thêm sức được Giám mục trao ban và cả Bí tích Thống hối. Bên
phải, các Bí tích Truyền chức, Hôn phối và Xức dầu bệnh nhân được trao
ban.
ROGER VAN DER WEYDEN, Tranh ba mảng về bảy Bí tích, Bảo tàng
Koninklijk voor Schone Kunsten, Anvers.
250. Các Bí tích của
Hội thánh được phân loại thế nào ?
1210-1211
Người ta phân loại : các
Bí tích khai tâm Kitô giáo (Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể), các Bí tích
chữa lành (Thống hối và Xức dầu bệnh nhân), các Bí tích phục vụ cho sự
hiệp thông và sứ vụ (Truyền chức thánh và Hôn phối). Bảy Bí tích liên quan
đến những thời điểm quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Tất cả các Bí tích
đều hướng về Bí tích Thánh Thể “như mục đích đặc thù của ḿnh” (thánh Tôma
Aquinô).
CHƯƠNG MỘT
CÁC BÍ TÍCH KHAI TÂM KITÔ GIÁO
251. Việc khai tâm
Kitô giáo được thực hiện thế nào ?
1212
1275
Việc khai tâm Kitô giáo
được thực hiện qua ba Bí tích đặt nền tảng cho đời sống Kitô hữu.
Các tín hữu được tái sinh nhờ Bí tích Rửa tội, được củng cố nhờ Bí tích
Thêm sức, và được nuôi dưỡng nhờ Bí tích Thánh Thể.
BÍ TÍCH RỬA
TỘI
252. Các tên gọi của
Bí tích đầu tiên trong việc khai tâm Kitô giáo là ǵ ?
1213-1216
1276-1277
Đầu tiên, người ta gọi Bí
tích này là Rửa tội theo nghi thức chính yếu của việc cử hành. Rửa
tội muốn nói việc “d́m xuống” nước. Người được Rửa tội được d́m vào trong
sự chết của Đức Kitô và sống lại với Người như một “thụ tạo” mới (2 Cr
5,17). Người ta c̣n gọi Bí tích này là “tắm tái sinh và đổi mới trong Chúa
Thánh Thần” (Tt 3,5), hay là “ơn soi sáng” v́ người được Rửa tội trở thành
“con cái sự sáng” (Ep 5, 8).
253. Bí tích Rửa tội
được diễn tả bằng những h́nh ảnh tượng trưng nào trong Cựu Ước ?
1217-1222
Trong Cựu Ước, người ta
gặp nhiều h́nh ảnh tượng trưng khác nhau về Bí tích Rửa tội : nước,
được coi như nguồn gốc của sự sống và sự chết; tàu Nôe cứu thoát
con người nhờ nước; cuộc vượt qua Biển Đỏ giải phóng dân Israel
khỏi ách nô lệ Ai Cập; việc băng qua sông Giođan tiến vào đất hứa,
là h́nh ảnh của sự sống đời đời.
254. Ai đă kiện toàn những
h́nh ảnh tượng trựng đó ?
1223-1224
Những h́nh ảnh tượng
trưng trong Cựu Ước được hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô, Đấng ngay lúc
khởi đầu đời sống công khai, đă để cho Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho ḿnh
tại sông Giođan. Trên thập giá, từ cạnh sườn của Người bị đâm thâu, máu và
nước đă tuôn trào, là dấu chỉ của Bí tích Rửa tội và Thánh thể. Sau khi
Phục sinh, Người đă ủy thác cho các Tông đồ sứ vụ sau đây : “Anh em hăy đi
giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh
Thần” (Mt 28,19-20).
255. Hội thánh ban Bí tích
Rửa tội cho những ai và từ bao giờ ?
1226-1228
Từ ngày lễ Chúa Thánh
Thần hiện xuống, Hội thánh ban Bí tích Rửa tội cho những ai tin vào Đức
Giêsu Kitô.
256. Nghi thức chính yếu của
Bí tích Rửa tội là ǵ ?
1229-1245
1278
Nghi thức chính yếu của
Bí tích này gồm việc d́m ứng viên xuống nước hay đổ nước trên đầu họ trong
khi kêu cầu : nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.
257. Ai có thể lănh nhận Bí
tích Rửa tội ?
1246-1252
Mọi người chưa lănh nhận
đều có thể lănh nhận Bí tích Rửa tội.
258. Tạo sao Hội thánh Rửa
tội cho các em bé ?
1250
Bởi v́ các em bé được
sinh ra trong tội nguyên tổ, nên cần được giải thoát khỏi quyền lực Ác
thần và đưa dẫn vào Vương quốc của sự tự do của con cái Thiên Chúa.
259. Hội thánh đ̣i hỏi ǵ nơi
người sắp lănh Bí tích Rửa tội ?
1253-1255
Hội thánh đ̣i hỏi người
sắp nhận Bí tích Rửa tội phải tuyên xưng đức tin; trong trường hợp là một
người trưởng thành th́ việc tuyên xưng này phải do chính bản thân họ,
nhưng nếu là một em bé, th́ việc tuyên xưng do cha mẹ và Hội thánh. Cha mẹ
đỡ đầu và cả cộng đoàn giáo hội đều có trách nhiệm phần nào trong việc
chuẩn bị Bí tích Rửa tội (cho người dự ṭng) cũng như trong việc phát
triển đức tin và ân sủng của Bí tích Rửa tội .
260. Ai có thể ban Bí tích
Rửa tội ?
1256
1284
Thừa tác viên thông
thường của Bí tích Rửa tội là các Giám mục và linh mục; trong Giáo hội
Latinh c̣n có cả các phó tế. Trong trường hợp cần thiết, mọi người đều có
thể ban Bí tích Rửa tội, miễn là họ có ư làm điều Hội thánh làm. Người ban
Bí tích Rửa tội đổ nước trên đầu ứng viên và đọc công thức Ba Ngôi khi Rửa
tội : “Tôi Rửa tội cho […] nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”
261. Bí tích Rửa tội
có cần thiết cho ơn cứu độ không ?
1257
Bí tích Rửa tội cần thiết
cho ơn cứu độ đối với những người đă được nghe rao giảng Tin Mừng và những
người có khả năng xin lănh nhận Bí tích này.
262. Người không lănh Bí tích
Rửa tội có thể được cứu rỗi không ?
1258-1261
1281-1283
V́ Đức Kitô đă chết để
cứu độ tất cả mọi người, nên những người sau đây có thể được cứu độ dù
không lănh nhận Bí tích Rửa tội : những ai chết v́ đức tin (Rửa tội
bằng máu), những người dự ṭng và cả những người, dưới tác động của ân
sủng, dù không biết Đức Kitô cũng như Hội thánh của Người, nhưng đă thành
tâm t́m kiếm Thiên Chúa và cố gắng chu toàn thánh ư Người (Rửa tội bằng
ḷng ước ao). Về phần các trẻ em chết mà không được Rửa tội, Hội thánh
trong Phụng vụ phó thác các em cho ḷng nhân từ của Thiên Chúa.
263. Bí tích Rửa tội
mang lại những hiệu quả nào ?
1262-1274
1279-1280
Bí tích Rửa tội tha thứ
nguyên tội, mọi tội cá nhân và các h́nh phạt do tội. Bí tích Rửa tội cho
tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hóa, nhờ ơn công
chính hóa giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội thánh Người. Bí tích này cho
tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông với
tất cả các người Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và
các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lănh nhận Bí tích Rửa tội thuộc về
Đức Kitô luôn măi : họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô (ấn
tín).
264. Đâu là ư nghĩa của “tên
thánh” khi lănh Bí tích Rửa tội ?
2156-2159
2167
Mọi tên
gọi đều là quan trọng v́ Thiên Chúa biết tên gọi của từng người, nghĩa là
biết tính cách độc đáo của mỗi người. Khi lănh nhận Bí tích Rửa tội,
người Kitô hữu nhận một tên gọi đặc biệt trong Hội Thánh, ưu tiên nên chọn
tên của một vị thánh, vị này là gương mẫu thánh thiện cho người nhận tên,
và ngài sẽ chuyển cầu cho họ nơi Thiên Chúa.
BÍ TÍCH
THÊM SỨC
265. Bí tích Thêm sức có vị
trí nào trong Nhiệm cục Cứu độ ?
1285-1288
1315
Trong Giao ước cũ, các
tiên tri đă loan báo việc tuôn đổ Thánh Thần của Chúa trên Đấng Mêsia đang
được mong đợi, và trên toàn dân của Đấng Mêsia. Trọn đời sống và sứ vụ của
Đức Kitô diễn ra trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Thánh Thần. Các
Tông đồ nhận lănh Chúa Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ tuần và loan báo
“những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2, 11). Qua việc đặt tay, các ngài trao
ban cho các người mới lănh nhận Bí tích Rửa tội hồng ân của chính Chúa
Thánh Thần. Qua bao thế kỷ, Hội thánh liên tục sống nhờ Chúa Thánh Thần và
thông ban Chúa Thánh Thần cho con cái ḿnh.
266. Tại sao Bí tích này được
gọi là Bí tích Dầu thánh hay Thêm sức ?
1289
Người ta gọi Bí tích này
là Bí tích Dầu thánh (trong các Giáo hội đông phương :
Chrismation là việc xức bằng dầu myron, nghĩa là Dầu thánh), bởi v́
nghi thức chính yếu của Bí tích này là việc xức dầu. Người ta gọi Bí tích
này là Bí tích Thêm Sức, v́ Bí tích này kiên cường và củng cố ân
sủng của Bí tích Rửa tội.
267. Nghi thức chính yếu của
Bí tích Thêm sức là ǵ ?
1290-1301
1318
1320-1321
Nghi thức chính yếu của
Bí tích Thêm sức là việc xức Dầu thánh (dầu pha hương liệu đă được Giám
mục thánh hiến), kèm theo việc đặt tay của thừa tác viên, ngài sẽ đọc các
lời thuộc Bí tích dành riêng cho nghi thức. Ở Phương Tây việc xức dầu được
ghi trên trán của những người đă được Rửa tội, kèm theo lời này : “Hăy
lănh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Trong các Giáo hội Đông Phương theo
nghi thức Byzantin, việc xức dầu c̣n ghi trên nhiều phần thân thể, với
công thức : “Tôi ghi dấu cho anh bằng hồng ân của Chúa Thánh Thần.”
268. Bí tích Thêm sức có
những hiệu quả nào ?
1302-1305
1316-1317
Hiệu quả của Bí tích Thêm
sức là việc đổ tràn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt, như trong ngày lễ Ngũ
Tuần. Việc đổ tràn này ghi một ấn tín không thể tẩy xoá trong linh hồn
người lănh nhận, và gia tăng ân sủng của Bí tích Rửa tội. Việc tuôn tràn
Thánh Thần giúp chúng ta tiến sâu hơn vào ơn làm con cái Thiên Chúa, kết
hợp chúng ta chặt chẽ hơn với Đức Kitô và với Hội thánh của Người. Bí tích
này củng cố trong tâm hồn chúng ta các hồng ân của Chúa Thánh Thần và trao
ban cho chúng ta một sức mạnh đặc biệt để làm chứng cho đức tin Kitô giáo.
269. Ai có thể lănh
nhận Bí tích Thêm sức ?
1306-1311
1319
Tất cả những ai đă nhận
Bí tích Rửa tội đều có thể và phải nhận Bí tích Thêm sức và chỉ một lần
duy nhất. Để lănh nhận cho có hiệu quả, người đă được Rửa tội phải ở trong
t́nh trạng ân sủng.
270. Ai là thừa tác
viên của Bí tích Thêm sức ?
1312-1314
Thừa tác viên nguyên thủy
của Bí tích Thêm sức là Giám mục. Đây là cách làm nổi bật sự liên kết giữa
người được Thêm sức với Hội thánh trong cơ cấu tông truyền. Khi linh mục
trao ban Bí tích này – điều này thông thường ở Đông Phương và trong những
hoàn cảnh đặc biệt ở Tây Phương – mối dây liên kết với Giám mục và với Hội
thánh được biểu lộ qua linh mục, là cộng sự viên của Giám mục, và qua Dầu
thánh được chính Giám mục thánh hiến.
BÍ TÍCH
THÁNH THỂ
271. Bí tích Thánh
Thể là ǵ ?
1322-1323
1409
Bí tích Thánh Thể là
chính hy tế Ḿnh và Máu của Chúa Giêsu, mà Người đă thiết lập để lưu tồn
hy tế thập giá của Người qua bao thế kỷ cho đến khi Người lại đến. Như
thế, Người ủy thác cho Hội thánh việc tưởng nhớ cái Chết và cuộc Phục sinh
của Người. Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ hợp nhất, dây bác ái, bữa tiệc
vượt qua, nơi chúng ta lănh nhận Đức Kitô, linh hồn được tràn đầy ân sủng
và được bảo đảm cho đời sống vĩnh cửu.
272. Chúa Giêsu đă
thiết lập Bí tích Thánh thể khi nào ?
1323
1337-1340
Người đă thiết lập Bí
tích Thánh Thể vào ngày Thứ Năm tuần thánh, “trong đêm bị trao nộp” (1 Cr
11, 23), khi Người ăn bữa tiệc cuối cùng với các Tông đồ của Người.
273. Người đă thiết
lập Bí tích Thánh Thể như thế nào ?
1337-1340
1365, 1406
Sau khi qui tụ các Tông
đồ trong nhà Tiệc ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh trong tay, bẻ ra và trao cho
các ông mà nói : “Anh em hăy nhận lấy mà ăn : này là Ḿnh Thầy bị nộp v́
anh em”. Rồi Người cầm trong tay chén đầy ruợu và nói với họ : “Anh em hăy
nhận lấy mà uống: này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, đổ
ra cho anh em và nhiều người được tha tội. Anh em hăy làm việc này mà nhớ
đến Thầy”.
274. Bí tích Thánh Thể
có ư nghĩa ǵ trong đời sống của Hội thánh ?
1324-1327
1407
Bí tích Thánh Thể là
nguồn mạch và tột đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô giáo. Thánh Thể là tột
đỉnh hoạt động thánh hóa của Thiên Chúa đối với chúng ta và là tột đỉnh
của hoạt động phượng tự chúng ta dâng lên Ngài. Bí tích Thánh Thể chứa
đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội thánh, đó chính là Đức Kitô, Đấng
là Chiên Vượt qua của chúng ta. Việc hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa
và sự hợp nhất của dân Thiên Chúa được diễn tả và thực hiện nhờ Bí tích
Thánh Thể. Qua việc cử hành Thánh lễ, chúng ta được kết hợp với Phụng vụ
trên trời và tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu.
275. Bí tích này c̣n
được gọi bằng những tên gọi nào ?
1328-1332
Nguồn phong phú vô tận
của Bí tích này được diễn tả qua nhiều tên gọi khác nhau, gợi lên những
khía cạnh đặc biệt. Những tên gọi thông dụng nhất là: Thánh Thể, Thánh lễ,
Bữa tiệc của Chúa, lễ Bẻ Bánh, Cử hành Thánh Thể, Tưởng nhớ cuộc khổ nạn,
cái chết và sự phục sinh của Chúa, Hy lễ thánh, Phụng vụ thánh và Thần
linh, Mầu nhiệm thánh, Bí tích thánh nơi bàn thờ, Hiệp lễ.
276. Đâu là vị trí
của Bí tích Thánh Thể trong Nhiệm cục cứu độ ?
1333-1344
Trong Giao ước cũ, Bí
tích Thánh Thể đặc biệt được tượng trưng bằng bữa ăn Vượt qua, được Người
Hi-pri cử hành hàng năm với bánh không men, để ghi nhớ ngày ra đi vội vă
và giải phóng khỏi đất Ai Cập. Chúa Giêsu đă báo trước về Bí tích này
trong giáo huấn của Người, và Người đă thiết lập Bí tích này khi cử hành
bữa tiệc ly với các Tông đồ, trong khung cảnh bữa tiệc Vượt qua. Trung
thành với lệnh truyền của Chúa : “Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1 Cr
11, 24), Hội thánh luôn cử hành Bí tích Thánh Thể, nhất là vào ngày chúa
nhật, ngày Phục sinh của Chúa Giêsu.
277. Bí tích Thánh
Thể được cử hành thế nào ?
1345-1355
1408
Bí tích Thánh Thể được cử
hành gồm hai phần chính, hợp thành một hành vi phụng tự duy nhất : Phụng
vụ Lời Chúa gồm việc công bố và lắng nghe Lời Chúa, và Phụng vụ Thánh Thể
gồm việc tiến dâng bánh rượu, kinh nguyện thánh thể (hay anaphore) và hiệp
lễ.
278. Ai là thừa tác
viên của Bí tích Thánh Thể ?
1348
1411
Thừa tác viên Bí tích
Thánh Thể là vị tư tế (Giám mục hay linh mục) đă được truyền chức thành
sự; vị này cử hành trong cương vị (in Persona) Đức Kitô – Thủ lănh và nhân
danh Hội thánh.
279. Các chất liệu
chính yếu và cần thiết của Bí tích Thánh Thể là ǵ ?
1412
Các chất liệu đó là bánh
ḿ và rượu nho.
280. Tại sao nói Bí
tích Thánh Thể là việc tưởng niệm hy tế của Đức Kitô ?
1362-1367
Bí tích Thánh Thể là
việc tưởng niệm theo nghĩa làm cho hiện diện và hiện tại hoá hy tế
thập giá mà Đức Kitô đă dâng lên Chúa Cha, một lần thay cho tất cả, v́
nhân loại. Đặc tính hy tế của Bí tích Thánh Thể được biểu lộ trong chính
những lời thiết lập : “Đây là Ḿnh Thầy, bị nộp v́ anh em” và “Chén này là
Giao ước mới trong Máu Thầy, sẽ đổ ra v́ anh em” (Lc 22,19-20). Hy tế thập
giá và hy tế Thánh Thể là một hy tế duy nhất. Hiến vật và người dâng là
một, chỉ khác biệt về cách tiến dâng : cách đổ máu trên thập giá, cách
không đổ máu trong Bí tích Thánh Thể.
281. Hội thánh tham
dự vào hy tế Thánh Thể theo cách nào ?
1368-1372
1414
Trong Bí tích Thánh Thể,
hy tế của Đức Kitô cũng trở thành hy tế của các chi thể trong Thân Thể
Người. Đời sống của các tín hữu, lời ca ngợi, hoạt động, cầu nguyện, lao
động của họ được kết hợp với Đức Kitô. V́ là hy tế, Bí tích Thánh Thể cũng
được dâng lên thay cho tất cả các tín hữu, người c̣n sống cũng như kẻ đă
qua đời, như của lễ đền tội cho tất cả mọi người, để đón nhận được từ
Thiên Chúa những ích lợi thiêng liêng và trần thế. Hơn nữa, Hội thánh trên
trời cũng hiện diện trong lễ dâng của Đức Kitô.
282. Chúa Giêsu hiện
diện trong Bí tích Thánh Thể như thế nào ?
1373-1375
1413
Đức Giêsu Kitô hiện diện
trong Bí tích Thánh Thể một cách độc nhất vô nhị và không thể so sánh
được. Thật vậy, Người hiện diện cách đích thực, thực sự và theo bản thể:
với Ḿnh và Máu Người, với linh hồn và thần tính của Người. Trong Bí tích
Thánh Thể, Đức Kitô trọn vẹn, vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện
diện theo cách Bí tích, nghĩa là dưới h́nh bánh và h́nh rượu.
283. Biến đổi bản
thể nghĩa là ǵ ?
1376-1377
1413
Biến đổi bản thể
nghĩa là sự biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Ḿnh Thánh Đức
Kitô, và biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người. Sự
biến đổi này được thực hiện trong Kinh Nguyện Thánh Thể, nhờ tính hữu hiệu
của lời Đức Kitô và tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, những đặc
tính khả giác bên ngoài của bánh và rượu, nghĩa là các “h́nh bánh rượu,”
vẫn không thay đổi.
284. Việc bẻ bánh có
phân chia Đức Kitô không ?
1377
Việc bẻ bánh không phân
chia Đức Kitô. Người hiện diện trọn vẹn và toàn phần trong mỗi h́nh dạng
Thánh Thể, và trong mỗi phần nhỏ của cả hai h́nh dạng đó.
285. Sự hiện diện của
Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể kéo dài bao lâu ?
1377
Sự hiện diện của Đức Kitô
kéo dài bao lâu h́nh bánh ruợu đă truyền phép c̣n tồn tại.
286. Phải tôn thờ Bí
tích Thánh Thể cách nào ?
1378-1381
1418
Đó là sự tôn thờ
“latria”, nghĩa là sự tôn thờ chỉ dành riêng cho một ḿnh Thiên Chúa, dù
trong Thánh lễ, dù ngoài Thánh lễ. Hội thánh bảo quản bánh rượu đă truyền
phép một cách cẩn thận tối đa; Hội thánh mang Thánh Thể cho các bệnh nhân,
cho những người không có khả năng tham dự Thánh lễ. Hội thánh trưng Thánh
Thể cho các tín hữu tôn thờ cách long trọng ; mang Thánh Thể đi rước kiệu
và mời gọi mọi người thường xuyên kính viếng và thờ lạy Bí tích cực thánh
này, được ǵn giữ trong Nhà tạm.
287. Tại sao Bí tích
Thánh Thể là tiệc Vượt qua ?
1382-1384
1391-1396
Bí tích Thánh Thể là tiệc
Vượt qua v́ khi làm cho cuộc Vượt qua của Người hiện diện một cách Bí
tích, Đức Kitô ban cho chúng ta Ḿnh và Máu Người làm của ăn thức uống.
Người kết hợp chúng ta với Người và với nhau trong hy tế của Người.
288. Bàn thờ có ư
nghĩa ǵ ?
1383
1410
Bàn thờ là biểu
tượng của chính Đức Kitô, Đấng đang hiện diện như của lễ hiến tế (bàn thờ
- hy tế thập giá) và như lương thực thần thiêng được ban tặng cho chúng ta
(bàn thờ – bàn tiệc Thánh Thể).
289. Hội thánh đ̣i
buộc chúng ta phải tham dự Thánh lễ khi nào ?
1389
1417
Hội thánh đ̣i buộc các
tín hữu phải tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật và các lễ buộc. Hội
thánh cũng khuyên chúng ta tham dự Thánh lễ vào các ngày khác nữa.
290. Khi nào chúng ta
phải rước lễ ?
1389
Hội thánh khuyên các tín
hữu, nếu có đủ điều kiện cần thiết, nên rước lễ mỗi khi tham dự Thánh lễ.
Hội thánh buộc chúng ta rước lễ một năm ít là một lần trong mùa Phục sinh.
291. Phải có những
điều kiện nào để rước lễ ?
1385-1389
Để rước lễ, chúng ta phải
hoàn toàn thuộc về Hội thánh Công giáo và sống trong t́nh trạng ân sủng,
nghĩa là phải ư thức ḿnh không có tội trọng. Ai ư thức ḿnh đă phạm một
tội trọng, phải lănh nhận Bí tích Thống hối trước khi rước lễ. Cũng cần
phải có sự tịnh tâm và cầu nguyện, giữ sự chay tịnh do Hội thánh qui định
và có những thái độ bên ngoài xứng đáng (cử chỉ, cách ăn mặc) biểu lộ ḷng
tôn kính đối với Đức Kitô.
292. Việc rước lễ đem
lại những hiệu quả ǵ ?
1391-1397
1416
Việc rước lễ làm tăng
triển sự hiệp thông của chúng ta với Đức Kitô và với Hội thánh Người, bảo
toàn và canh tân đời sống ân sủng đă nhận được khi lănh Bí tích Rửa tội và
Bí tích Thêm sức, giúp tăng triển t́nh yêu đối với tha nhân. Việc rước lễ
làm chúng ta nên mạnh mẽ trong đức ái, xoá bỏ các tội nhẹ và ǵn giữ chúng
ta, trong tương lai, khỏi các tội trọng.
293. Khi nào có thể
trao ban Bí tích Thánh Thể cho các người Kitô hữu không công giáo?
1398-1401
Các thừa tác viên công
giáo chỉ được phép trao ban Bí tích Thánh Thể cho những người thuộc các
Giáo hội Đông Phương, dù không hiệp thông trọn vẹn với Hội thánh Công
giáo, nếu như chính họ tự ư xin và có đủ các điều kiện cần thiết. C̣n đối
với những người thuộc các cộng đoàn giáo hội khác, các thừa tác viên công
giáo được phép trao ban Bí tích Thánh Thể cho họ, khi có lư do quan trọng,
và do chính họ tự ư xin và có đủ các diều kiện cần thiết, và họ cũng phải
biểu lộ đức tin công giáo đối với Bí tích Thánh Thể.
294. Tại sao Thánh
Thể là “bảo chứng cho vinh quang mai sau” ?
1402-1405
V́ Bí tích Thánh Thể đổ
tràn trong chúng ta tất cả mọi ân sủng và sự chúc lành của trời cao, nên
Bí tích này củng cố chúng ta nên mạnh mẽ trên đường lữ hành trần gian, và
làm cho chúng ta thêm ḷng khao khát đời sống vĩnh cửu, khi đă liên kết
chúng ta với Đức Kitô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, với Hội thánh
thiên quốc, với Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc và với tất cả các thánh.
Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta bẻ cùng một tấm bánh là phương dược
trường sinh bất tử và của ăn đem lại sự sống muôn đời trong Đức Kitô”
(Thánh Ignatio Antiokia).
CHƯƠNG HAI
CÁC BÍ TÍCH CHỮA LÀNH
295. Tại sao Đức Kitô
lập Bí tích Thống hối và Xức dầu bệnh nhân ?
1420-1421
1426
Đức Kitô là thầy thuốc
chữa lành linh hồn và thể xác, Người đă lập các Bí tích này v́ đời sống
mới do Người ban cho chúng ta qua các Bí tích khai tâm Kitô giáo, có thể
bị suy yếu và thậm chí bị mất đi do tội lỗi. V́ thế, Người muốn rằng Hội
thánh tiếp tục công tŕnh chữa lành và cứu độ của Người qua hai Bí tích
chữa lành.
BÍ TÍCH
THỐNG HỐI HAY GIAO H̉A
296. Bí tích này được
gọi như thế nào ?
1422-1424
Bí tích này được gọi là
Bí tích Thống hối, Giao ḥa, Tha thứ, Xưng tội và Sám hối.
297. Tại sao lại có
một Bí tích Giao ḥa sau Rửa tội ?
1425-1426
1484
V́ đời sống mới trong ân
sủng, được lănh nhận khi lănh Bí tích Rửa tội, không tiêu hủy sự yếu đuối
của bản tính con người, cũng như sự hướng chiều theo tội lỗi (có nghĩa là
dục vọng, concupiscentia), nên Đức Kitô đă thiết lập Bí tích Giao
hoà để những người đă lănh nhận Bí tích Rửa tội có thể ăn năn trở lại một
khi họ xa ĺa Người v́ tội lỗi.
298. Đức Kitô thiết
lập Bí tích này khi nào ?
1485
Đức Kitô sống lại đă
thiết lập Bí tích này khi Người hiện ra với các Tông đồ vào chiều ngày
Phục sinh và nói với họ : “Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần; anh em tha tội
cho ai, th́ người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, th́ người ấy bị cầm
giữ” (Ga 20,22-23).
299. Những người đă
lănh nhận Bí tích Rửa tội có cần phải hoán cải hay không ?
1427-1429
Lời kêu gọi hoán cải của
Đức Kitô luôn vang vọng trong đời sống những người đă lănh Bí tích Rửa
tội. Việc hoán cải này là một cuộc chiến đấu liên tục của toàn thể Hội
thánh, tuy có đặc điểm là thánh thiện, nhưng lại bao gồm các tội nhân.
300. Thống hối nội tâm
là ǵ ?
1430-1433
1490
Là biểu hiện của “tâm hồn
tan nát” (Tv 50 [51],19), được ân sủng thần linh thúc đẩy để đáp lại t́nh
yêu thương xót của Thiên Chúa. Ḷng thống hối bao hàm sự đau khổ và quay
lưng lại với tội lỗi đă phạm, quyết tâm trong tương lai sẽ không phạm tội
nữa và tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Ḷng thống hối được dưỡng
nuôi bằng niềm hy vọng vào sự thương xót của Thiên Chúa.
301. Việc thống hối
trong đời sống người Kitô hữu được diễn tả dưới những h́nh thức nào ?
1434-1439
Việc thống hối được thể
hiện qua nhiều h́nh thức khác nhau, đặc biệt qua việc ăn chay, cầu nguyện,
bố thí. Các h́nh thức thống hối này, và nhiều h́nh thức khác, có thể được
người Kitô hữu thực hành trong đời sống hằng ngày của họ, đặc biệt trong
Mùa Chay và ngày thứ sáu là ngày sám hối.
302. Các yếu tố chính
yếu của Bí tích Giao ḥa là ǵ ?
1440-1449
Có hai yếu tố chính :
hành vi của người sám hối, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, và lời xá
giải của linh mục, nhân danh Đức Kitô, trao ban ơn tha thứ và xác định
cách đền tội.
303. Hối nhân phải có
những hành vi nào ?
1450-1460
1487-1492
Những việc hối nhân phải
làm là : xét ḿnh cẩn thận; ăn năn tội cách trọn khi phát xuất từ
ḷng yêu mến Chúa và cách không trọn khi dựa vào những động lực khác, và
quyết tâm không tái phạm nữa; xưng tội, tức là xưng thú tội lỗi với
linh mục; đền tội, tức làm một số việc thống hối mà cha giải tội ấn
định để đền bù những hậu quả do tội gây ra.
304. Phải xưng những
tội nào ?
1456
Chúng ta phải xưng tất cả
các tội trọng nhớ được mà chưa xưng sau khi đă xét ḿnh cẩn thận. Việc
xưng thú các tội trọng là phương tiện thông thường duy nhất để được ơn tha
tội.
305. Khi nào phải
xưng thú các tội trọng ?
1457
Mọi tín hữu khi đến tuổi
khôn buộc phải xưng các tội trọng của ḿnh ít nhất một năm một lần và,
trong mọi trường hợp, phải xưng các tội trọng trước khi rước lễ.
306. Tại sao khi xưng
tội cũng nên xưng thú các tội nhẹ ?
1458
Hội thánh tha thiết
khuyên chúng ta xưng thú các tội nhẹ, mặc dầu điều này không phải là cần
thiết theo nghĩa hẹp, bởi v́ việc xưng thú như vậy giúp tạo nên lương tâm
ngay thẳng và giúp chiến đấu chống lại những hướng chiều về đàng xấu, để
chúng ta được Đức Kitô chữa lành và được tiến triển trong đời sống theo
Thánh Thần.
307. Ai là thừa tác
viên Bí tích này ?
1461-1466
1495
Đức Kitô đă ủy thác thừa
tác vụ Giao ḥa cho các Tông đồ của Người, cho các Giám mục kế nhiệm các
ngài, và cho các linh mục, là những cộng tác viên của Giám mục. Như vậy,
tất cả các vị ấy trở thành khí cụ của ḷng thương xót và sự công chính của
Thiên Chúa. Các ngài thực thi quyền tha thứ các tội lỗi nhân danh Cha,
Con và Thánh Thần.
308. Việc tha thứ một
số tội được dành riêng cho ai ?
1463
Việc xá giải một số tội
đặc biệt nghiêm trọng (như những người bị vạ tuyệt thông) được dành riêng
cho Ṭa thánh hay vị Giám mục sở tại hay một số linh mục được các ngài ủy
nhiệm. Trong trường hợp nguy tử, bất kỳ linh mục nào cũng có thể xá giải
bất cứ tội lỗi hay vạ tuyệt thông nào.
309. Cha giải tội có
bị ràng buộc với bí mật ṭa giải tội hay không ?
1467
V́ sự tế nhị và cao cả
của thừa tác vụ này và v́ phải tôn trọng những người xưng tội, mọi cha
giải tội buộc phải giữ “ấn tín ṭa giải tội,” nghĩa là phải bí mật tuyệt
đối về những tội lỗi người ta đă xưng thú cho ngài trong ṭa giải tội. Vấn
đề giữ ấn tín ṭa giải tội không có luật trừ, ai vi phạm sẽ bị những h́nh
phạt rất nặng.
310. Hiệu quả của Bí
tích này là ǵ ?
1468-1470
1496
Hiệu quả của Bí tích
Thống hối là : được giao ḥa với Thiên Chúa, và như vậy, được tha thứ tội
lỗi; được giao ḥa với Hội thánh; được trở lại t́nh trạng ân sủng nếu như
đă mất; được tha thứ h́nh phạt đời đời đáng phải chịu v́ các tội
trọng đă phạm và, ít nhất một phần, những h́nh phạt tạm là hậu quả
của tội; được b́nh an thư thái trong lương tâm và được an ủi; được gia
tăng sức mạnh thiêng liêng để chiến đấu trong cuộc lữ hành.
311. Trong một số
trường hợp, có thể cử hành Bí tích này bằng việc xưng tội chung và xá giải
tập thể không ?
1480-1484
Trong những trường hợp
thật sự khẩn cấp (như có nguy cơ sắp chết) người ta có thể cử hành chung
Bí tích Giao ḥa, gồm có việc xưng tội chung và xá giải tập thể, nhưng vẫn
phải tuân giữ các luật lệ của Hội thánh và với quyết tâm sẽ xưng riêng các
tội trọng vào thời gian sớm nhất.
312. Ân xá là ǵ ?
1471-1479
1498
Ân xá là việc tha thứ
trước mặt Thiên Chúa khỏi những h́nh phạt tạm đáng chịu v́ những
tội lỗi đă phạm, dù đă được tha thứ. Với những điều kiện được Hội thánh
quy định, người tín hữu có thể lănh nhận ơn tha thứ này cho chính ḿnh hay
cho những người đă qua đời, nhờ thừa tác vụ của Hội thánh, như là người
phân phát ơn cứu chuộc và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các
thánh.
BÍ TÍCH XỨC
DẦU BỆNH NHÂN
313. Trong Cựu Ước,
người ta quan niệm thế nào về bệnh tật ?
1499-1502
Trong Cựu Ước, con người,
trong khi bị đau yếu, cảm nghiệm được sự hữu hạn của ḿnh, đồng thời cũng
nhận ra bệnh tật có liên hệ cách bí nhiệm với tội lỗi. Các tiên tri đă
thoáng nhận ra rằng bệnh tật cũng có thể có một giá trị cứu chuộc các tội
lỗi cá nhân của ḿnh và của người khác. V́ thế người ta đón nhận bệnh tật
trước tôn nhan Thiên Chúa và kêu cầu Ngài chữa lành.
314. Ḷng trắc ẩn của
Chúa Giêsu đối với các bệnh nhân có ư nghĩa ǵ ?
1503-1505
Ḷng trắc ẩn của Chúa
Giêsu đối với các bệnh nhân và nhiều việc chữa lành Người đă thực hiện là
một dấu chỉ chứng tỏ, nơi Người, Nước Thiên Chúa đă đến, và như vậy, đă
đến lúc chiến thắng tội lỗi, đau khổ và cái chết. Bằng cuộc khổ nạn và cái
chết của Người, Chúa Giêsu đem lại cho đau khổ một ư nghĩa mới, đó là,
nếu được kết hợp với sự đau khổ của Người, th́ đau khổ có thể trở thành
một phương tiện thanh luyện và cứu độ cho chúng ta và cho những người
khác.
315. Hội thánh đối xử
thế nào đối với các bệnh nhân ?
1506-1513
1526-1527
Khi nhận nơi Chúa mệnh
lệnh chữa lành các bệnh nhân, Hội thánh cố gắng chăm sóc và cầu nguyện cho
các bệnh nhân. Đặc biệt, Hội thánh có một Bí tích đặc biệt dành cho các
bệnh nhân, do chính Đức Kitô thiết lập và thánh Giacôbê chứng nhận : “Ai
trong anh em đau yếu ư ? Người ấy hăy mời các kỳ mục trong Hội thánh đến
và họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa,” (Gc 5,
14-15).
316. Ai có thể lănh
nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân ?
1514-1515
1528-1529
Mọi tín hữu đều có thể
lănh nhận Bí tích này, khi họ bắt đầu lâm cơn nguy tử do bệnh tật hay già
yếu. Chính người đó có thể lănh nhận Bí tích này nhiều lần nữa, khi bệnh
trở nặng hay mắc phải một cơn bệnh nặng khác. Nếu có thể được, nên cho
bệnh nhân xưng tội riêng, trước khi cử hành Bí tích này.
317. Ai ban Bí tích
này ?
1516
1530
Chỉ có các tư tế (Giám
mục hay linh mục) mới có thể trao ban Bí tích này.
318. Bí tích này được
cử hành thế nào ?
1517-1519
1531
Việc cử hành Bí tích này
chính yếu là việc xức dầu, nếu có thể được là dầu do Giám
mục làm phép, trên trán và hai bàn tay của bệnh nhân (trong nghi thức
Rôma) và trên các phần thân thể khác (trong các nghi thức khác). Việc xức
dầu có kèm theo lời nguyện của vị tư tế cầu xin ân sủng đặc biệt
của Bí tích này.
319. Bí tích này mang
lại những hiệu quả ǵ ?
1520-1523
1532
Bí tích này mang lại một
ân sủng đặc biệt, giúp bệnh nhân được kết hợp chặt chẽ hơn với cuộc khổ
nạn của Đức Kitô, để mưu ích cho bản thân và cho toàn thể Hội thánh. Ân
sủng này mang lại cho bệnh nhân sức mạnh, b́nh an, can đảm và ơn tha thứ
tội lỗi nếu bệnh nhân không thể xưng tội được. Đôi khi, nếu Thiên Chúa
muốn, Bí tích này cũng đem lại sự chữa lành thân xác. Dầu sao đi nữa, Bí
tích Xức dầu bệnh nhân chuẩn bị cho một cuộc vượt qua để tiến về Nhà Cha.
320. Của Ăn đàng là
ǵ ?
1524-1525
Của Ăn đàng là Bí tích
Thánh Thể được trao ban cho những người sắp rời bỏ cuộc sống trần gian và
đang chuẩn bị cho cuộc vượt qua tiến vào đời sống vĩnh cửu. Được lănh nhận
vào lúc sắp rời bỏ thế gian để về với Chúa Cha, việc rước Ḿnh và Máu Đức
Kitô tử nạn và phục sinh là mầm giống cho đời sống vĩnh cửu và sức mạnh
phục sinh.
CHƯƠNG BA
CÁC BÍ TÍCH PHỤC VỤ CHO SỰ HIỆP THÔNG VÀ
CHO SỨ VỤ
321. Các Bí tích nào
dành cho việc phục vụ sự hiệp thông và sứ vụ ?
1533-1535
Có hai Bí tích, Truyền
chức thánh và Hôn phối, đem lại một ân sủng riêng cho một sứ vụ đặc biệt
trong Hội thánh, để phục vụ việc xây dựng dân Thiên Chúa. Cả hai đóng góp
một cách đặc biệt cho sự hiệp thông trong Hội thánh và cho ơn cứu độ của
những người khác.
BÍ TÍCH
TRUYỀN CHỨC THÁNH
322. Bí tích Truyền chức
thánh là ǵ ?
1536
Là Bí tích qua đó, sứ vụ
Đức Kitô đă ủy thác cho các Tông đồ của Người, được tiếp tục thực thi
trong Hội thánh, cho đến ngày tận thế.
323. Tại sao gọi là
Bí tích Truyền chức thánh (Ordo) ?
1537-1538
Từ Ordo chỉ một
phẩm trật của Hội thánh; người gia nhập vào phẩm trật đó phải được thánh
hiến đặc biệt (Ordinatio). Nhờ hồng ân đặc biệt của Chúa Thánh
Thần, việc thánh hiến này cho phép người thụ phong được thực thi một
quyền thánh chức nhân danh và với thẩm quyền của Đức Kitô để phục vụ
Dân Thiên Chúa.
324. Bí tích Truyền
chức thánh có vị trí nào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa ?
1539-1546
1590-1591
Trong Cựu Ước, có những
h́nh ảnh tượng trưng về Bí tích này : việc phục vụ của chi tộc Lêvi, cũng
như chức tư tế của ông Aaron và thể chế bảy mươi kỳ lăo (x. Ds 11,25). Các
h́nh ảnh này được kiện toàn nơi Đức Kitô Giêsu, nhờ hy tế thập giá, là
“Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1 Tm 2,5), là
“vị thượng tế theo phẩm trật Melkisedec” (Dt 5, 10). Chức tư tế duy nhất
của Đức Kitô được hiện diện qua chức tư tế thừa tác.
“Đức Kitô là vị Tư tế đích thực duy nhất, người này kẻ khác chỉ là
những thừa tác viên của Người” (Thánh Tôma Aquinô).
325. Các cấp bậc khác
nhau của Bí tích Truyền chức thánh là những cấp bậc nào ?
1554
1593
Bí tích Truyền chức thánh
gồm có ba cấp bậc, không thể thay thế trong cơ cấu tổ chức của Hội thánh,
đó là chức Giám mục, chức linh mục và chức phó tế.
326. Việc truyền chức
Giám mục có hiệu quả ǵ ?
1557-1558
1594
Việc truyền chức Giám mục
trao ban sự viên măn của Bí tích Truyền chức. Bí tích này làm cho Giám mục
trở thành người kế nhiệm hợp pháp của các Tông đồ và hội nhập ngài vào
Giám mục đoàn, chia sẻ với Đức Giáo hoàng và các Giám mục khác sự quan
tâm chăm sóc cho toàn thể Hội thánh. Bí tích này trao ban cho Giám mục
trách vụ giảng dạy, thánh hóa và cai quản.
327. Đâu là nhiệm vụ
của Giám mục trong Giáo hội địa phương được uỷ thác cho ngài ?
1560-1561
Trong một Giáo hội địa
phương được uỷ thác cho ngài, Giám mục là nguyên lư hữu h́nh và là nền
tảng cho sự hợp nhất của Giáo hội đó; với tư cách là người đại diện Đức
Kitô, vị Giám mục chu toàn trách nhiệm mục vụ đối với giáo hội này, với sự
giúp đỡ của các linh mục và phó tế của ngài.
328. Việc truyền chức
linh mục có hiệu quả ǵ ?
1562-1567
1595
Việc xức dầu bằng Chúa
Thánh Thần ghi nơi linh mục một ấn tín thiêng liêng không thể tẩy xóa,
khiến ngài nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô-Tư Tế, và trao cho ngài
khả năng hoạt động nhân danh Đức Kitô-Thủ Lănh. Là cộng sự viên của hàng
Giám mục, linh mục được thánh hiến để loan báo Tin Mừng, cử hành việc
phụng thờ Thiên Chúa, nhất là Bí tích Thánh Thể; từ đó ngài rút được sức
mạnh cho thừa tác vụ của ḿnh và cho nhiệm vụ là mục tử của các tín hữu.
329. Linh mục thi
hành thừa tác vụ của ḿnh thế nào ?
1568
Dù được truyền chức cho
một sứ vụ phổ quát, linh mục thực thi sứ vụ này trong một Giáo hội địa
phương, liên kết trong t́nh huynh đệ với các linh mục khác, cùng nhau làm
thành linh mục đoàn; các vị này, hiệp thông với Giám mục và thuộc quyền
ngài, chịu trách nhiệm về Giáo hội địa phương đó.
330. Việc phong chức
phó tế có hiệu quả ǵ ?
1569-1571
1596
Được đồng h́nh đồng dạng
với Đức Kitô-tôi tớ cho mọi người, vị Phó tế được truyền chức để phục vụ
Hội thánh. Dưới quyền Giám mục ḿnh, phó tế thực thi việc phục vụ trong
thừa tác vụ Lời Chúa, việc phụng thờ Thiên Chúa, trong trách nhiệm mục vụ
và bác ái.
331. Bí tích Truyền
chức thánh được cử hành thế nào ?
1572-1574
1597
Cho cả ba cấp bậc, Bí
tích Truyền chức thánh được trao ban qua việc Giám mục đặt tay trên
đầu tiến chức, rồi long trọng đọc lời nguyện truyền chức.
Qua lời nguyện này, Giám mục cầu xin Thiên Chúa đổ tràn Chúa Thánh Thần
với các hồng ân của Ngài một cách đặc biệt trên tiến chức, giúp thực thi
thừa tác vụ mà tiến chức phải đảm nhận.
332. Ai có thể cử
hành Bí tích Truyền chức thánh ?
1575-1576
1600
Chỉ có các Giám mục đă
được tấn pho