TÔNG
HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
SACRAMENTUM CARITATIS
CỦA ĐỨC
GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI
GỬI CÁC
GIÁM MỤC, LINH MỤC, PHÓ TẾ VÀ GIÁO DÂN
VỀ BÍ
TÍCH THÁNH THỂ
NGUỒN
MẠCH VÀ ĐỈNH CAO
CỦA ĐỜI
SỐNG VÀ SỨ MỆNH CỦA GIÁO HỘI
Dẫn nhập [1]
Lương thực sự thật [2]
Sự phát triển của nghi lễ Thánh Thể [3]
Thượng Hội Đồng Giám Mục và Năm Thánh Thể
[4]
Mục đích của Tông huấn [5]
PHẦN MỘT:
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ TIN
Đức tin vào Thánh Thể của Giáo Hội [6]
Chúa Ba Ngôi và Bí Tích Thánh Thể
Bánh từ trời xuống [7]
Một ơn ban không của Chúa Ba Ngôi [8]
Thánh Thể: Chúa Giêsu Chiên Hiến Tế đích
thực
Giao ước mới và vĩnh cửu trong máu Con Chiên
[9]
Lập Bí Tích Thánh Thể [10]
H́nh bóng biến thành sự thật (Figura transit
in veritatem) [11]
Chúa Thánh Thần và Bí Tích Thánh Thể
Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần [12]
Chúa Thánh Thần và việc cử hành Thánh Thể
[13]
Bí Tích Thánh Thể và Giáo Hội
Bí tích Thánh Thể, nguyên lí tác thành Giáo
Hội [14]
Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông Giáo Hội
[15]
Bí tích Thánh Thể và các Bí tích khác
Tính Bí tích của Giáo Hội [16]
I. Bí Tích Thánh Thể và Sự Khai tâm Kitô
giáo
Bí tích Thánh Thể, sự hoàn bị của việc khai
tâm Kitô giáo [17]
Tŕnh tự các bí tích khai tâm [18]
Việc khai tâm, cộng đồng giáo hội và gia
đ́nh [19]
II. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải
Mối liên hệ sâu xa [20]
Một số quan tâm mục vụ [21]
III. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Xức Dầu
bệnh nhân [22]
IV. Bí tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức
Thánh
In persona Christi capitis (nhân danh Chúa
Kitô là đầu) [23]
Bí tích Thánh Thể và sự độc thân linh mục
[24]
Sự thiếu linh mục và mục vụ ơn gọi [25]
Sự biết ơn và niềm hi vọng [26]
V. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hôn Phối
Thánh Thể, một bí tích hôn ước [27]
Bí tích Thánh Thể và tính duy nhất của hôn
nhân [28]
Bí tích Thánh Thể và tính bất khả phân li
của hôn nhân [29]
Bí tích Thánh Thể và cánh chung học
Thánh Thể: một ơn thiêng cho con người trên
đường lữ hành [30]
Bàn tiệc cánh chung [31]
Cầu nguyện cho người chết [32]
Bí tích Thánh Thể và Đức Trinh Nữ Maria [33]
PHẦN HAI:
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ CỬ HÀNH
Luật cầu nguyện và luật đức tin (Lex orandi
et lex credendi) [34]
Cái Đẹp và Phụng vụ [35]
Cử hành Thánh Thể, công việc của “trọn vẹn
Chúa Kitô” (Christus Totus)
Christus totus in capite et in corpore (Trọn
vẹn Chúa Kitô đầu và thân ḿnh) [36]
Bí tích Thánh Thể và Chúa Kitô phục sinh
[37]
Ars celebrandi (Quy tắc cử hành) [38]
Giám mục, vị chủ tế cao nhất [39]
Tôn trọng các sách phụng vụ và sự phong phú
của các dấu chỉ [40]
Nghệ thuật phục vụ việc cử hành [41]
Thánh ca [42]
Cơ cấu của việc cử hành Bí tích Thánh Thể
[43]
Tính duy nhất nội tại của hành vi phụng vụ
[44]
Phụng vụ Lời Chúa [45]
Bài giảng [46]
Dâng của lễ [47]
Kinh nguyện Thánh Thể [48]
Chúc b́nh an [49]
Việc trao và rước Thánh Thể [50]
Lời giải tán: “Lễ xong, hăy đi” (Ite, missa
est) [51]
Sự tham dự linh động (Actuosa participatio)
[52]
Sự tham dự đích thực [53]
Sự tham dự và thừa tác vụ linh mục [53]
Cử hành Thánh Thể và sự hội nhập văn hoá
[54]
Những điều kiện cá nhân cho “actuosa
participatio” [55]
Sự tham dự của các Kitô hữu không phải Công
Giáo [56]
Tham dự qua những phương tiện truyền thông
[57]
Việc tham dự sống động của những người đau
yếu [58]
Quan tâm đến các tù nhân [59]
Di dân và sự tham dự Bí tích Thánh Thể [60]
Những cuộc đồng tế đại trào [61]
Tiếng La tinh [62]
Những cuộc cử hành Thánh Thể trong những
nhóm nhỏ [63]
Sự tham dự nội tâm vào việc cử hành
Giáo lí khai tâm [64]
Ḷng tôn kính đối với Bí tích Thánh Thể [65]
Sự Tôn Thờ và Ḷng sùng kính Thánh Thể
Tương quan nội tại giữa việc cử hành và sự
tôn thờ [66]
Sự thực hành việc chầu Thánh Thể [67]
Những h́nh thức sùng kính Thánh Thể [68]
Vị trí của nhà tạm [69]
PHẦN BA:
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ SỐNG
Mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô
Sự thờ phượng tinh thần – logiké latreía (Rm
12, 1) [70]
Hiệu quả bao trùm của sự thờ phượng Thánh
Thể [71]
Những cộng đoàn cử hành ngày Chúa Nhật thiếu
vắng linh mục [72]
Một h́nh thức Thánh Thể của đời sống Kitô,
thuộc về Giáo Hội [73]
Linh đạo và văn hoá Thánh Thể [74]
Bí tích Thánh Thể và sự rao giảng Tin Mừng
cho các nền văn hoá [75]
Bí tích Thánh Thể và đời sống thánh hiến
[76]
Bí tích Thánh Thể và sự biến đổi luân lí
[77]
Tính công khai của Bí tích Thánh Thể [78]
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để loan
truyền [79]
Bí tích Thánh Thể và truyền giáo [80]
Bí tích Thánh Thể và việc làm chứng [81]
Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất
[82]
Tự do thờ phượng [83]
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để loan
truyền
Bí tích Thánh Thể và truyền giáo [84]
Bí tích Thánh Thể và việc làm chứng [85]
Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất
[86]
Tự do thờ phượng [87]
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để trao cho
thế giới
Thánh Thể, tấm bánh bẻ ra cho sự sống trần
gian [88]
Những ràng buộc xă hội của mầu nhiệm Thánh
Thể [89]
Lương thực sự thật và nhu cầu của con người
[90]
Giáo huấn xă hội của Giáo Hội [91]
Thánh hoá trần gian và bảo vệ tạo vật [92]
Sự ích lợi của một cuốn sách toát yếu về Bí
tích Thánh Thể [93]
KẾT LUẬN [94]
DẪN NHẬP
1. Bí tích t́nh yêu, (1) Thánh Thể là hồng
ân mà chính Chúa Giêsu Kitô thiết lập, mặc khải cho chúng ta t́nh yêu vô
biên của Thiên Chúa dành cho mọi người. Bí tích ḱ diệu này biểu lộ t́nh yêu
“cao cả nhất”, t́nh yêu đă thúc đẩy Người “hi sinh mạng sống ḿnh v́ bạn
hữu” (Ga 15, 13). Qủa thật, Chúa Giêsu đă yêu họ “cho đến cùng” (Ga 13, 1).
Qua những lời đó, vị Thánh Sử giới thiệu hành vi khiêm hạ thẳm sâu của Chúa
Kitô: trước khi chết cho chúng ta trên Thánh Giá, Người cuốn một tấm khăn và
rửa chân cho các môn đệ. Cũng vậy, trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu tiếp
tục yêu chúng ta “cho đến cùng”, đến độ ban ḿnh và máu Người cho chúng ta.
Thật là một điều sửng sốt các Tông Đồ hẳn đă được cảm nhận khi chứng kiến
Chúa hành động và thổ lộ trong bữa Tiệc Li ấy! Thật là điều ḱ diệu mà Mầu
nhiệm thánh thể khơi lên trong tâm hồn chúng ta.
Lương thực sự thật
2. Trong Bí tích của bàn thờ, Chúa gặp gỡ
chúng ta, trở nên bạn đồng hành của chúng ta, những con người được tạo dựng
theo h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Người (x. St 1, 27). Trong Bí tích này
Chúa thực sự trở nên lương thực cho chúng ta, thoả măn cơn đói khát sự thật
và tự do của chúng ta. V́ chỉ có sự thật mới có thể giải thoát chúng ta (x.
Ga 8, 32), nên Chúa Kitô trở nên lương thực sự thật cho chúng ta. Với một sự
hiểu biết sâu xa, thánh Augustinô đă tŕnh bày thật rơ ràng cách thế chúng
ta thường dễ cảm động, bất cứ khi nào chúng ta gặp thấy một điều ǵ lôi cuốn
và đáng yêu mà không bị ép buộc. Ngài tự hỏi điều ǵ có thể làm chúng ta cảm
khái nhất, vị thánh Giám mục thốt lên: “Tâm hồn chúng ta c̣n tha thiết khao
khát điều ǵ hơn sự thật?”(2) Mỗi người chúng ta đều chất chứa một niềm khao
khát tiềm ẩn và bất khả kiềm chế đối với sự thật hiển nhiên và sau cùng.
Chúa Giêsu, “con đường, sự thật và sự sống”(Ga 14, 6) ngỏ với cơi ḷng lữ
hành, cháy khát của chúng ta, cơi ḷng ước muốn nguồn sự sống, cơi ḷng khát
khao sự thật. Chúa Giêsu Kitô là Sự Thật nguyên vị, lôi kéo thế giới đến với
Người. “Chúa Giêsu là ngôi sao mai chỉ đường cho tự do của nhân loại: không
có Người, tự do sẽ mất định hướng, bởi v́ nếu không có sự hiểu biết về sự
thật, tự do sẽ mất giá trị, sẽ lạc hướng, và rơi vào độc đoán trống rỗng.
Với Người, tự do sẽ khai mơ.”(3) Trong Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu tỏ bày
cho chúng ta một cách đặc biệt sự thật về t́nh yêu, là bản tính của Thiên
Chúa. Chính sự thật phúc âm này thách thức mỗi người và toàn thể con người
chúng ta. V́ lí do đó, Giáo Hội khi t́m thấy Thánh Thể là trung tâm đời sống
của ḿnh, không ngừng quan tâm công bố cho mọi người, lúc thuận tiện cũng
như lúc không thuận tiện (x. 2 Tm 4, 2) rằng Thiên Chúa là t́nh yêu. (4)
Chính bởi Chúa Kitô đă trở nên lương thực sự thật cho chúng ta mà Giáo Hội
hướng về mọi người, mời gọi họ tự do đón nhận hồng ân của Thiên Chúa.
Sự phát triển nghi thức thánh thể
3. Nếu t́m hiểu lịch sử hai ngh́n năm Giáo
Hội của Chúa, được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, chúng ta
phải thán phục với ḷng biết ơn sự phát triển trật tự những h́nh thức nghi
lễ mà trong đó chúng ta tưởng niệm biến cố cứu độ. Từ những h́nh thái đa
dạng của những thế kỉ đầu, vẫn c̣n tỏa sáng trong những lễ nghi của các
Giáo Hội Đông Phương Cổ Kính, cho đến khi nghi lễ Rôma lan rộng; từ những
chỉ dẫn minh thị của Công Đồng Trentô và nghi thức Thánh Lễ của Thánh Piô V
cho đến việc canh tân phụng vụ do Công Đồng Vatican khởi xướng: vào mỗi thời
điểm của lịch sử Giáo Hội, việc cử hành thánh thể như là nguồn mạch và đỉnh
cao của đời sống và sứ mệnh Giáo Hội, luôn sáng chói trong nghi lễ phụng vụ
với tất cả sự phong phú và đa dạng của nó. Phiên Họp Khoáng Đại của Thượng
Hội Đồng Giám Mục, diễn ra từ ngày 2 đến 23 tháng Mười 2005 tại Vatican cũng
đă hết ḷng tri ân cảm tạ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong giai đoạn
lịch sử phong phú này. Một cách đặc biệt, các Nghị Phụ đă nh́n nhận và tái
khẳng định ảnh hưởng tốt đẹp mà việc canh tân phụng vụ do Công Đồng Vatican
II khởi xướng đă đem đến cho đời sống Giáo Hội (5). Thượng Hội Đồng Giám Mục
đă có thể đánh giá việc tiếp nhận sự canh tân trong những năm sau Công Đồng.
Đă có nhiều cách lượng định. Những khó khăn và ngay cả những lạm dụng cũng
đă được ghi nhận, điều đó cho thấy chúng không thể khe khuất những lợi ích
và tính hữu hiệu của cuộc canh tân phụng vụ mà những điều phong phú c̣n chưa
được khám phá hết. Một cách cụ thể, những thay đổi mà Công Đồng khai xướng
cần phải được t́m hiểu trong tính duy nhất chung của sự phát triển lịch sử
của chính nghi thức, chứ không phải đưa vào đó sự gián đoạn giả dối. (6)
Thượng Hội Đồng Giám Mục và Năm Thánh Thể
4. Chúng tôi cũng nhấn mạnh tương quan giữa
Thượng Hội Đồng Giám Mục mới đây về Bí Tích Thánh Thể và những biến cố đă
xảy ra trong đời sống Giáo Hội những năm qua. Trước tiên chúng ta cùng nhớ
lại Năm Thánh 2000, năm mà vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Người Tôi Tớ
Chúa, Đức Gioan Phaolô II, đă dẫn dắt Giáo Hội bước vào Ngh́n Năm thứ ba.
Năm Thánh đó thật sự mang một chiều kích Thánh Thể đầy ư nghĩa. Chúng ta
cũng không quên Thượng Hội Đồng Giám Mục đă được định trước, và theo một
nghĩa nào đó, được chuẩn bị bằng Năm Thánh Thể mà Đức Gioan Phaolô II với sự
tiên liệu, đă muốn cho toàn thể Giáo Hội cử hành. Năm đó cũng là năm khai
mạc Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế tại Guadalajara vào tháng Mười 2004 và kết
thúc ngày 23 tháng 10, cùng vào dịp bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ
XI với lễ phong thánh cho năm vị có ḷng sùng kính Thánh Thể một cách đặc
biệt: đó là Đức Giám mục Jósef Bilczewski, các linh mục Gaetano Catanoso,
Zygmunt Gorazdowski và Alberto Hurtado Cruchaga và tu sĩ ḍng capucinô
Felice da Nicosia. Nhờ những giáo huấn do Đức Gioan Phaolô II đề ra trong
Tông thư Mane Nobiscum Domine (7) cùng với những gợi ư trợ lực cho Bộ Phụng
Tự và Kỉ Luật các Bí Tích, (8) nhiều sáng kiến đă được các Giáo Phận và
những nhóm giáo hội địa phương thực hiện nhằm đánh thức và gia tăng đức tin
vào Thánh Thể, nhằm tăng cường phẩm chất của việc cử hành Thánh Thể, nhằm đề
cao việc tôn thờ Thánh Thể cũng như cổ vũ mối liên đới thực tế liên kết cả
với những người nghèo túng, khởi đi từ Bí Tích Thánh Thể. Sau hết, cần phải
đề cập đến ư nghĩa Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia (9) sau cùng của vị
Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, trong đó ngài để lại cho chúng ta huấn dụ vững
chắc của Giáo Huấn Giáo Hội về Bí Tích Thánh Thể và như một chứng tá sau hết
về vị trí trọng tâm mà Bí tích cực thánh này đă chiếm ngự trong suốt cuộc
đời của ngài.
Mục đích của Tông huấn
5. Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục
này nhằm khơi lại sự phong phú cùng nhiều suy tư và những đề xuất đa dạng đă
được đưa ra trong Phiên Họp Khoáng Đại của Thượng Hội Đồng Giám Mục mới đây
– Từ Lineamenta đến Propositiones, hiệp nghị qua Instrumentum Laboris, những
Relationes ante và Post- disceptationes, những ư kiến đóng góp của các Nghị
Phụ, những auditores và những vị đại diện thân hữu- nhằm cung cấp những
hướng dẫn căn bản để làm sống dậy một đà tiến mới cho ḷng sùng kính và mến
yêu Bí Tích Thánh Thể trong Giáo Hội. Ư thức về gia sản bao la của tín lí và
kỉ luật chứa đựng qua nhiều thế kỉ liên quan đến Bí tích này, (10) ở đây tôi
muốn chứng nhận ḷng tha thiết của các Nghị Phụ (11) bằng cách khích lệ
dân Kitô giáo hăy đào sâu việc t́m hiểu mối tương quan giữa mầu nhiệm Thánh
Thể, việc cử hành phụng vụ và ḷng sùng kính mới xuất phát từ Bí Tích Thánh
Thể như là Bí tích t́nh yêu. Do vậy, tôi cũng muốn đặt Tông Huấn này cùng
với Thông Điệp đầu tiên của tôi, Deus Caritas Est, trong đó tôi thường nhắc
đến Bí Tích Thánh Thể và nhấn mạnh tương quan của Bí tích này với t́nh yêu
Kitô giáo, đối với Chúa và cả với tha nhân: “Thiên Chúa nhập thể lôi kéo tất
cả chúng ta đến với Người. Do đó, chúng ta có thể hiểu agapè (t́nh yêu) đă
trở thành một từ ngữ đối với Bí tích Thánh Thể như thế nào: trong Thánh Thể,
agapè của Thiên Chúa đă đến với chúng ta trong h́nh hài thể xác để tiếp tục
công tŕnh của Người trong và qua chúng ta ”(12).
PHẦN MỘT
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ĐỂ TIN
“Việc cuả Thiên Chúa, chính là các ông tin
vào Đấng Người đă sai đến” (Ga 6, 29)
Đức tin vào Thánh Thể của Giáo Hội
6. “Đây là mầu nhiệm đức tin !”Những lời này
được xướng ngay sau lời truyền phép, linh mục công bố mầu nhiệm được cử hành
và bày tỏ sự sửng sốt của ngài trước sự biến đổi bản thể của bánh và rượu
nên Ḿnh và Máu Chúa Giêsu, một thực tại vượt qúa sự hiểu thấu của con
người. Bí tích Thánh Thể là một “mầu nhiệm đức tin” cách tuyệt hảo: là “sự
tổng hợp và tóm kết đức tin của chúng ta.” (13) Đức tin của Giáo Hội tự nền
tảng là đức tin vào Thánh Thể, và đức tin dó được nuôi dưỡng một cách đặc
biệt tại bàn tiệc Thánh Thể. Đức tin và các bí tích là hai khía cạnh bổ túc
cho nhau trong đời sống Giáo Hội. Được đánh thức bằng việc giảng dạy Lời
Chúa, đức tin được nuôi dưỡng và tăng triển trong sự gặp gỡ đầy tràn ân sủng
với Chúa Phục Sinh, diễn ra trong việc cử hành các bí tích: “đức tin được
diễn đạt trong nghi lễ, nghi lễ lại tăng cường và củng cố đức tin.” (14) Do
đó, Bí tích của Bàn Thờ luôn là trọng tâm của đời sống Giáo Hội: “nhờ Thánh
Thể, Giáo Hội được tái sinh và đổi mới không ngừng!”(15) Đức tin vào Thánh
Thể của Dân Chúa càng sống động th́ việc tham dự vào đời sống Giáo Hội càng
sâu xa hơn trong việc kiên cường dấn thân cho công cuộc truyền giáo đă được
Chúa Kitô ủy thác cho các môn đệ của Người. Chính lịch sử của Giáo Hội làm
chứng điều đó. Mỗi một cuộc cải cách lớn lao, cách nào đó, lại được tiếp nối
bằng một sự tái khám phá niềm tin vào sự hiện diện Thánh Thể của Chúa ở giữa
dân Người.
Chúa Ba Ngôi và Bí Tích Thánh Thể
Bánh từ trời xuống
7. Yếu tố đầu tiên của đức tin vào Thánh Thể
là mầu nhiệm về chính Thiên Chúa, là t́nh yêu Chúa Ba Ngôi. Trong cuộc đàm
thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô, chúng ta t́m được sự diễn tả rơ ràng
về vấn đề này: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, để ai tin
vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Qủa vậy,
Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian,
nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ ” (Ga 3, 16-17).
Những lời này tỏ rơ nguồn mạch sâu thẳm về ân sủng của Thiên Chúa. Chúa
Giêsu trong Thánh Thể không ban cho ta một “vật,” nhưng ban chính Người;
Người ban chính ḿnh Người và tuôn đổ chính máu Người. Như vậy, Người ban
cho chúng ta trọn vẹn sự sống Người và mặc khải nguồn cội tối hậu của t́nh
yêu này. Người là Con Một đời đời, được Chúa Cha trao ban cho chúng ta.
Trong Tin Mừng, chúng ta nghe Chúa Giêsu, sau khi đă hóa bánh và cá ra nhiều
nuôi đám đông dân chúng, nói với những người đă theo Người đến hội đường
Caphácnaum: “Chính Cha tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, v́
bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh ban sự sống cho thế gian”(Ga
6, 32- 33), và người tự đồng hóa, chính thịt máu Người với bánh ấy: “ Tôi là
bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời; và bánh
tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,
51). Như vậy, Chúa Giêsu chứng tỏ rằng Người là bánh sự sống mà Cha vĩnh cửu
ban cho nhân loại.
Một ơn ban không của Chúa Ba Ngôi
8. Bí tích Thánh Thể mặc khải chương tŕnh
yêu thương hướng dẫn toàn bộ lịch sử cứu độ (x. Ep 1, 10; 3, 8- 11). Trong
Thánh Thể, Deus Trinitas (Chúa Ba Ngôi), mà bản tính là t́nh yêu (x. 1 Ga 4,
7-8), trở nên trọn vẹn một phần tử trong thân phận con người. Trong h́nh
bánh và rượu Chúa Kitô tự hiến cho chúng ta trong bữa ăn vượt qua (x. Lc 22,
14- 20; 1Cr 11, 23- 26), nguyên vẹn sự sống của Thiên Chúa hội nhập chúng ta
và tham dự vào chúng ta dưới h́nh thức Bí tích. Thiên Chúa là sự hiệp thông
t́nh yêu trọn hảo giữa Cha, Con và Thánh Thần. Ngay trong công tŕnh tạo
dựng, con người đă được gọi chia sẻ một phần nào đó vào hơi thở sự sống của
Thiên Chúa (x. St 2, 7). Nhưng chính trong Chúa Kitô, chết và sống lại và
lúc tuôn đổ Thần Khí, được ban cách vô ngần vô hạn (x. Ga 3, 34) mà chúng ta
được trở nên những người tham dự vào sự sống sâu thẳm của Thiên Chúa. (16)
Chúa Giêsu Kitô, Đấng “nhờ Thánh Thần hằng hữu đă tự hiến như lễ vật vẹn
toàn dâng lên Thiên Chúa” (Dt 9, 14), chuyển thông cho chúng ta trong hồng
ân Thánh Thể chính sự sống thần linh. Đây là một ơn tuyệt đối nhưng không,
một sự thực hiện những lời hứa của Thiên Chúa vựơt khỏi mọi giới hạn. Giáo
Hội đón nhận, cử hành và tôn thờ ân sủng này trong sự tuân phục tín trung.
“Mầu nhiệm đức tin”, do vậy là một mầu nhiệm của t́nh yêu Ba Ngôi, một mầu
nhiệm mà trong đó nhờ ân sủng, chúng ta được kêu gọi tham dự. Vậy th́, cùng
với thánh Augustinô chúng ta cũng phải kêu lên: “Nếu bạn nh́n thấy t́nh yêu
bạn cũng thấy Chúa Ba Ngôi.” (17)
Thánh Thể: Chúa Giêsu Chiên Hiến Tế đích
thực
Giao ước mới và vĩnh cửu trong máu Con Chiên
9. Sứ mệnh Chúa Giêsu đến ở giữa chúng ta đă
được hoàn tất trong Mầu Nhiệm Vượt Qua. Trên Thánh Giá, nơi Chúa kéo mọi
người đến với Người (x. Ga 12, 32), ngay trước khi “trao Thần Khí”, Người
thốt lên: “Thế là đă hoàn tất” (Ga 19, 30). Trong mầu nhiệm của việc Chúa
Kitô vâng phục cho đến chết, dẫu chết trên Thập Giá (x. Pl 2, 8) giao ước
mới và vĩnh cửu đă được thực hiện. Trong thân xác chịu đóng đinh của Người,
tự do của Thiên Chúa và tự do của con người đă gặp nhau cách trọn vẹn qua
một hiệp ước không thể loại bỏ, có hiệu lực một cách vĩnh viễn. Tội lỗi con
người cũng được cứu chuộc một lần cho tất cả nhờ Con Chúa (Dt 7, 27; 1 Ga 2,
2; 4, 10). Như tôi đă có lần khẳng định, “Cái chết của Chúa Kitô trên Thánh
Giá là đỉnh cao của việc Thiên Chúa quay lại chống đối chính ḿnh, trong đó
Thiên Chúa tự hiến chính ḿnh để nâng con người lên và cứu độ họ. Đó là t́nh
yêu trong h́nh thái triệt để nhất.” (18) Trong Mầu Nhiệm Vượt Qua, sự giải
thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết đă được thực hiện. Khi lập Bí tích
Thánh Thể, Chúa Giêsu đă nói về “giao ước mới và vĩnh cửu” được ghi dấu bằng
máu của Người (x. Mt 26, 28; Mc 14, 24; Lc 22, 20). Cùng đích sứ mệnh của
Người đă hiện rơ ngay từ khởi điểm cuộc đời công khai của Người. Thật vậy,
trên ḍng kênh Giođan, khi Gioan Tẩy Giả thấy Chúa Giêsu đến với ḿnh đă kêu
lên: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1, 29). Thật là ư
nghĩa khi cùng những lời đó đă được lặp lại trong mỗi lần cử hành Thánh Lễ,
lúc linh mục mời gọi chúng ta tiến đến bàn thờ: “Đây Chiên Thiên Chúa Đấng
xoá tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự bữa tiệc của Người.” Chúa
Giêsu là con chiên vượt qua đích thực đă tự nguyện hiến ḿnh để cứu chuộc
chúng ta, và v́ thế đă thực hiện giao ước mới và vĩnh cửu. Bí Tích Thánh Thể
chứa đựng tính mới mẻ trọn vẹn được ban cho chúng ta mỗi khi cử hành. (19)
Lập Bí Tích Thánh Thể
10. Điều này hướng chúng ta suy tư về việc
thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Li. Việc thiết lập này diễn ra
trong nghi thức bữa ăn tưởng niệm biến cố nền tảng của dân tộc Israel: Việc
giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Đây là nghi thức bữa ăn, liên quan đến
việc sát tế con chiên (x. Xh 21, 1- 28, 43- 51), là một việc hồi tưởng qúa
khứ, nhưng đồng thời cũng là một sự hồi tưởng có tính tiên tri, loan báo về
một sự giải thoát sắp đến. Thật vậy, dân đă nhận ra rằng việc giải phóng
trước không mang tính quyết định, bởi v́ lịch sử của họ vẫn tiếp tục được
ghi vết bởi nô lệ và tội lỗi. Việc tưởng nhớ cuộc giải phóng xa xưa như vậy
đă mở ra cho ước nguyện và sự chờ mong một ơn cứu độ sâu xa hơn, triệt để
hơn, phổ quát và dứt khoát hơn. Đây là bối cảnh mà trong đó Chúa Giêsu đưa
vào tính mới mẻ của sự trao hiến của Người. Trong kinh ca ngợi, Berakah,
Người không chỉ cảm tạ Chúa Cha v́ những biến cố xảy ra trong qúa khứ, nhưng
c̣n để “tán dương” chính Người. Khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu
báo trước và kiện toàn hi tế Thập Giá và sự chiến thắng của biến cố phục
sinh. Đồng thời Người mặc khải chính Người là con chiên hiến tế, đă được dự
liệu trong kế hoạch của Chúa Cha ngay từ khi tạo thành thế giới, như được
ghi trong Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô (x. 1, 18- 20). Khi đặt sự trao ban
của Người trong bối cảnh này, Chúa Giêsu tỏ rơ ư nghĩa cứu độ của sự chết và
sự phục sinh của Người, mầu nhiệm canh tân lịch sử và toàn thể vũ trụ. Qủa
thật, việc thiết lập Bí tích Thánh Thể chứng tỏ rằng cái chết của Chúa
Giêsu, dẫu tự nó là bạo lực và vô nghĩa, th́ trong Người đă trở nên một hành
vi của t́nh yêu cao cả và là sự giải thoát dứt khoát nhân loại khỏi tội lỗi.
H́nh bóng biến thành sự thật (Figura transit
in veritatem)
11. Bằng cách đó, Chúa Giêsu đưa novum (tính
mới mẻ) triệt để của Người vào bữa ăn hiến tế Do Thái cổ xưa. Đối với chúng
ta, bữa ăn đó không c̣n cần phải lặp lại. Các Giáo phụ nói rất chính xác,
figura transit in veritatem: h́nh bóng mở đường cho chính sự thật. Nghi lễ
cổ xưa đă kết thúc trọn vẹn và đă được vượt qua một cách dứt khoát bởi việc
trao ban đầy t́nh thương Con của Thiên Chúa nhập thể. Lương thực sự thật,
chính là Chúa Kitô hiến tế v́ chúng ta, dat figuris terminum (trao giới hạn
làm h́nh bóng). (20) Bằng lệnh truyền của Người “hăy làm việc này mà nhớ đến
Thầy” (Lc 22, 19; 1 Cr 11, 25), Người đ̣i hỏi chúng ta đáp lại ơn ban của
Người và tái hiện một cách bí tích. Qua những lời này, Chúa bày tỏ ước muốn
của Người, như có thể nói, Giáo Hội được khai sinh từ hi tế của Người, sẽ
nhận lănh hồng ân này để triển khai h́nh thức phụng vụ của bí tích, dưới sự
hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Việc tưởng nhớ ân huệ hoàn hảo này không hệ
tại chỉ đơn điệu lặp lại Bữa Tiệc Li, nhưng là cử hành chính Bí tích Thánh
Thể, nghĩa là trong sự mới mẻ triệt để của sự thờ phượng Kitô giáo. Như vậy,
Chúa Giêsu để lại cho chúng ta phận vụ là đi vào “giờ ” của Người. “Bí tích
Thánh Thể lôi kéo chúng ta vào trong chính hành vi tự hiến của Chúa Giêsu.
Không phải chỉ đón nhận Ngôi Lời nhập thể một cách tĩnh tại, chúng ta c̣n đi
vào chính đông năng việc tự hiến của Người.” (21) Chúa “lôi kéo chúng ta đến
với Người.” (22) Sự biến đổi bản thể bánh và rượu thành Thịt và Máu Người
dẫn đưa vào trong thụ tạo nguyên lí của một sự biến đổi trọn vẹn, một kiểu
“hạch phân nguyên tử”, như từ ngữ ngày nay chúng ta quen dùng, thẩm nhập vào
trung tâm của mọi hữu thể, một sự biến đổi có mục đích khởi động một tiến
tŕnh biến đổi thực tại, một tiến tŕnh mà chung cuộc sẽ dẫn đến việc thay
đổi toàn bộ thế giới, đạt tới mức Thiên Chúa sẽ là tất cả cho mọi người (x.
1 Cr 15, 28).
Chúa Thánh Thần và Bí Tích Thánh Thể
Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần
12. Bằng lời nói và với bánh và rượu, chính
Chúa đă trao cho chúng ta những yếu tố nền tảng của sự thờ phượng mới. Giáo
Hội, Tân Nương của Người, được kêu gọi cử hành tiệc thánh thể hằng ngày để
kính nhớ Người. Như vậy, Giáo Hội làm cho hi tế cứu độ của Tân Lang trở
thành một phần của lịch sử nhân loại, và làm cho nó hiện diện một cách bí
tích trong mọi nền văn hoá. Mầu nhiệm cao cả này được cử hành trong h́nh
thức phụng vụ mà Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, triển khai trong
thời gian và không gian. (23) Chúng ta cần một nhận thức mới về vai tṛ
quyết định mà Chúa Thánh Thần nắm giữ trong sự tiến hoá của h́nh thức phụng
vụ cũng như trong việc t́m hiểu thấu đáo các mầu nhiệm thánh. Chúa Thánh
Thần, ơn huệ khởi đầu của Chúa Kitô cho những người tin, (24) đă hoạt động
ngay từ lúc Tạo Dựng (x. 1, 2) hiện diện xuyên suốt trong cuộc đời của Ngôi
Lời nhập thể: Chúa Giêsu Kitô được thụ thai bởi Đức Nữ Đồng Trinh Maria do
quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Mt 1, 18; Lc 1, 35); vào lúc bắt đầu sứ mệnh
công khai, trên bờ kênh Giođan, Người nh́n thấy Chúa Thánh Thần ngự xuống
trên Người với h́nh chim bồ câu (x. Mt 3, 16- 17); Người hành động, nói năng
và mừng vui trong Chúa Thánh Thần (x. Lc 10, 21), và Người đă tự hiến trong
Chúa Thánh Thần (x. Dt 9, 14). Trong phần được gọi là “diễn từ li biệt” do
Gioan tường thuật, Chúa Giêsu minh thị liên kết việc trao ban sự sống của
Người trong mầu nhiệm vượt qua với ân huệ của Chúa Thánh Thần dành cho những
kẻ thuộc về Người (x. Ga 16, 7). Một khi đă sống lại, dẫu c̣n mang trên thân
xác những dấu tích của cuộc khổ nạn, Người vẫn có thể tuôn đổ Thánh Thần
trên họ (x. Ga 20, 22), cho họ được chia sẻ sứ mệnh của chính Người (x.Ga
20, 21). Lúc đó, Chúa Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ mọi sự và giúp họ nhớ lại
tất cả những ǵ Chúa Kitô đă nói với họ (x. Ga 14, 26), bởi v́ Người ngự đến
như Thần Chân Lí (x.Ga 15, 26) để hướng dẫn các môn đệ đi vào sự thật toàn
vẹn (x. 16, 13). Theo tŕnh thuật của sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Thánh Thần
ngự xuống trên các Tông Đồ cùng nhau quy tụ và cầu nguyện với Đức Maria vào
ngày Hiện Xuống (x. 2, 1- 4) và thôi thúc họ thực hiện sứ mệnh loan báo Tin
Mừng cho mọi dân tộc. Như vậy, chính qua hoạt động của Chúa Thánh Thần mà
Chúa Kitô tiếp tục hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội của Người, khởi đi
từ tâm điểm sinh động là Bí tích Thánh Thể.
Chúa Thánh Thần và việc cử hành Thánh Thể
13. Trên cái nền đó, chúng ta có thể hiểu rơ
vai tṛ Chúa Thánh Thần nắm giữ trong việc cử hành Thánh Thể, đặc biệt liên
quan đến sự biến thể. Các Giáo phụ ư thức rất điều này rrất rơ. Trong Sách
Giáo Lí của ḿnh, Thánh Cyrilô thành Giêrusalem nhắc nhở rằng chúng ta “nài
xin Chúa thương sai Chúa Thánh Thần xuống trên các lễ vật đă được dọn ra, và
biến bánh thành ḿnh Chúa Kitô, rượu thành máu Chúa Kitô. Những ǵ Chúa
Thánh Thần chạm vào đều được thánh hoá và được biến đổi trọn vẹn” (25).
Thánh Gioan Kim Khẩu cũng ghi nhận rằng linh mục kêu cầu Chúa Thánh Thần khi
cử hành hi tế: (26) như Êlia, thừa tác viên xin Chúa Thánh Thần xuống để
“như hồng ân xuống trên tế vật và mọi tâm hồn nhờ đó được bừng cháy”(27).
Đời sống thiêng liêng của các tín hữu có thể hưởng nhờ ơn ích lớn lao từ ư
thức sâu xa hơn về sự phong phú của kinh nguyện thánh thể; kèm theo những
lời Chúa Kitô thổ lộ trong bữa Tiệc Li, c̣n có lời cầu xin Chúa Thánh Thần,
kinh nài xin Chúa Cha ban xuống ơn Thánh Thần để bánh và rượu sẽ trở nên
ḿnh và máu Chúa Giêsu Kitô, và để “toàn thể cộng đoàn trở nên thân ḿnh
Chúa Kitô hơn” (28). Thánh Thần mà chủ tế cầu xin ngự xuống trên lễ vật là
bánh rượu trên bàn thờ cũng chính là Thánh Thần quy tụ các tín hữu “thành
một thân thể” và biến đổi họ thành của lễ thiêng liêng đẹp ḷng Chúa Cha
(29).
Bí Tích Thánh Thể và Giáo Hội
Bí tích Thánh Thể, nguyên lí tác thành Giáo
Hội
14. Qua Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu lôi kéo
mọi tín hữu đi vào “giờ” của Người; Người tỏ bày cho chúng ta mối liên hệ mà
Người muốn thiết lập giữa Người và chúng ta, giữa bản thân Người và Giáo
Hội. Thật vậy, trong hi tế Thập Giá Chúa Kitô sinh ra Giáo Hội như là Hiền
Thê của Người và như chính ḿnh Người. Các Giáo phụ thường suy niệm về mối
tương quan giữa nguồn gốc từ Evà, xuất phát từ xương sườn của Ađam đang ngủ
(x. St 2, 21- 23) với nguồn gốc từ Evà mới, là Giáo Hội, xuất phát từ cạnh
sườn Chúa Kitô, bị vùi trong giấc ngủ của sự chết: Gioan thuật lại, từ cạnh
sườn Chúa Kitô bị đâm thâu, nước và máu chảy ra (x. Ga 19, 34), biểu trưng
của các bí tích (30). Một cái nh́n chiêm niệm “Đấng họ đă đâm thâu” (Ga 19,
37) sẽ dẫn chúng ta suy tư về mối liên hệ tác thành giữa hi tế của Chúa
Kitô, Bí tích Thánh Thể và Giáo Hội. Giáo Hội “kín múc sự sống từ Thánh Thể”
(31). Bởi v́ Bí Tích Thánh Thể làm cho hi tế cứu độ của Chúa Kitô tái hiện,
chúng ta phải khởi đi từ nhận thức rằng “có một ảnh hưởng tác thành của Bí
tích Thánh Thể ở ngay chính cội nguồn của Giáo Hội” (32). Thánh Thể là chính
Chúa Kitô, Đấng tự hiến cho chúng ta và là Đấng tiếp tục xây dựng chúng ta
như thân thể của Người. Do đó, trong mối liên hệ hỗ tương giữa Thánh Thể xây
dựng Giáo Hội, và chính Giáo Hội “làm nên” Thánh Thể (33), nguyên nhân tính
đệ nhất được diễn tả trong công thức trước tiên này: Giáo Hội chỉ có thể cử
hành và tôn thờ mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể chính bởi
trước hết Chúa Kitô đă tự hiến cho Giáo Hội làm lễ hi sinh trên Thánh Giá.
Khả năng của Giáo Hội “làm nên” Thánh Thể hoàn toàn bắt nguồn từ hành vi tự
hiến của Chúa Kitô cho Giáo Hội. Ở đây chúng ta có thể hiểu ư nghĩa những
lời của Thánh Gioan rơ ràng hơn: “Người yêu chúng ta trước”(1 Ga 4, 19). Do
đó, mỗi khi cử hành Thánh Thể, chúng ta hăy tuyên xưng vai tṛ ưu tiên của
ân huệ của Chúa Kitô. Ảnh hưởng tác thành của Thánh Thể đối với nguồn gốc
của Giáo Hội biểu tỏ một cách dứt khoát tính ưu tiên cả về trật tự thời gian
lẫn về mặt hữu thể học của sự kiện chính Chúa Kitô đă yêu chúng ta “trước.”
Từ đời đời, Người vẫn là Đấng yêu chúng ta trước.
Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông Giáo Hội
15. Như vậy, Thánh Thể làm nên căn tính và
hoạt động của Giáo Hội. Đó là lí do tại sao các Kitô hữu ngày xưa đă dùng
cùng một cụm từ, Corpus Christi, để chỉ thân xác Chúa Kitô được sinh ra bởi
Đức Nữ Đồng Trinh Maria, Thánh Thể, và thân ḿnh Giáo Hội Người. (34) Dữ
kiện hiển nhiên về truyền thống đó giúp chúng ta hiểu rơ đặc tính bất khả
phân li giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Chúa Giêsu khi tự hiến làm lễ hi sinh
cho chúng ta, th́ trong sự trao ban đó, đă thật sự hướng về mầu nhiệm Giáo
Hội. Thật là ư nghĩa trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, khi cầu nguyện Chúa
Thánh Thần, lời kinh sử dụng công thức để cầu cho sự hiệp nhất trong Giáo
Hội: “xin cho tất cả chúng con khi thông phần ḿnh và máu Chúa Kitô được quy
tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.” Những lời này giúp chúng ta thấy rơ hơn res
(công việc) của Bí tích Thánh Thể là sự hiệp nhất các tín hữu trong sự hiệp
thông Giáo Hội. Như vậy, từ cội nguồn của Giáo Hội, Thánh Thể được coi như
mầu nhiệm của sự hiệp thông (35).
Tương quan giữa Thánh Thể và sự hiệp thông
đă được tôi tớ Chúa là Đức Gioan Phaolô II chỉ ra trong Thông điệp của ngài,
Ecclesia de Eucharistia. Ngài tŕnh bày về việc tưởng niệm Chúa Kitô như là
“sự thể hiện mang tính bí tích cao cả nhất về mối hiệp thông trong Giáo
Hội”(36). Sự duy nhất trong mầu nhiệm hiệp thông giáo hội được thể hiện một
cách cụ thể trong các cộng đồng Kitô giáo, và được canh tân khi cử hành
Thánh Thể, hiệp nhất họ lại đồng thời phân xuất họ thành những Giáo Hội địa
phương, “in quibus et ex quibus una et unica Ecclesia catholica exsistit”
(trong đó và từ đó xuất hiện một Giáo Hội công giáo duy nhất)(37). Sự kiện
chỉ có một Bí tích Thánh Thể được cử hành tại mỗi Giáo phận quy tụ quanh
Đức Giám mục giúp chúng ta hiểu rơ mỗi Giáo Hội địa phương tồn tại trong và
từ Giáo Hội Mẹ thế nào. Thật vậy, “tính duy nhất và bất khả phân của Thánh
Thể Chúa hàm chứa tính duy nhất trong nhiệm thể Người, là Giáo Hội duy nhất
và bất khả phân. Từ tâm điểm Thánh Thể, sự mở rộng cần thiết được thực hiện
cho mỗi cộng đoàn cử hành, cho từng Giáo Hội địa phương. Khi tự cho ḿnh
được lôi cuốn vào ṿng tay rộng mở của Chúa, chúng ta được tháp nhập vào
Thân Ḿnh Người, duy nhất và bất khả phân.” (38) Do đó, khi cử hành Bí tích
Thánh Thể, mỗi cá nhân người tín hữu nhận thấy họ thuộc về Giáo hội của họ,
nghĩa là, thuộc về Giáo Hội của Chúa Kitô. Từ hướng nh́n về Thánh Thể như
thế, và nếu được t́m hiểu thích đáng th́ sự hiệp thông giáo hội được coi như
bản chất đối với người công giáo (39). Một sự nhấn mạnh vào nền tảng thánh
thể của mối hiệp thông giáo hội cũng có thể đóng góp rất nhiều cho sự đối
thoại đại kết đối với các Giáo Hội và những Cộng Đồng Giáo Hội địa phương
chưa hiệp thông trọn vẹn với Toà Phêrô. Thật vậy, một cách khách quan, Bí
tích Thánh Thể kiến tạo một mối liên kết mạnh mẽ về sự hiệp nhất giữa Giáo
Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống, cả hai vẫn duy tŕ bản chất đích
thực và toàn vẹn về mầu nhiệm Thánh Thể. Đồng thời, nhấn mạnh vào đặc tính
giáo hội của Bí tích Thánh Thể có thể trở nên yếu tố quan trọng cho cuộc đối
thoại với những Cộng Đồng theo truyền thống Cải Cách (40).
Bí tích Thánh Thể và các Bí tích khác
Tính Bí tích của Giáo Hội
16. Công Đồng Vatican II đă nhắc nhở rằng
“mọi bí tích, cũng như các thừa tác vụ trong Giáo Hội và các hoạt động tông
đồ đều gắn liền với Bí Tích Thánh Thể và quy hướng về đó. Thật vậy, Phép
Thánh Thể chí thánh chứa đựng tất cả kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đó
chính là Chúa Kitô; Người là mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta; Người là Bánh
Hằng Sống, ban sự sống cho nhân loại bằng chính thịt của Người, thịt đă được
sống động nhờ Chúa Thánh Thần và làm cho người ta được sống. Như thế, người
mời gọi và dẫn đưa con người hiến dâng chính ḿnh, dâng những vất vả của
ḿnh, và mọi tạo vật làm một với Người.” (41) Tương quan chặt chẽ giữa Bí
tích Thánh Thể với các bí tích khác cũng như đời sống Kitô hữu có thể được
hiểu đầy đủ nhất khi chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm của chính Giáo Hội như
một bí tích. (42) Về vấn đề này Công Đồng xác quyết rằng “Giáo Hội, trong
Chúa Kitô, chính là một bí tích – một dấu chỉ và khí cụ- của sự hiệp thông
với Thiên Chúa cũng như của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.”(43) Như lời
thánh Cyprianô nói, cũng như “một dân được quy tụ thành một do bởi sự hiệp
nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,” (44) Giáo Hội cũng là bí
tích của sự thông hiệp ba ngôi như vậy.
Sự kiện Giáo Hội là “Bí tích cứu độ
phổ quát”(45) tỏ rơ phương thế nhiệm cục bí tích sau cùng xác định cách thức
mà Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất, qua Chúa Thánh Thần dùng để đi vào
cuộc sống của chúng ta trong những hoàn cảnh cụ thể. Giáo Hội đón nhận và
đồng thời thể hiện ḿnh trong bảy bí tích mà qua đó ơn Chúa tác động một
cách cụ thể trên đời sống các tín hữu, để toàn bộ cuộc sống của họ, được
Chúa Kitô cứu chuộc trở nên sự thờ phượng dâng lên Thiên Chúa. Theo cái nh́n
đó, tại đây tôi muốn hướng sự chú ư vào một số yếu tố đă được các Nghị Phụ
trong Thượng Hội Đồng Giám mục đưa ra, hầu giúp cho chúng ta hiểu rơ mối
tương quan của mỗi bí tích đối với mầu nhiệm Thánh Thể.
I. Bí Tích Thánh Thể và Sự Khai tâm Kitô
giáo
Bí tích Thánh Thể, sự hoàn bị của việc khai
tâm Kitô giáo
17. Nếu Bí tích Thánh Thể thật sự là nguồn
mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội th́ đương nhiên tiến
tŕnh khai tâm Kitô giáo phải thường xuyên hướng về việc đón nhận bí tích
này. Như các Nghị Phụ đă tŕnh bày, chúng ta cần phải tự hỏi là trong các
cộng đồng Kitô giáo của chúng ta mối liên kết chặt chẽ giữa Bí tích Thánh
Tẩy, Bí tích Thêm sức, và Bí tích Thánh Thể đă được nhận thức đầy đủ chưa.
(46) Chúng ta đừng quên rằng được rửa tội và được thêm sức là để đón nhận
Thánh Thể. Do đó, việc thực hành mục vụ của chúng ta phải phản ánh một sự
nắm vững hơn đăc tính thống nhất của tiến tŕnh khai tâm Kitô giáo. Bí tích
Thánh Tẩy, mà qua đó chúng ta được kết hợp với Chúa Kitô, (47) được gia nhập
Giáo Hội và được làm con Chúa, là cửa mở đi vào các bí tích. Bí tích Thánh
Tẩy làm cho chúng ta nên chi thể trong Thân Ḿnh Chúa Kitô (x. 1 Cr 12, 13),
một dân tư tế. Tuy nhiên, chính việc tham dự vào hiến tế Thánh Thể mới kiện
toàn trong chúng ta những hồng ân của Bí tích Thánh Tẩy mà chúng ta đă lănh
nhận. Ân huệ của Chúa Thánh Thần được ban để kiến tạo Thân Ḿnh Chúa Kitô (1
Cr 12) và để làm chứng nhiệt thành hơn cho việc rao giảng Tin Mừng trong thế
giới. (48) Như vậy, Bí tích Thánh Thể đưa việc khai tâm Kitô giáo đi đến
hoàn chỉnh và chiếm vị trí trung tâm cũng như mục tiêu cho tất cả đời sống
bí tích. (49)
Tŕnh tự các bí tích khai tâm
18. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta cần
quan tâm đến tŕnh tự các bí tích khai tâm. Hiện có nhiều truyền thống khác
nhau trong Giáo Hội. Có sự khác biệt rơ rệt, một mặt, giữa truyền thống Giáo
Hội Đông Phương (50) và việc thực hành bên Phương Tây liên quan đến việc
khai tâm cho người lớn, (51) và mặt khác, những nghi thức áp dụng cho trẻ
em. (52) Tuy nhiên, những khác biệt này hoàn toàn không thuộc về tín lí, mà
chỉ thuộc lănh vực mục vụ. Một cách cụ thể là cần phải xem xét những cách
thực hành nào giúp người tín hữu một cách hiệu dụng hơn trong việc đăt Bí
tích Thánh Thể vào tâm điểm, như mục tiêu của toàn bộ tiến tŕnh khai tâm.
Trong khi cộng tác một cách chặt chẽ với những văn pḥng hữu trách của Giáo
triều Rôma, Những Hội Đồng Giám Mục cần phải nghiên cứu tính hiệu dụng của
những phương thức hiện tại đối với việc khai tâm Kitô giáo, để các Kitô hữu
có thể được trợ giúp, vừa để trưởng thành qua việc huấn giáo nhận được trong
các cộng đồng của chúng ta, lại vừa giúp cho đời sống họ hướng về Thánh Thể
một cách đích thực, để họ có thể làm chứng cho niềm hi vọng của họ một cách
phù hợp với thời đại chúng ta (x. 1 Pr 3, 15).
Việc khai tâm, cộng đồng giáo hội và gia
đ́nh
19. Cần phải ghi nhớ rằng toàn bộ việc khai
tâm Kitô giáo là một tiến tŕnh hoán cải được thực hiện với sự trợ giúp của
ơn Chúa, và sự liên đới thường trực với cộng đồng giáo hội, vừa trong trường
hợp những người lớn t́m cách xin gia nhập Giáo Hội như thường xảy ra trong
những nơi mới được rao giảng Tin Mừng cũng như những miền đă bị tục hoá, và
vừa trong hoàn cảnh các cha mẹ xin cho con cái được lănh các bí tích. Về vấn
đề này, tôi muốn mời gọi mọi người quan tâm đến tương quan giữa việc khai
tâm Kitô giáo và gia đ́nh. Trong công tác mục vụ, việc đặt gia đ́nh tham gia
vào tiến tŕnh khai tâm luôn là một điều quan trọng. Lănh nhận Bí tích Thánh
Tẩy, Bí tích Thêm sức và Rước Lễ Lần đầu là những thời điểm trọng đại, không
chỉ đối với cá nhân người lănh nhận, nhưng c̣n cho cả gia đ́nh, vốn luôn cần
được giúp đỡ trong vai tṛ giáo dục bằng những nhân tố khác nhau trong cộng
đồng giáo hội. (53) Ở đây tôi cũng muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
Rước Lễ Lần Đầu. Đối với nhiều tín hữu, ngày này vẫn là ngày đáng nhớ, dẫu
chỉ có tính cách khơi mào, th́ đó vẫn là ngày đầu tiên họ cảm nhận tầm quan
trọng được gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu. Những chương tŕnh mục vụ giáo xứ
cần hết sức đề cao ngày giờ ư nghĩa đó.
II. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải
Mối liên hệ sâu xa
20. Các Nghị phụ đă xác quyết một cách đúng
đắn rằng ḷng sùng kính đối với Bí tích Thánh Thể sẽ dẫn đến việc gia tăng
sự quư trọng đối với Bí tích Hoà giải. (54) Do bởi mối tương quan giữa hai
bí tích này, một nội dung giáo lí đích thực về ư nghĩa của Thánh Thể phải
bao hàm lời kêu gọi đi vào con đường thống hối (x. 1 Cr 11, 27- 29). Chúng
ta biết rằng các tín hữu đang bị nhấn ch́m trong một nền văn hoá có khuynh
hướng loại bỏ cảm thức tội lỗi (55) và đề cao một thái độ hời hợt nhằm bỏ
qua việc thiết yếu là phải sống trong t́nh trạng ân sủng để có thể đi đến
việc hiệp thông bí tích một cách xứng đáng. (56) Mất ư thức về tội luôn kéo
theo một thái độ nông cạn nào đó trong việc cảm nhận t́nh yêu Chúa. Tŕnh
bày những yếu tố trong nghi thức Thánh Lễ giúp thống hối tội lỗi, đồng thời
bày tỏ ḷng nhân từ của Thiên Chúa có thể giúp ích rất nhiều cho các tín
hữu. (57) Ngoài ra, tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải
nhắc nhở chúng ta rằng tội không bao giờ chỉ là vấn đề thuần tuư cá nhân; nó
luôn gây tổn hại cho sự hiệp thông giáo hội mà chúng ta được kết liên qua Bí
tích Thánh Tẩy. V́ lẽ đó, các Giáo Phụ đă nói rằng Bí tích Hoà Giải phải qua
Bí tích Thánh Tẩy dụng công gắng sức (laboriosus quidam baptismus) (58) và
như vậy các ngài có ư nhấn mạnh rằng kết quả của công việc hoán cải cũng là
giúp khôi phục trọn vẹn mối hiệp thông giáo hội, được biểu lộ trong việc đến
với Bí tích Thánh Thể. (59)
Một số quan tâm mục vụ
21. Thượng Hội Nghị đă nhắc nhở các Giám mục
về trách nhiệm mục vụ là phải phát huy trong giáo phận của các ngài một nội
dung sư phạm giáo lí hướng vào việc hoán cải, phát sinh từ đ̣i hỏi của Bí
tích Thánh Thể, đồng thời cổ động việc năng xưng tội nơi các tín hữu. Mọi
linh mục cần phải quảng đại hi sinh, dấn thân và dành mọi khả năng cho việc
cử hành bí tích Hoà Giải. (60) Liên quan đến vấn đề này th́ điều quan trọng
là chính các cha giải tội trong các nhà thờ phải thể hiện tính cách hệ trọng
của bí tích này. Tôi cũng mời gọi các mục tử phải cẩn trọng trong việc cử
hành Bí tích Hoà Giải, và chỉ giới hạn việc xá giải chung cho những trường
hợp đă được phép, (61) bởi v́ việc xá giải riêng là h́nh thức duy nhất vẫn
thường dùng. (62) Trước nhu cầu tái khám phá ơn tha thứ, cần đặt một Pḥng
Hoà Giải tại mỗi Giáo phận. (63) Sau cùng, việc xin ân xá nếu thực hành một
cách quân b́nh và đúng đắn, cho chính ḿnh cũng như cho người chết, có thể
giúp ích cho một ư thức mới về tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích
Hoà Giải. Nhờ phương thế này, người tín hữu nhận được “ơn tha thứ trước mặt
Chúa, thoát khỏi h́nh phạt tạm do tội, v́ tội đă được tha.” (64) Việc sử
dụng ân xá giúp chúng ta ư thức rằng cậy vào nỗ lực riêng, chúng ta không
thể bù đắp sự sai phạm đă gây ra, và tội của mỗi cá nhân đều gây thiệt hại
cả cộng đoàn. Hơn nữa, việc thực hành ân xá không chỉ liên quan đến tín điều
về công trạng vô biên của Chúa Kitô, mà c̣n về tín điều các thánh thông
công, nhắc nhở chúng ta rằng “chúng ta hiệp nhất khắng khít với nhau chặt
chẽ như thế nào trong Chúa Kitô...cũng như đời sống thiêng liêng của mỗi
người có thể giúp người khác ra sao.”(65) V́ những điều kiện để đón nhận ân
xá đ̣i phải xưng tội và rước lễ, th́ việc thực hành này có thể tích cực giúp
các tín hữu trên hành tŕnh hoán cải và tái khám phá đặc tính trung tâm của
Bí tích Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu.
III. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Xức Dầu
bệnh nhân
22. Chúa Giêsu không chỉ sai các môn để ra
đi chữa lành bệnh nhân (x. Mt 10, 8; Lc 9, 2, 10, 9); Người c̣n thiết lập
một bí tích đặc biệt: Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. (66) Thư Thánh Giacôbê xác
nhận sự có mặt của bí tích này trong Cộng Đồng Kitô hữu tiên khởi (x. 5, 14-
16). Nếu Bí tích Thánh Thể tŕnh bày những đau khổ và cái chết của Chúa Kitô
biến thành t́nh yêu như thế nào th́ Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, một cách
riêng, lại nối kết những bệnh nhân với sự hi sinh ban ơn cứu độ cho mọi
người của Chúa Kitô, để cả họ nữa trong mầu nhiệm các thánh thông công, họ
có thể dự phần vào việc cứu chuộc thế giới. Mối tương quan giữa hai bí tích
này trở nên hiển nhiên trong những hoàn cảnh lâm trọng bệnh: “Ngoài việc Xức
Dầu Thánh, Giáo Hội c̣n ban cho người sắp ĺa trần Thánh Thể như của ăn
đàng.” (67) Trên đường về nhà Cha, rước Ḿnh và Máu Chúa Kitô nên như hạt
giống của sự sống đời đời và như sức mạnh của sự phục sinh: “Ai ăn thịt tôi
và uống máu tôi th́ có sự sống đời đời và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày
sau hết” (Ga 6, 5). Bởi v́ của ăn đàng giúp cho bệnh nhân nh́n thấy trước
toàn bộ Mầu Nhiệm Vượt Qua, nên việc cử hành phải được luôn sẵn sàng đáp
ứng. (68) Việc quan tâm săn sóc mục vụ dành cho những người đau bệnh mang
lại lợi ích thiêng liêng cho toàn thể cộng đoàn, bởi v́ bất cứ điều ǵ chúng
ta làm cho một trong những người anh chị em bé nhỏ nhất là chúng ta làm cho
chính Chúa Giêsu (x. Mt 25, 40)
IV. Bí tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức
Thánh
In persona Christi capitis (nhân danh Chúa
Kitô là đầu)
23. Tương quan nội tại giữa Bí tích Thánh
Thể và Bí tích Truyền Chức xuất phát từ chính lời Chúa Giêsu tại Pḥng Trên:
“Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19). Vào đêm trước khi chịu chết,
Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và đồng thời thiết lập chức tư tế của
Giao Ước Mới. Người là linh mục, là của lễ và bàn thờ: trung gian giữa Thiên
Chúa Cha và dân Người (x. Dt 5, 5- 10), lễ vật đền tội (x. 1 Ga 2, 2 ; 4,
10) Đấng tự hiến trên bàn thờ Thập Giá. Không ai có thể nói “Này là ḿnh
thầy” và “này là máu thầy” mà không nhân danh và thay cho Chúa Kitô, tư tế
tối cao của Giao Ước mới và vĩnh cửu (x. Dt 8- 9). Những cuộc họp trước đây
của Thượng Hội Đồng Giám Mục đă bàn đến vấn đề chức linh mục thừa tác, vừa
liên quan đến bản chất của sứ vụ (69) vừa trong lănh vực đào tạo ứng sinh.
(70) Ở đây, trong ánh sáng của cuộc thảo luận đă diễn ra trong thời gian họp
Thượng Hội Đồng, tôi thấy cần phải nhắc lại nhiều điểm quan trọng về tương
quan giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức. Trước hết, chúng ta cần
phải một lần nữa nhấn mạnh rằng liên hệ giữa Bí tích Truyền Chức và Bí tích
Thánh Thể được nhận thấy rơ rệt nhất trong Thánh Lễ, khi Giám mục hay linh
mục chủ tế nhân danh Chúa Kitô là đầu.
Giáo Hội dạy rằng việc thụ phong linh mục là
yếu tố thiết yếu cho việc cử hành Bí tích Thánh Thể thành sự. (71) Thật vậy,
“để phục vụ Giáo Hội trong thừa tác viên thánh chức, chính Chúa Kitô hiện
diện trong Giáo Hội của Người như là Đầu Thân Thể, là Mục Tử đoàn chiên, là
Tư Tế Tối Cao của hi tế cứu chuộc.” (72) Chắc chắn vị tư tế thừa tác cũng
hành động “nhân danh toàn thể Giáo Hội khi dâng lên Thiên Chúa lời cầu
nguyện của Giáo Hội, và trên hết là khi dâng hi tế Thánh Thể.” (73) Do vậy,
các linh mục phải ư thức việc này là trong khi thi hành chức vụ họ không
được đăt chính họ hay những ư kiến cá nhân họ lên trên, mà đăt chính Chúa
Giêsu Kitô. Bất cứ ư đồ nào muốn làm cho ḿnh trở thành trung tâm của cử
hành phụng vụ đều mâu thuẫn với chính căn tính linh mục của họ. Linh mục
trước hết là đầy tớ của mọi người, và phải luôn hành động để là một dấu chỉ
quy hướng về Chúa Kitô, một khí cụ ngoan ngoăn trong bàn tay của Chúa. Điều
này được nhận thấy rơ nhất trong việc ngài khiêm tốn hướng dẫn cộng đoàn
phụng vụ, trong sự tuân thủ nghi thức, đặt hết tâm trí vào đó, đồng thời
tránh tất cả những ǵ tạo ra cảm tưởng ngài nhấn mạnh thái quá đến con người
của ḿnh. Tôi khích lệ các giáo sĩ là hăy luôn coi việc cử hành Thánh Thể
như là một việc phục vụ khiêm hạ dâng lên Chúa Kitô và Giáo Hội Người. Chức
linh mục, như thánh Augustinô nói, là amoris officium (công việc của ḷng
yêu mến), (74) đó là công việc của vị tư tế tốt, người hi sinh mạng sống cho
đàn chiên (x. 10, 14-15).
Bí tích Thánh Thể và sự độc thân linh mục
24. Các Nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục
muốn nhấn mạnh rằng chức linh mục thừa tác, qua việc truyền chức đ̣i phải
trở nên đồng h́nh đồng dạng trọn vẹn với Chúa Kitô. Trong khi tôn trọng
truyền thống và cách thực hành của các Giáo Hội Đông Phương, th́ cần phải
tái khẳng định ư nghĩa sâu xa của việc độc thân linh mục, vẫn được nh́n nhận
một cách đúng đắn như một kho tàng vô giá. Sự lựa chọn độc thân về phía linh
mục, diễn tả một cách thế đặc biệt sự hiến dâng để nên giống Chúa Kitô, cũng
như việc hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa. (75) Sự kiện chính Chúa
Kitô, vị linh mục vĩnh cửu, sống sứ mệnh của Người đến độ hi sinh trên Thập
Giá trong t́nh trạng khiết tịnh, làm nên một điểm quy chiếu vững chắc để
hiểu rơ ư nghĩa của truyền thống Giáo Hội La tinh. Chỉ hiểu độc thân linh
mục theo chức năng của những hạn từ là không đủ. Độc thân thật sự là một
phương thế đặc biệt để khuôn hợp chính ḿnh với chính đường lối của Chúa
Kitô. Sự lựa chọn này trước hết và trên hết mang ư nghĩa hôn ước; đó là nên
đồng dạng với con tim của Chúa Kitô, là Tân Lang hi sinh sự sống ḿnh cho
Tân Nương. Kế tục truyền thống cao qúy của Giáo Hội, cùng với Công Đồng
Vatican II (76) và với những vị tiền nhiệm của tôi trong các triều giáo
hoàng, (77) tôi tái khẳng định vẻ cao đẹp cũng như sự quan trọng của cuộc
sống linh mục trong bậc độc thân như một dấu chỉ diễn tả sự toàn hiến cho
Chúa Kitô, cho Giáo Hội và cho Nước Thiên Chúa, và do đó, tôi tái khẳng định
vẫn duy tŕ độc thân linh mục trong truyền thống La tinh. Sống đời độc thân
linh mục trong sự trưởng thành, hân hoan và hi sinh là một phúc ân trọng đại
cho Giáo Hội và cho cả xă hội nữa.
Sự thiếu linh mục và mục vụ ơn gọi
25. Trong ánh sáng của tương quan giữa Bí
tích Truyền Chức Thánh và Bí tích Thánh Thể, Thượng Hội Đồng Giám Mục đă
nh́n nhận những khó khăn phát sinh trong nhiều Giáo Phận khác nhau: phải đối
phó với việc thiếu linh mục. Điều này không chỉ xảy ra trong những miền mới
được rao giảng Tin Mừng, nhưng cũng c̣n trong những quốc gia có truyền thống
Kitô giáo lâu đời. Chắc chắn nếu có một cuộc phân bổ giáo sĩ một cách hài
hoà th́ sẽ giúp giải quyết vấn đề. Cần phải có những nỗ lực giúp cổ vũ ư
thức thực hiện vấn đề này trong mọi cấp độ. Các Giám mục nên liên hệ với các
Ḍng Tu và những nhóm giáo hội phục vụ trong những nhu cầu mục vụ đa dạng,
tuy vẫn tôn trọng những đặc sủng của các ḍng tu này, mời gọi các giáo sĩ mở
rộng hơn việc phục vụ Giáo Hội bất cứ đâu cần đến, cho dẫu phải hi sinh.
(78) Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng đề cập đến những sáng kiến mục vụ nhằm
phát huy, đặc biệt trong giới trẻ, một thái độ mở rộng tâm hồn cho ơn gọi
làm linh mục. T́nh h́nh không thể giải quyết bằng những quyết định có tính
cách thuần tuư thực tiễn. Các Giám mục không được bằng bất cứ giá nào, ứng
phó trước những day dứt thực tế và quá rơ về t́nh trạng thiếu linh mục, mà
không thực hiện việc phân định ơn gọi một cách thích ứng, hoặc chấp nhận một
sự giáo dục tại chủng viện cũng như phong chức các ứng sinh thiếu những phẩm
chất thiết yếu cho sứ vụ linh mục (79). Một giáo sĩ được huấn luyện không
đầy đủ, được chấp thuận thụ phong mà không có sự biện phân cần thiết, th́ sẽ
khó tŕnh bày một chứng tá khả dĩ khơi lên nơi người khác ước muốn quảng đại
đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô. Mục vụ ơn gọi cần lôi kéo toàn thể cộng
đồng Kitô giáo trong mọi lănh vực đời sống của nó. (80) Hẳn nhiên, công việc
mục vụ này trên mọi b́nh diện cũng phải bao gồm cả việc khám phá những vấn
đề trong gia đ́nh, như sự dửng dưng cũng như cả sự chống lại ư tưởng ơn gọi
làm linh mục. Các gia đ́nh phải quảng đại đón nhận hồng ân sự sống và giáo
dục con cái biết mở rộng tâm hồn thực hiện ư Chúa. Nói tóm lại, các gia đ́nh
phải có can đảm đặt trước người trẻ sự chọn lựa dứt khoát bước theo Chúa
Kitô, và cho họ thấy điều đó chuốn hút chừng nào.
Sự biết ơn và niềm hi vọng
26. Sau cùng, chúng ta cần phải có đức tin
và đức cậy vững vàng hơn vào Thiên Chúa quan pḥng. Dù có thiếu linh mục tại
một số nơi, chúng ta không bao giờ để mất niềm tin tưởng rằng Chúa Kitô tiếp
tục kêu gọi những người bỏ mọi sự lại đằng sau trọn vẹn, dâng hiến đời ḿnh
để cử hành các mầu nhiệm thánh, rao giảng Tin Mừng và chăm sóc đàn chiên. Về
điểm này, tôi muốn bày tỏ ḷng biết ơn đối với toàn thể Giáo Hội v́ các Giám
mục và linh mục thi hành sứ vụ của ḿnh với ḷng trung thành, tận tuỵ, và
nhiệt thành. Đương nhiên Giáo Hội cũng biết ơn đối với các phó tế, những
người nhận sự đặt tay “không phải v́ chức linh mục mà để phục vụ.” (81) Như
Thượng Hội Đồng Giám mục khuyến nghị, tôi bày tỏ lời cảm ơn đặc biệt đối với
Hồng Ân Đức Tin (Fidei Donum) là các linh mục đang làm việc một cách trung
thành và quảng đại để xây dựng cộng đồng bằng việc loan báo lời Thiên Chúa
và bẻ Bánh Sự Sống, hiến trọn năng lực của ḿnh để phục vụ sứ mệnh của Giáo
Hội. (82) Chúng ta hăy cảm tạ Chúa v́ các linh mục đó đă chịu đau khổ, dẫu
phải hi sinh sự sống ḿnh để phục vụ Chúa Kitô. Tấm gương của các ngài làm
chứng một cách hùng hồn sống đời linh mục trọn vẹn nghĩa là ǵ. Những mẫu
gương ấy là những chứng tá cảm động có thể thôi thúc nhiều bạn trẻ bước theo
Chúa Kitô, trải rộng đời ḿnh cho tha nhân, và như vậy họ khám phá ra sự
sống đích thực.
V. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hôn Phối
Thánh Thể, một bí tích hôn ước
27. Thánh Thể, Bí tích của đức ái, có một
tương quan đặc biệt với t́nh yêu của người nam và người nữ kết hợp trong bí
tích hôn phối. Đào sâu mối tương quan này là cần thiết trong thời đại hiện
nay. (83) Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường nói về tính cách hôn ước của
Bí tích Thánh Thể và tương quan đặc biệt của Bí tích này với Bí tích Hôn
Phối: “Thánh Thể là bí tích của ơn cứu chuộc chúng ta. Đó là Bí tích của Tân
Lang và Tân Nương.” (84) Hơn nữa, “ toàn thể đời sống Kitô hữu mang dấu ấn
t́nh yêu phu phụ của Chúa Kitô và Giáo Hội. Ngay trong Bí tích Thánh Tẩy,
cửa ngơ đi vào Dân Thiên Chúa, là một mầu nhiệm hôn ước; có thể nói đó là
một sự tắm rửa có tính hôn lễ diễn ra trước lễ hôn phối, là Bí tích Thánh
Thể.” (85) Bí tích Thánh Thể tăng cường một cách vô giới hạn sự kết hợp bất
khả phân li và t́nh yêu của mỗi cuộc hôn nhân Kitô giáo. Nhờ hiệu lực của Bí
tích này, dây hôn phối liên kết một cách sâu nhiệm với sự kết hợp mang đặc
tính Thánh Thể của Chúa Kitô là Tân Lang với Tân Nương của Người là Giáo Hội
(x. Ep 5, 31- 32). Sự ưng thuận mà vợ chồng tỏ bày trong Chúa Kitô, kiến tạo
họ thành một cộng đồng t́nh yêu và sự sống, cũng có một chiều kích thánh
thể. Thật vậy, trong thần học Thánh Phaolô, t́nh yêu vợ chồng là một dấu chỉ
bí tích của t́nh yêu Chúa Kitô đối với Giáo Hội của Người, một t́nh yêu đạt
đỉnh cao trên Thánh Giá, một sự diễn tả cuộc “hôn phối” của Người với nhân
loại và đồng thời nói lên nguồn mạch và tâm điểm của Bí tích Thánh Thể. V́
lí do đó, Giáo Hội bày tỏ sự gần gũi thiêng liêng đặc biệt với tất cả những
ai đă xây dựng gia đ́nh trên nền tảng Bí tích Hôn phối. (86) Gia đ́nh- Giáo
Hội tại gia (87) là một môi trường ưu tiên của đời sống Giáo Hội, nhất là v́
vai tṛ quyết định của nó trong việc giáo dục Kitô đối với trẻ em. (88)
Trong bối cảnh này, Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng kêu gọi mọ người cần nhận
thức sứ mệnh duy nhất của người nữ trong gia đ́nh và trong xă hội, một sứ
mệnh cần phải bảo vệ, phải che chở và đề cao. (89) Hôn nhân và chức làm mẹ
biểu thị những thực tại nền tảng không bao giờ được hạ thấp.
Bí tích Thánh Thể và tính duy nhất của hôn
nhân
28. Trong ánh sáng của mối tương quan nội
tại giữa hôn nhân, gia đ́nh và Bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể chú trọng
tới một số vấn đề mục vụ. Sợi dây trung thành, độc nhất và bất khả phân nối
kết Chúa Kitô và Giáo Hội t́m thấy sự diễn tả mang tính bí tích trong mầu
nhiệm Thánh Thể, liên quan đến dữ kiện nhân loại học nền tảng, qua đó một
người nam kết hợp một cách tự nhiên với một người nữ và ngược lại (x. St 2,
24, Mt 19, 5). Trên nền tảng suy tư đó, các Giám Mục trong Thượng Hội Đồng
đă nhắc đến vấn đề thực hành mục vụ liên quan đến những người được nghe
giảng Tin Mừng từ những nền văn hoá c̣n thực hành chế độ đa thê. Những người
sống trong hoàn cảnh đó mở rộng tâm hồn đón nhận đức tin Kitô giáo, cần được
giúp đỡ để hội nhập quy tŕnh- đời sống của họ với tính mới mẻ triệt để của
Chúa Kitô. Trong thời gian dự ṭng, Chúa Kitô gặp gỡ họ trong chính hoàn
cảnh đặc thù của họ và mời gọi họ đón nhận trọn vẹn sự thật về t́nh yêu,
thực hiện bất cứ hi sinh nào cần thiết để đạt đến sự hiệp thông giáo hội
trọn vẹn. Giáo Hội đồng hành với họ trong sự quan tâm mục vụ, thật nhẹ nhàng
nhưng cương quyết, (90) mà trên hết, tỏ cho họ thấy ánh sáng chiếu toả trên
tự nhiên và t́nh yêu con người qua các mầu nhiệm Kitô giáo.
Bí tích Thánh Thể và tính bất khả phân li
của hôn nhân
29. Nếu Bí tích Thánh Thể diễn tả đặc tính
bất khả phế bỏ t́nh yêu của Chúa Kitô đối với Giáo Hội của Người th́ chíng
ta hiểu được tại sao t́nh yêu ấy, liên quan đến Bí tích Hôn Phối, hàm chứa
đặc tính bất khả phân li gắn liền với mọi t́nh yêu chân chính. (91) Có một
lí do trong việc quan tâm mục vụ mà Thượng Hội Đồng Giám Mục dành cho những
hoàn cảnh đau khổ qua đó một số tín hữu phải cam chịu khi họ đă cử hành Bí
tích Hôn Phối, nhưng lại li dị và tái hôn. Điều này tỏ rơ một vấn đề mục vụ
phiền toái và phức tạp, cũng thực là một sự giáng phạt cho xă hội đương đại,
và là một vấn đề càng ngày càng ảnh hưởng tới cả cộng đồng Công Giáo. Những
mục tử của Giáo Hội, ngoài ḷng mộ mến sự thật, bó buộc phải cứu xét những
hoàn cảnh khác biệt nhau một cách cẩn thận, để có thể đưa ra sự hướng dẫn
thiêng liêng thích hợp cho những tín hữu liên quan. (92) Thượng Hội Đồng
Giám Mục xác định việc thực hành của Giáo Hội, dựa trên Kinh Thánh (Mc 10,
2- 12), không chấp nhận cho những người li dị và tái hôn đón nhận các bí
tích, bởi v́ t́nh trạng và điều kiện đời sống của họ mâu thuẫn một cách
khách quan với sự kết hợp yêu thương giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, được biểu
thị và tái hiện trong Bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, những người li dị và tái
hôn vẫn thuộc về Giáo Hội, Giáo Hội luôn đồng hành với họ trong sự quan tâm
đặc biệt và khuyến khích họ hết sức sống đời sống Kitô hữu bằng việc thường
xuyên tham dự Thánh Lễ, dẫu không được rước lễ, lắng nghe Lời Chúa, chầu
Thánh Thể, cầu nguyện, tham gia vào đời sống cộng đồng, đối thoại tin tưởng
với một linh mục hay một vị linh hướng, nhiệt thành với việc bác ái và thực
hành việc thống hối, dấn thân vào việc giáo dục con em của họ.
Khi những nghi ngờ chính đáng nêu ra về tính
hợp pháp của Bí tích Hôn Nhân trước, việc điều tra cẩn thận phải được tiến
hành để xác định xem những nghi ngờ này có nền tảng vững chắc không. Do đó,
cần phải bảo đảm sự có mặt của các toà án Giáo Hội địa phương, phải hoàn
toàn tuân theo giáo luật, những đặc tính mục vụ, cùng hoạt động phù hợp và
mau chóng của những toà án này (94). Mỗi Giáo Phận phải có đủ số người được
chuẩn bị cần thiết để các toà án Giáo Hội có thể hoạt động một cách hiệu
quả. Tôi nhắc lại rằng “đưa hoạt động thuộc về quy chế của Giáo Hội càng
ngày càng gần hơn với người tín hữu là một trách vụ nặng nề” (95). Đồng
thời, không được chăm sóc mục vụ nếu có điều ǵ đó đi ngược lại với luật lệ.
Đúng hơn, chúng ta phải khởi đi bằng cách giả định rằng điểm căn bản gặp gỡ
giữa lề luật và chăm lo mục vụ là ḷng yêu mến sự thật: sự thật chẳng bao
giờ là thuần tuư trừu tượng, nhưng là “một phần của hành tŕnh Kitô giáo và
nhân linh của mỗi tín hữu” (96). Cuối cùng, khi mà sự vô hiệu hoá dây hôn
phối không được công bố và những hoàn cảnh khách quan không thể nào giúp
chấm dứt sự chung sống này th́ Giáo Hội khuyến khích những thành phần tín
hữu đó cam kết sống mối tương quan của ho trong sự trung thành với những đ̣i
hỏi của luật Chúa, như thể bạn hữu, như anh và chị em; như vậy họ có thể
được trở lại với bàn tiệc Thánh Thể, khi họ chú tâm giữ việc thực hành đă
được thiết lập và chuẩn nhận trong Giáo Hội liên quan về vấn đề này. Một
đường hướng như thế, nếu khả thi và đem lại ích lợi, phải được các mục tử hỗ
trợ bằng những sáng kiến thích hợp trong Giáo Hội. Thực hành này không bao
giờ bao hàm việc chúc lành những mối tương quan này kẻo gây ra những hiểu
lầm nơi các tín hữu, bởi liên quan đến giá trị đích thực của hôn nhân (97).
Đứng trước bối cảnh văn hoá phức tạp mà Giáo
Hội phải ứng phó trong nhiều quốc gia, Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng góp ư
cần dành sự quan tâm mục vụ tối đa để huấn luyện các cặp vợ chồng chuẩn bị
hôn phối, và để nắm rơ trước những xác quyết của họ liên quan đến những bó
buộc đ̣i hỏi cho tính hợp pháp của Bí tích Hôn Phối. Một sự phân định nghiêm
túc trong vấn đề này sẽ giúp tránh được những t́nh huống mà những quyết định
nông nổi hoặc những lí do phiến diện dẫn hai người trẻ bước vào đảm nhận
những trách nhiệm mà họ không thể thực tâm gánh nổi . (98) Sự thiện hảo mà
Giáo Hội cũng như xă hội xét như toàn thể, chờ mong nơi hôn nhân và gia đ́nh
xây dựng trên đó thật lớn lao đến nỗi cần nhờ đến một sự dấn thân toàn diện
trong mục vụ cho lănh vực đặc biệt này. Hôn nhân và gia đ́nh là những tổ
chức cần phải được đề cao và bảo vệ khỏi bất cứ một sự sai lạc nào trong bản
chất đích thực của nó, bởi v́ bất cứ điều ǵ làm tổn thương đến hôn nhân gia
đ́nh th́ cũng làm tổn hại cho chính xă hội.
Bí tích Thánh Thể và cánh chung học
Thánh Thể: một ơn thiêng cho con người trên
đường lữ hành
30. Nếu thật sự các Bí tích là một phần thực
tại của Giáo Hội lữ hành tiến bước trong lịch sử (99), hướng về sự biểu
dương trọn vẹn vinh quang của Chúa Kitô phục sinh, th́ cũng là thật, đặc
biệt trong phụng vụ Bí tích Thánh Thể, các Bí tích cho chúng ta thật sự
hưởng trước sự viên măn chung cuộc mà mỗi người và mọi thụ tạo đều hướng đến
(x. Rm 8, 19 tt.). Con người được tạo dựng để hưởng hạnh phúc đích thực và
vĩnh cửu mà chỉ t́nh yêu của Thiên Chúa mới có thể trao ban. Nhưng tự do đă
bị thương tổn của chúng ta sẽ lạc hướng nếu nó đă không cảm nhận được điều
ǵ của sự viên thành tương lai đó. Hơn nữa, để bước đi đúng hướng, tất cả
chúng ta cần được hướng dẫn tiến về cùng đích của chúng ta. Đích điểm đó là
chính Chúa Kitô, Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết, là Đấng hiện diện với
chúng ta theo một cách thế đặc biệt trong cử hành Thánh Thể. Dù chúng ta vẫn
c̣n là “khách lạ và lữ hành” trong trần gian này (1 Pr 2, 11) th́ qua đức
tin, chúng ta đă được tham dự trọn vẹn vào sự sống lại. Mở ra chiều kích
cánh chung một cách mạnh mẽ, Bàn tiệc Thánh Thể trợ giúp sự tự do của chúng
ta khi chúng ta tiếp tục cuộc lữ hành.
Bàn tiệc cánh chung
31. Suy tư về mầu nhiệm này, chúng ta có thể
nói rằng sự xuất hiện của Chúa Giêsu đă đáp ứng một sự chờ mong hiển hiện
trong dân Israel, trong toàn thể nhân loại và cuối cùng trong chính thụ tạo.
Bằng việc tự hiến, Người đă chính thức khai mở thời đại cánh chung. Chúa
Kitô đến để quy tụ Dân Thiên Chúa đă bị tản lạc (Ga 11, 52) và công khai bày
tỏ ư muốn của Người là quy tụ toàn thể cộng đồng giao ước, để thực hiện trọn
vẹn những lời Thiên Chúa đă hứa cho cha ông (Gr 23, 3; Lc 1, 55, 70). Khi
gọi Nhóm Mười Hai, được coi như liên hệ tới mười hai chi tộc Israel, và theo
lệnh truyền Người chỉ thị cho họ trong Bữa Tiệc Li trước cuộc khổ h́nh ban
ơn cứu chuộc, để tưởng nhớ đến Người, Chúa Giêsu đă tỏ cho thấy rằng Người
muốn chuyển giao cho toàn thể cộng đồng mà Người đă thiết lập, qua ḍng lịch
sử, trở nên dấu chỉ và khí cụ của sự quy tụ cánh chung đă khởi sự trong
Người. Bởi đó, mỗi cuộc cử hành Thánh Thể đều hoàn tất một cách bí tích cuộc
quy tụ cánh chung của Dân Chúa. Đối với chúng ta, bữa tiệc cánh chung thật
sự là một sự hưởng nếm trước bữa tiệc sau cùng mà các tiên tri báo trước (x.
Is 25, 6- 9) cũng như được tŕnh bày trong Tân Ước như “hôn lễ Con Chiên”
(Kh 19, 7- 9), được cử hành trong niềm hân hoan của sự hiệp thông các thánh
(100).
Cầu nguyện cho người chết
32. Cử hành Thánh Thể, chúng ta loan truyền
Chúa đă chịu chết và sống lại, và sẽ lại đến, là một bảo chứng cho vinh
quang mai sau, khi thân xác chúng ta được vinh hiển. Cử hành việc tưởng niệm
ơn cứu độ tăng cường niềm hi vọng của chúng ta vào sự phục sinh thân xác,
cũng như vào điều có thể được gặp lại, mặt đối mặt, những người đă ra đi
trước chúng ta, đă được ghi dấu đức tin. Trong bầu khí đó, cùng với các Nghị
Phụ, tôi muốn nhắc lại cho toàn thể tín hữu về sự quan trọng của việc cầu
nguyện cho người chết, nhất là dâng Thánh Lễ cho họ, để một khi đă được
thanh tẩy, họ có thể được vào hưởng nhan Chúa. (101) Việc tái khám phá chiều
kích cánh chung tiềm ẩn trong Bí tích Thánh Thể, được cử hành và tôn thờ sẽ
giúp nâng đỡ chúng ta trên con đường lữ hành và khích lệ chúng ta trong niềm
hi vọng được hưởng phúc vinh quang (Rm 5, 2; Tt 2, 13).
Bí tích Thánh Thể và Đức Trinh Nữ Maria
33. Từ mối tương quan giữa Bí tích Thánh Thể
và những Bí tích riêng biệt, và từ ư nghĩa cánh chung của những mầu nhiệm
thánh, hiện lên toàn cảnh đời sống của người Kitô hữu, một cuộc sống được
kêu gọi trong mọi nơi mọi lúc trở thành một hành vi thờ phượng, một của lễ
đẹp ḷng dâng lên Thiên Chúa. Dù chúng ta vẫn c̣n đang hành hương tiến về
niềm hi vọng thành toàn, điều này không có nghĩa là chúng ta không được diễm
phúc nhận ra rằng những hồng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta đă được thấy
hoàn thành nơi Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa cùng là Mẹ chúng ta. Xác
hồn Mẹ Maria được lên trời là một dấu chỉ vững chắc cho chúng ta, bởi v́ nó
tỏ cho chúng ta, khi chúng ta đang hành hương trong thời gian, mục tiêu tối
hậu của điều mà Bí tích Thánh Thể đă cho chúng ta, ngay từ bây giờ hưởng nếm
trước.
Nơi Mẹ Maria chí thánh, chúng ta cũng thấy
phương thức “nhiệm tích” đă được Thiên Chúa thực hiện cách trọn hảo để xuống
gặp gỡ các thụ tạo của Người hầu thực hiện công tŕnh cứu chuộc. Từ Truyền
Tin cho đến Hiện Xuống, Mẹ Maria miền Nazareth xuất hiện như một người mà sự
tự do hoàn toàn hướng mở về ư muốn Thiên Chúa. Sự thụ thai vô nhiễm nguyên
tội của Mẹ được mặc khải chính ngay tại sự tuân phục vô điều kiện của Mẹ đối
với Lời Thiên Chúa. Niềm tin vâng phục đáp trả việc Chúa làm khuôn đúc cuộc
đời Mẹ trong mọi lúc. Là một trinh nữ lắng tâm nghe lời Chúa, Mẹ sống hoàn
toàn thuận theo ư muốn của Người; Mẹ tích chứa trong ḷng những lời đến với
Mẹ từ Thiên Chúa, đan dệt lại như một bức tranh khảm, Mẹ học để hiểu sâu xa
hơn những lời ấy (Lc 2, 19, 51); Mẹ Maria là một Tín Hữu tuyệt vời, đặt ḿnh
một cách tín thác trong bàn tay Thiên Chúa, buông theo ư muốn của Người.
(102) Mầu nhiệm này lại sâu khuất hơn khi Mẹ hết ḷng cộng tác vào sứ mệnh
cứu độ của Chúa Giêsu. Theo cách diễn tả của Công Đồng Vatican II, “Đức
Trinh Nữ đă tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với
Con cho đến bên thập giá, giữ vững kế hoạch của Thiên Chúa (Ga 19, 25), Mẹ
đă đau đớn chịu khổ cực với Con một của ḿnh và dự phần vào hi lễ của Con,
với tấm ḷng của một người mẹ hết t́nh ưng thuận hiến tế lễ vật do ḷng ḿnh
sinh ra. Và cuối cùng, chính Chúa Giêsu Kitô khi hấp hối trên thập giá đă
trối Ngài làm Mẹ của môn đệ qua lời này: ‘ Thưa Bà, này là Con Bà’” (x. Ga
19, 26- 27) (103). Từ Truyền Tin cho đến Thập Giá, Mẹ Maria là Đấng đă đón
nhận Ngôi Lời trở thành xác phàm trong ḷng Mẹ và đă giữ thinh lặng cho đến
chết. Sau cùng, chính Mẹ đă ôm trong ṿng tay Mẹ thân xác bất động của Đấng
đă thật sự yêu “cho đến cùng” (Ga 13, 1).
V́ lẽ đó, mỗi lần chúng ta đến gần Ḿnh và
Máu Chúa Kitô trong phụng vụ Thánh Thể, chúng ta cũng hướng về Mẹ là Đấng mà
bằng sự trung tín trọn hảo đă đón nhận hi tế của Chúa Kitô thay cho toàn thể
Giáo Hội. Các Nghị Phụ tuyên bố một cách đúng đắn rằng “Mẹ Maria khai mào sự
tham dự của Giáo Hội trong hiến tế của Đấng Cứu Chuộc.” (104) Mẹ là Đấng Vô
Nhiễm, Đấng đă đón nhận ân huệ của Thiên Chúa một cách vô điều kiện và kết
hiệp với công tŕnh cứu chuộc của Người. Đức Maria thành Nazareth, h́nh
tượng của Giáo Hội khai sinh, mẫu mực cho mỗi người chúng ta, được gọi để
đón nhận hồng ân mà Chúa Giêsu dâng hiến trong Bí tích Thánh Thể.
PHẦN HAI
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ CỬ HÀNH
“Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông
Môsê đă cho các ông ăn bánh bởi rời đâu; chính Cha tôi cho các ông ăn bánh
bởi trời, bánh đích thực” (Ga 6, 32)
Luật cầu nguyện và luật đức tin (Lex orandi
et lex credendi)
34. Các Nghị Phụ suy tư nhiều về tương quan
nội tại giữa đức tin đối với Thánh Thể và việc cử hành Thánh Thể khi chỉ ra
sự liên kết giữa luật cầu nguyện (lex orandi) và luật đức tin (lex
credendi), đồng thời nhấn mạnh vai tṛ ưu tiên của hành vi phụng vụ. Bí
tích Thánh Thể phải được cảm nhận như một mầu nhiệm của đức tin, được cử
hành một cách xác thực cùng với ư thức rơ ràng rằng “ trí khôn dựa vào đức
tin (intellectus fidei) trước tiên phải đặt tương quan vào hành vi phụng vụ
của Giáo Hội.” (105) Suy tư thần học trong lănh vực này không được cắt rời
khỏi trật tự bí tích mà chính Chúa Kitô đă lập. Mặt khác, hành vi phụng vụ
không bao giờ được coi như phái sinh, tách rời khỏi mầu nhiệm đức tin. Đức
tin của chúng ta và phụng vụ Thánh Thể cả hai cùng có chung một nguồn cội,
trong cùng một biến cố: sự tự hiến của Chúa Kitô trong Mầu Nhiệm Vượt Qua.
Cái Đẹp và Phụng vụ
35. Mối quan hệ giữa đức tin và phụng tự lộ
rơ một cách đặc biệt trong chiều kích thần học và phụng vụ về cái đẹp. Cũng
như phần c̣n lại của Mặc Khải Kitô giáo, phụng vụ có một mối liên hệ sâu xa
với cái đẹp: nó là vẻ rạng ngời của chân lí (veritatis splendor). Phụng vụ
là sự biểu tỏ sáng ngời về mầu nhiệm phục sinh, trong đó Chúa Kitô lôi kéo
chúng ta đến với Người và kêu gọi chúng ta đi vào hiệp thông. Như Thánh
Bônaventura đă nói, trong Chúa Giêsu chúng ta chiêm ngắm vẻ đẹp và sự sáng
ngời tại chính nguồn cội của nó. (106) Đây không chỉ thuộc về thẩm mĩ học,
nhưng c̣n là cách thế cụ thể trong đó sự thật về t́nh yêu của Thiên Chúa
trong Chúa Kitô gặp gỡ chúng ta, lôi cuốn chúng ta và làm chúng ta say mê,
giúp chúng ta vượt thoát khỏi chính ḿnh và hướng chúng ta về ơn gọi đích
thực của chúng ta, là t́nh yêu. (107) Thiên Chúa tự để cho ḿnh được nh́n
thấy trước trong thụ tạo, trong cái đẹp và sự hài hoà của vũ trụ (Kn 13, 5;
Rm 1, 19- 20). Trong Cựu Ước chúng ta nhận thấy nhiều dấu chỉ về sự uy hùng
của quyền năng Thiên Chúa khi Người biểu dương vinh quang Người trong những
việc lạ lùng giữa Tuyển Dân (Xh 14; 16, 10; 24, 12- 18; Ds 14, 20- 23).
Trong Tân Ước sự hiển dương vẻ đẹp này đạt đến sự toàn vẹn sau cùng nơi mặc
khải của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô: (108) Chúa Kitô là sự hiển dương
toàn măn về vinh quang Thiên Chúa. Trong sự tôn vinh Chúa Con, vinh quang
của Chúa Cha toả rạng và được thông đạt (Ga 1, 14; 8, 54; 12, 28; 17, 1).
Tuy nhiên nét đẹp này không chỉ là sự hài hoà về tính cân đối và h́nh thể;
“giữa thế nhân ngài vô song tuyệt mĩ” (Tv 45 [44], 3), nhưng một cách huyền
nhiệm, c̣n là “đấng chẳng c̣n dáng vẻ, chẳng c̣n oai phong đáng chúng ta
ngắm nh́n, dung mạo chẳng c̣n ǵ khiến chúng ta ưa thích” (Is 53, 2). Chúa
Giêsu Kitô tỏ cho chúng ta thấy sự thật về t́nh yêu có thể biến đổi cả bí ẩn
về sự chết thành ánh sáng rạng ngời của sự sống lại. Ở đây vẻ rạng ngời của
vinh quang Thiên Chúa vượt quá mọi vẻ đẹp trần gian. Vẻ đẹp chính thực nhất
là t́nh yêu của Thiên Chúa, đă được mặc khải trọn vẹn cho chúng ta trong mầu
nhiệm vượt qua.
Vẻ đẹp của phụng vụ là một phần của mầu
nhiệm này; nó là sự diễn tả cao siêu nhất về vinh quang Thiên Chúa, và theo
một nghĩa nào đó, là cái nh́n thoáng về Nước Trời ngay trên trần gian. Cuộc
tưởng niệm hi tế cứu độ của Chúa Giêsu hàm chứa một chút nào đó vẻ đẹp ấy,
vẻ đẹp mà các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan chứng nhận khi Thầy, trên đường
lên Giêrusalem đă biến h́nh trước mắt các ông (Mc 9, 2). Do đó, cái đẹp
không chỉ là nét trang trí, nhưng c̣n hơn thế, là yếu tố cơ bản của hành vi
phụng vụ, bởi v́ nó là một thuộc tính của Thiên Chúa và mặc khải của Người.
Những nhận định này sẽ giúp chúng ta quan tâm đúng mực để hành vi phụng vụ
phản chiếu vẻ rạng ngời sâu thẳm của nó.
Cử hành Thánh Thể, công việc của “trọn vẹn
Chúa Kitô” (Christus Totus)
Christus totus in capite et in corpore (Trọn
vẹn Chúa Kitô đầu và thân ḿnh)
36. “Chủ thể” của vẻ đẹp sâu xa của phụng vụ
là chính Chúa Kitô, phục sinh và vinh quang trong Chúa Thánh Thần, Đấng bao
quát Giáo Hội trong công tŕnh của Người. (109) Ở đây chúng ta có thể nhớ
lại một câu nói đầy ư nghĩa của Thánh Augustinô diễn tả một cách rơ nét động
năng của đức tin thích hợp với Bí tích Thánh Thể. Vị Giám Mục vĩ đại thành
Hippo, khi tŕnh bày đặc biệt về mầu nhiệm Thánh Thể, nhấn mạnh sự kiện Chúa
Kitô đồng hoá chúng ta với chính Người: “Bánh mà bạn thấy trên bàn thờ, được
thánh hoá bởi lời Thiên Chúa, là ḿnh Chúa Kitô. Chén thánh, hay đúng hơn,
chất thể mà chén thánh chứa đựng, được thánh hoá bởi lời Chúa, là máu Chúa
Kitô. Qua những dấu chỉ này, Chúa Kitô muốn kí thác cho chúng ta ḿnh và máu
Người đă đổ ra để tha thứ tội lỗi chúng ta. Nếu các bạn đón nhận cách chính
đáng, chính các bạn là những ǵ các bạn đă đón nhận.” (110) Do đó, “chúng ta
không chỉ trở nên các Kitô hữu, mà c̣n trở nên chính Chúa Kitô.” (111) Qua
đó, chúng ta có thể chiêm ngắm công việc mầu nhiệm của Thiên Chúa, đang tạo
ra một sự hiệp nhất sâu xa giữa chúng ta và Chúa Giêsu: “Chúa Kitô không ở
đầu mà không ở trong thân thể; Người trọn vẹn ở trong đầu cũng như trong
thân thể.” (112)
Bí tích Thánh Thể và Chúa Kitô phục sinh
37. Bởi phụng vụ Thánh Thể tự nền tảng là
công việc của Thiên Chúa (actio Dei), đưa dẫn chúng ta vào trong Chúa Kitô
qua Chúa Thánh Thần, nên cơ cấu nền tảng của nó không phải là điều ǵ trong
năng quyền của chúng ta có thể thay đổi, cũng không thể theo những trào lưu
hiện đại. Cũng ở đây một phát biểu không thể phản bác của Thánh Phaolô được
áp dụng: “không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đă đặt sẵn là
Đức Giêsu Kitô” (1 Cr 3, 11). Thêm nữa, chính vị Tông Đồ Dân Ngoại xác quyết
với chúng ta rằng, liên quan đến Bí tích Thánh Thể, ngài không tŕnh bày
giáo huấn của ngài nhưng điều chính ngài đă đón nhận (x.1 Cr 11, 23). Việc
cử hành Thánh Thể tiềm ẩn và hàm chứa Truyền Thống sống động. Giáo Hội cử
hành hi tế Thánh Thể trong sự tuân phục lệnh truyền của Chúa Kitô, dựa trên
cảm nhận của ḿnh về Chúa Phục Sinh và sự tuôn trào Chúa Thánh Thần. V́ lí
do đó, từ khởi đầu, cộng đồng Kitô đă quy tụ để bẻ bánh (fractio panis) vào
Ngày của Chúa. Chủ Nhật, ngày Chúa trỗi dậy từ trong kẻ chết, cũng là ngày
đầu tuần, ngày mà truyền thống Cựu Ước nh́n nhận như là khởi đầu công tŕnh
tạo dựng của Thiên Chúa. Từ nay, ngày tạo dựng trở thành ngày “tạo dựng
mới,” ngày giải thoát chúng ta khi chúng ta tưởng niệm Chúa Kitô, Đấng đă
chết và sống lại (113).
Ars celebrandi (Quy tắc cử hành)
38. Trong thời gian diễn ra Thượng Hội Đồng,
các Giám Mục nhấn mạnh nhiều đến nhu cầu cần phải tránh bất cứ phản đề nào
xảy ra giữa quy tắc cử hành (Ars celebrandi), là nguyên tắc cử hành chính
thực với việc tham dự trọn vẹn, linh động và hiệu quả của mọi tín hữu. Đường
lối ưu tiên để nuôi dưỡng sự tham dự của Dân Chúa vào nghi thức thánh ở tại
việc cử hành đúng chính các nghi lễ. Quy tắc cử hành (ars celebrandi) là một
phương thể tối hảo để bảo đảm sự tham dự sinh động (actuosa participati) của
họ. (114) Quy tắc cử hành là kết quả của sự gắn bó trung thành với luật
phụng vụ trong tất cả sự phong phú của nó; thật vậy, trải qua hai ngh́n năm,
phương thức cử hành này đă nâng đỡ đời sống đức tin của tất cả tín hữu, được
mời gọi để cử hành như Dân Thiên Chúa, trong chức tư tế vương giả, như một
dân tộc thánh (1 Pr 2, 4-5, 9) (115)
Giám mục, vị chủ tế cao nhất
39. Nếu thực sự là toàn thể Dân Chúa đều
tham dự vào phụng vụ Thánh Thể th́ quy tắc cử hành đúng cần phải có sự phân
nhiệm riêng biệt cho những người đă lănh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh.
Giám mục, linh mục, và phó tế, mỗi vị tuỳ theo phẩm chức của riêng ḿnh,
phải coi việc cử hành phụng vụ như chính phận vụ của ḿnh (116). Trên hết,
điều này đúng thực với đức Giám mục Giáo phận: như “người đứng đầu quản lí
những mầu nhiệm của Thiên Chúa trong một Giáo Hội địa phương được uỷ thác
cho sự chăm sóc của ngài, ngài là vị chủ qủan, vị đề khởi, và người canh giữ
toàn thể đời sống phụng vụ của Giáo phận” (117) Điều này là thiết yếu cho
đời sống của Giáo Hội địa phương, không chỉ bởi v́ sự hiệp thông với đức
Giám mục được luật lệ đ̣i hỏi đối với các việc cử hành trong phạm vi địa hạt
của ngài, mà c̣n bởi chính ngài là vị chủ tế cao nhất trong phạm vi Giáo
phận của ngài (118). Chính ngài có trách nhiệm bảo đảm sự duy nhất và đồng
bộ trong các việc cử hành diễn ra tại lănh địa của ngài. Do đó, Giám mục
phải “quyết chí để các linh mục, phó tế và giáo dân Kitô hữu hiểu rơ ngày
càng sâu đậm ư nghĩa xác thực của các nghi lễ cũng như của các bản văn phụng
vụ, để nhờ đó được hướng dẫn để cử hành Bí tích Thánh Thể một cách sống động
và hiệu qủa” (119). Tôi mong muốn rằng cần phải làm hết sức có thể để bảo
đảm cho các lễ nghi phụng vụ mà đức Giám mục cử hành trong nhà thờ Chính Toà
của ngài thể hiện sự tôn trọng trọn vẹn ars celebrandi, để các nghi thức
phụng vụ đó được coi như mẫu mực cho toàn thể giáo phận (120).
Tôn trọng các sách phụng vụ và sự phong phú
của các dấu chỉ
40. Nhấn mạnh tầm quan trọng của quy tắc cử
hành cũng dẫn đến việc đề cao quy luật phụng vụ. (121) Quy tắc cử hành phải
nuôi dưỡng cảm thức thánh thiện và việc sử dụng những dấu chỉ bên ngoài giúp
tăng cường cảm thức này, chẳng hạn, sự hoà hợp của nghi lễ, y phục phụng vụ,
cách sắp đăt cũng như không gian thánh. Việc cử hành Thánh Thể sẽ được sinh
động khi linh mục và những người hướng dẫn phụng vụ nỗ lực giúp thông hiểu
các bản văn cũng như quy luật phụng vụ đang sử dụng, soi tỏ sự phong phú bao
trùm trong Huấn Thị Tổng Quát của Sách Lễ Rôma cũng như Sách Các Bài Đọc. Có
lẽ chúng ta thường cho rằng cộng đồng tín hữu chúng ta đă hiểu thấu và nắm
rơ các nguồn nội dung này, tuy nhiên không phải luôn luôn như vậy. Những bản
văn này chứa đựng sự phong phú đă tồn tại lâu đời cũng như diễn tả đức tin
và cảm nghiệm của Dân Chúa trải qua hơn hai-ngh́n-năm- lịch sử. Cũng quan
trọng cho một ars celebrandi đúng đắn là việc quan tâm đến những loại h́nh
ngôn ngữ khác nhau mà phụng vụ sử dụng: lời ca và âm nhạc, cử điệu và sự
thinh lặng, việc đi lại, mầu sắc của y phục phụng vụ. Bằng chính bản chất
của nó, phụng vụ hoạt động trên những mức độ truyền đạt khác nhau giúp đi
vào toàn thể con người. Sự giản dị của các cử điệu cũng như sự sử dụng chừng
mực các dấu chỉ nối tiếp nhau giúp thông đạt và khơi gợi hơn bất cứ sự pha
phôi g̣ bó mà không thích hợp nào. Quan tâm và trung thành với cơ cấu đặc
thù của nghi lễ vừa nói lên sự nh́n nhận bản chất của Bí tích Thánh Thể là
một hồng ân, và về phần thừa tác viên, là thái độ rộng mở ngoan ngoăn đón
nhận hồng ân vô biên này.
Nghệ thuật phục vụ việc cử hành
41. Mối liên hệ sâu xa giữa cái đẹp và phụng
vụ phải thúc giục chúng ta quan tâm đến các công tŕnh nghệ thuật nhằm vào
việc cử hành. (122) Chắc chắn, một yếu tố quan trọng của nghệ thuật thánh là
kiến trúc thánh đường, (123) nó phải nêu bật sự thống nhất của việc sắp đặt
cung thánh, gồm bàn thờ, tượng chịu nạn, nhà tạm, bục đọc sách thánh, ghế
chủ toạ. Ở đây cần phải ghi nhớ rằng mục đích của nghệ thuật thánh là giúp
cho Giáo Hội có một không gian thích hợp để cử hành các mầu nhiệm đức tin,
nhất là Bí tích Thánh Thể. (124) Bản chất của thánh đường Kitô giáo được
chính phụng vụ xác định, nghĩa là một cuộc họp nhau của những tín hữu
(ecclesia), là những viên đá sống động của Giáo Hội (x. Pr 2, 5).
Nguyên tắc thống nhất này cũng đúng cho nghệ
thuật thánh tổng quát, nhất là hội hoạ và điêu khắc, nơi mà những h́nh tượng
tôn giáo cần phải hướng đến sự khai tâm về các bí tích. Một vốn tri thức
chắc chắn về lịch sử nghệ thuật thánh thật là hữu ích để giúp cho các vị hữu
trách hướng dẫn giới nghệ sĩ và kiến trúc sư sáng tạo những tác phẩm nghệ
thuật dùng trong phụng vụ. V́ vậy thật là thiết yếu để chương tŕnh đào tạo
chủng sinh và linh mục có việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, đối chiếu với
những công tŕnh kiến trúc thánh có liên quan đến những quy tắc về phụng vụ.
Tất cả những ǵ liên quan đến Bí tích Thánh Thể cần phải được tŕnh bày bằng
nét đẹp. Cũng phải quan tâm và tôn trọng đặc biệt đến các lễ phục, những đồ
dùng, những b́nh chậu thánh, để nhờ sự sắp đặt một cách trật tự và hài hoà,
những vật dụng này sẽ nuôi dưỡng ḷng kính tôn đối với mầu nhiệm Thiên Chúa,
diễn tả sự thống nhất của đức tin và tăng cường ḷng đạo đức. (125)
Thánh ca
42. Trong ars celebrandi, thánh ca chiếm một
vị trí nổi bật. (126) Thánh Augustinô có lí khi ngài xác quyết trong một bài
giảng nổi tiếng: “Con người mới biết hát một bài hát mới. Ca hát là cách
diễn đạt niềm vui, mà nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa hơn, là thể hiện t́nh
yêu” (127). Dân Chúa họp nhau cử hành phụng vụ hát lời ca ngợi Chúa. Trong
ḍng lịch sử hai ngh́n năm, Giáo Hội đă sáng tác và vẫn c̣n sáng tác âm
nhạc, và những bài hát để biểu tỏ một gia sản đức tin và t́nh yêu quá phong
phú, không thể bị mai một. Những kiểu ứng tác tầm thường hoặc việc đề xuất
những thể loại âm nhạc không tôn trọng ư nghĩa phụng vụ th́ cần phải tránh.
Để thể hiện một yếu tố phụng vụ, bài hát phải được đăt vào trong toàn bộ
buổi cử hành (128). Do đo, tất cả- lời ca, âm nhạc, cách tŕnh tấu- phải phù
hợp với ư nghĩa của mầu nhiệm đang được cử hành, của cấu trúc của lễ nghi và
mùa phụng vụ (129). Sau cùng, trong khi vẫn tôn trọng những thể loại đa dạng
cùng những truyền thống khác vẫn được đề cao, tôi vẫn muốn, thể theo lời đệ
đạt của các Nghị Phụ, rằng thánh ca Grêgorian phải được đánh giá đúng mức
và được sử dụng như thánh ca thích hợp cho phụng vụ Rôma (131).
Cơ cấu của việc cử hành Bí tích Thánh Thể
43. Sau khi nhắc lại những yếu tố nền tảng
của ars celebrandi được nêu ra trong suốt thời gian làm việc của Thượng Hội
Đồng Giám Mục, tôi muốn hướng đến một số điểm đặc thù của cơ cấu cử hành Bí
tích Thánh Thể, cần được quan tâm một cách đặc biệt trong thời điểm hiện
nay, để chúng ta vẫn trung thành với ư hướng nền tảng trong việc canh tân
phụng vụ mà Công Đông Vatican II đă khởi xướng, tiếp nối truyền thống bao la
của Giáo Hội.
Tính duy nhất nội tại của hành vi phụng vụ
44. Trước hết, cần phải suy tư về tính duy
nhất nội tại của nghi thức Thánh Lễ. Cả trong giáo lí và trong cách cử hành
hiện tại, chúng ta phải tránh tạo ra cảm tưởng rằng hai phần của nghi thức
chỉ được đặt kế cạnh nhau. Phụng vụ Lời chúa và phụng vụ Thánh Thể, với
những nghi thức dẫn nhập và kết thúc, “liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi
tạo thành một hành vi phụng thờ độc nhất.”(132) Có một sợi dây liên kết nội
tại giữa Lời Chúa và Thánh Thể. Khi lắng nghe Lời Chúa, đức tin được sinh ra
hoặc được tăng cường (x. Rm 10, 17); trong Bí tích Thánh Thể Lời trở thành
xác phàm tự hiến cho chúng ta làm lương thực thiêng liêng. (133) Như thế,
“từ hai bàn tiệc: Lời Chúa và Ḿnh Chúa, Giáo Hội đón nhận và trao ban cho
các tín hữu bánh sự sống.”(134) Do đó, cần phải luôn ghi nhớ rằng Lời Chúa
được Giáo Hội đọc và công bố trong phụng vụ dẫn đến Bí tích Thánh Thể như
kết điểm đương nhiên vậy.
Phụng vụ Lời Chúa
45. Cùng với Thượng Hội Đồng Giám Mục, tôi
mong muốn Lời Chúa luôn luôn được chuẩn bị và được cử hành một cách cẩn
thận. Do vậy tôi tha thiết nhắc nhở rằng phải hết sức cố gắng để bảo đảm cho
việc công bố Lời Chúa được trao cho những người đọc đă được chuẩn bị kĩ
lưỡng. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng “khi Kinh Thánh được đọc trong Giáo
Hội, chính Thiên Chúa ngỏ lời với dân Người, và Chúa Kitô, hiện diện trong
chính lời của Người, công bố Tin Mừng”(135). Khi hoàn cảnh cho phép, có thể
dùng một ít lời dẫn nhập để tập trung chú ư của các tín hữu. Để có thể hiểu
Lời Chúa một cách đúng đắn, chúng ta phải lắng nghe và đón nhận trong tinh
thần hiệp thông với Giáo Hội và trong ư thức sáng tỏ về sự duy nhất giữa Lời
Chúa và Bí tích Thánh Thể. Thật vậy, lời được công bố và đón nhận là Lời đă
thành xác phàm (x. Ga 1, 14); lời ấy liên kết chặt chẽ với con người Chúa
Kitô và theo h́nh thái bí tích của sự hiện diện trường cửu của Người giữa
chúng ta. Chúa Kitô không nói trong quá khứ, nhưng trong hiện tại, cho dù
Người hiện diện qua hành vi phụng vụ. Trong bối cảnh bí tích của mặc khải
Kitô giáo, (136) tri thức cũng như việc học hỏi Lời Chúa giúp chúng ta hiểu
rơ hơn để cử hành và sống Bí tích Thánh Thể. Cũng tại đây, chúng ta thấy câu
“không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” thật đúng biết bao (137)
Trong mục đích đó, các tín hữu cần được giúp
đỡ để hiểu rơ kho tàng phong phú của Sách Thánh chứa đựng trong các bài đọc,
nhờ những sáng kiến mục vụ, việc cử hành Lời Chúa và đọc sách thiêng liêng
(lectio divina). Cũng cần phải cổ vũ những h́nh thức cầu nguyện đă được
truyền thống chứng nhận, như Phụng vụ Giờ Kinh, nhất là Kinh Sáng, Kinh
Chiều và Kinh Tối, cũng như những buổi cử hành canh thức cầu nguyện. Khi cầu
nguyện bằng Thánh Vịnh, bằng các Bài Đọc Sách Thánh cũng như các bài đọc
trích từ truyền thống sâu xa chứa đựng trong Kinh Thần Vụ, chúng ta có thể
cảm thấu rơ ràng hơn biến cố- Chúa Kitô và nhiệm cục cứu chuộc, mà cuối cùng
lại giúp chúng ta hiểu rơ và tham dự vào việc cử hành Thánh Thể một cách
phong phú hơn (138).
Bài giảng
46. Liên quan đến tầm quan trọng của Lời
Chúa, cần phải gia tăng phẩm chất của bài giảng. Giảng là “một phần của
hành vi phụng vụ” (139), và có mục đích nuôi dưỡng sự hiểu biết Lời Chúa sâu
xa hơn để Lời Chúa có thể sinh hoa trái trong đời sống người tín hữu. Bởi
vậy, những thừa tác viên có chức thánh phải “chuẩn bị bài giảng một cách cẩn
thận, dựa trên sự hiểu biết xứng hợp về Sách Thánh”(140). Cần phải tránh
những bài giảng quá sơ lược và trừu tượng. Một cách đặc biệt, tôi yêu cầu
các thừa tác viên này phải giảng thế nào để bài giảng liên quan chặt chẽ với
việc công bố Lời Chúa trong việc cử hành Bí tích (141) cũng như đời sống
cộng đoàn để Lời Chúa thật sự trở nên sự bồi bổ và nâng đỡ cho Giáo Hội
(142). Cũng không được quên mục đích huấn giáo và khuyến thiện của bài
giảng. Trong chu ḱ năm phụng vụ, thật thích hợp để tŕnh bày cho các tín
hữu, một cách khôn ngoan và dựa trên nền tảng các bài đọc xoay ṿng ba năm,
những bài giảng “chủ đề” đề cập đến những đề tài quan trọng của đức tin Kitô
giáo, dựa trên những ǵ đă được Huấn Quuyền chính thức đề ra trong bốn “trụ
cột” của Sách Giáo Lí Hội Thánh Công Giáo và Sách Toát Yếu mới đây: tuyên
xưng đức tin, cử hành mầu nhiệm Kitô giáo, đời sống trong Chúa Kitô và kinh
nguyện Kitô giáo (143)
Dâng của lễ
47. Các Nghị Phụ cũng chú trọng tới việc
dâng của lễ. Việc này không được xem chỉ như một thứ “tạm nghỉ” giữa phụng
vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Nghĩ như thế, ít nhất cũng làm yếu đi cảm
thức về một nghi thức duy nhất gồm bởi hai phần liên kết với nhau. Cử chỉ
khiêm tốn và đơn sơ này thật sự rất có ư nghĩa: qua bánh và rượu mà chúng ta
đem đến bàn thờ, tất cả thụ tạo được Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc đón nhận, được
biến đổi và tiến dâng lên Chúa Cha. (144) Theo tinh thần đó chúng ta cũng
đem đến bàn thờ mọi đau khổ của thế giới, với niềm xác tín rằng mọi sự đều
có giá trị trước mặt Chúa. Ư nghĩa đích thực của cử chỉ này có thể được diễn
tả thật rơ ràng mà không cần nhấn mạnh thêm hoặc tạo những phức tạp không
cần thiết. Việc dâng của lễ giúp chúng ta hiểu rơ cách thế Thiên Chúa mời
gọi con người tham gia vào việc hoàn thiện công việc của Người, và như thế,
tạo cho lao động của con người có một ư nghĩa đích thực, bởi v́ qua việc cử
hành Thánh Thể, lao động ấy được kết hợp với hiến lễ cứu chuộc của Chúa
Kitô.
Kinh nguyện Thánh Thể
48. Kinh nguyện Thánh Thể là “tâm điểm và
đỉnh cao của tất cả việc cử hành” (145). Tầm quan trọng của phần này phải
được nhấn mạnh một cách xứng hợp. Các Kinh Nguyện Thánh Thể khác nhau ở
trong Sách Lễ đă được truyền lại cho chúng ta bởi truyền thống sống động của
Giáo Hội và rất đáng lưu tâm v́ sự phong phú về thần học và thiêng liêng vô
hạn của nó. Các tín hữu cần được giúp đỡ để nắm rơ tính phong phú đó. Ở đây
Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma có thể hữu ích khi liệt kê những yếu tố
cơ bản của mỗi Kinh Nguyện Thánh Thể: Tạ ơn, tung hô, kinh khẩn cầu, lời
thiết lập và truyền phép, kinh kính nhớ, lời tiến dâng, lời cầu khẩn và vinh
tụng ca kết thúc. (146) Đặc biệt, linh đạo Thánh Thể và suy tư thần học sẽ
thêm phong phú nếu chúng ta chiêm niệm, trong Kinh nguyện Thánh Thể, tính
duy nhất sâu xa giữa lời nguyện xin Chúa Thánh Thần và lời thiết lập (147),
nơi “hoàn tất hiến lễ mà chính Chúa Kitô thiết lâp tại Bữa Tiệc Li” (148).
Thật vậy, “Giáo Hội cầu xin quyền năng Chúa Thánh Thần để lễ vật do tay con
người dâng được thánh hoá, nghĩa là trở nên Ḿnh và Máu Chúa Kitô, và để Lễ
Vật không t́ vết được đón nhận trong phần rước lễ trở thành ơn cứu độ cho
tất cả những ai sắp dự vào”. (149)
Chúc b́nh an
49. Tự bản chất Bí tích Thánh Thể là Bí tích
của sự b́nh an. Trong Thánh lễ chiều kích này của mầu nhiệm Thánh Thể t́m
được cách diễn tả đặc thù trong việc chúc binh an. Chắc chắn cử chỉ này có
một giá trị cao đẹp (x. Ga 14, 27). Trong thời đại chúng ta, bị đè nặng bởi
những sợ hăi và xung đột, th́ cử chỉ này nói lên rất nhiều ư nghĩa, nhất là
khi Giáo Hội càng ngày càng ư thức hơn về trách nhiệm phải cầu nguyện không
ngừng cho ơn hoà b́nh và hiệp nhất cho chính ḿnh cũng như cho toàn thể gia
đ́nh nhân loại. Chắc chắn mỗi người đều ấp ủ trong tâm hồn ḿnh một ḷng
khao khát mănh liệt ơn b́nh an. Giáo Hội cất tiếng khơi lên niềm hi vọng ơn
b́nh an và hoà giải xuất phát từ mọi người thiện chí, hướng nó về Đấng là
“Sự B́nh An của chúng ta” (Ep 2, 14) và là Đấng có thể đem lại b́nh an cho
mỗi người cũng như cho các dân tộc khi mọi nỗ lực của con người đều thất
bại. Như thế, chúng ta có thể hiểu được cảm xúc thường cảm nhận được khi
chúc b́nh an trong cử hành phụng vụ. Dẫu vậy, trong khi họp Thượng Hội Đồng
Giám Mục, những bàn luận cũng được đưa ra để có một sự giới hạn thích đáng
đối với cử chỉ này, nghĩa là nó có thể đi đến hơi quá và gây ra chia trí
tong cộng đoàn ngay trước khi rước lễ. Cần ghi nhớ rằng ư nghĩa của nó không
hề giảm đi khi việc chúc b́nh an được thực hiện một cách vừa phải, duy tŕ
trong bầu khí thích hợp của buổi cử hành, chẳng hạn chỉ làm với những người
ở gần nhất (150).
Việc trao và rước Thánh Thể
50. Giây phút khác của cuộc cử hành cần được
nhắc đến, đó là việc trao và Rước Lễ. Tôi yêu cầu mọi người, nhất là các
thừa tác viên có chức thánh và những người đă được chuẩn bị xứng hợp cho nhu
cầu chính đáng này, đă được cho phép để thực hiện việc trao Thánh Thể, phải
hết sức cố gắng bảo đảm cho hành vi đơn thuần này duy tŕ được tầm mức quan
trọng của nó, như thể đó là một sự gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu trong Bí
tích này. Đối với những quy luật bảo đảm cho việc thực thi này đúng đắn,
tôi muốn tham chiếu những tài liệu mới được phổ biến liên quan đến vấn đề
này. (151) Mọi cộng đồng Kitô hữu phải tuân thủ những quy luật hiện hành một
cách trung thành, hăy nhận ra ở đó một sự thể hiên đức tin và t́nh yêu mà
tất cả chúng ta phải có đối với Bí tích cao trọng này. Lại nữa, chúng ta
cũng không được bỏ qua thời gian quư báu của việc cám ơn sau rước lễ: ngoài
việc hát một bài thánh ca thích hợp, việc hồi tâm thinh lặng thật là hữu
ích. (152)
Về vấn đề này, tôi muốn hướng chú ư vào một
vấn đề mục vụ thường gặp trong hoàn cảnh hiện nay. Tôi muốn nhắc đến sự thể
là trong một số trường hợp- chẳng hạn, Lễ cưới, Lễ an táng, hoặc những dịp
tương tự- ngoài những người Công Giáo tham dự c̣n có những người khác hiện
diện, những người đă lâu không c̣n tham dự Thánh Lễ hoặc những người đang
sống trong t́nh trạng không được phép chịu các Bí tích. Hoặc thỉnh thoảng
cũng có những tín đồ thuộc các giáo hội Kitô giáo khác và cả những người
thuộc tôn giáo khác cũng có mặt. Những trường hợp tương tự cũng có thể diễn
ra trong những nhà thờ thường được thăm viếng, nhất là tại những địa điểm du
lịch. Trong tất cả những trường hợp này, cần phải t́m một phương thế vắn gọn
và trong sáng để nhắc nhớ cho những người có mặt về ư nghĩa của việc hiệp
thông bí tích, cùng những điều kiện đ̣i buộc của việc tiếp nhận này. Bất cứ
những trường hợp nào không thể bảo đảm cho việc duy tŕ ư nghĩa thích đáng
của Bí tích Thánh Thể, th́ nên xem xét để thay thế việc cử hành Thánh Lễ
bằng phụng vụ Lời Chúa. (153)
Lời giải tán: “Lễ xong, hăy đi” (Ite, missa
est)
51. Sau cùng, tôi muốn nói thêm một cách vắn
tắt về những nhận định của các Nghị Phụ liên quan đến lời giải tán vào cuối
buổi cử hành Thánh Thể. Sau phép lành, phó tế hoặc linh mục giải tán dân
chúng bằng câu: Lễ xong, hăy đi (Ite, missa est). Những lời này giúp chúng
ta hiểu rơ mối tương quan giữa Thánh Lễ vừa được cử hành và sứ mệnh của Kitô
hữu trong trần gian. Vào thời xưa, missa chỉ có nghĩa là “giải tán.” Tuy
nhiên theo cách dùng Kitô giáo, nó dần dần mang một ư nghĩa sâu xa hơn. Từ
“giải tán” đó đă bao hàm một “sứ mệnh.” Những lời ngắn ngủi này diễn tả một
cách cô đọng bản chất truyền giáo của Giáo Hội. Dân Chúa cần phải được giúp
đỡ để hiểu rơ hơn chiều kích nền tảng này của đời sống Giáo Hội, coi việc ra
đi như một khởi điểm. Trong bầu khí ấy, thật là hữu ích để soạn thảo những
bản văn mới, được chính thức chuẩn nhận, để cầu nguyện trên dân chúng và ban
phép lành cuối lễ, hầu làm cho mối liên quan này được sáng tỏ (154).
Sự tham dự linh động (Actuosa participatio)
Sự tham dự đích thực
52. Công Đồng Vatican II đă nhấn mạnh một
cách đúng đắn về việc tham dự một cách linh động, trọn vẹn và hiệu quả của
toàn thể Dân Chúa vào việc cử hành Thánh Thể (155). Chắc chắn, việc canh tân
được thực hiện trong những năm qua đă đem lại những tiến triển đáng kể trong
việc hoàn thiện những ước nguyện của các Nghị Phụ Công Đồng. Tuy nhiên chúng
ta không được bỏ qua sự kiện là một số hiểu lầm đôi khi xảy ra liên quan đến
ư nghĩa đích thực của việc tham dự này. Cần phải nói một cách rơ ràng rằng
từ “tham dự” không chỉ nói đến những hoạt động bên ngoài trong buổi cử hành.
Thật vậy, việc tham dự linh động mà Công Đồng mong muốn phải được hiểu theo
những hạn từ mang ư nghĩa bản thể hơn, dựa trên nền tảng của việc hiểu rơ
hơn mầu nhiệm đang được cử hành và tương quan của nó với cuộc sống thường
ngày. Hiến chế Phụng vụ, Sacrosanctum Concilium khuyến giục các tín hữu tham
dự vào phụng vụ Thánh Thể không phải như “những người bàng quan hoặc những
khán giả câm lặng” nhưng như những người tham dự “vào hành vi thánh thiêng,
ư thức rơ điều họ đang thực hiện, một cách sống động và thành kính” (156).
Lời hối thúc này không hề mất đi sức mạnh của nó. Công Đồng tiếp tục bày tỏ
rằng các tín hữu “ được đào tạo bởi Lời Chúa, được nuôi dưỡng nơi bàn tiệc
Ḿnh Chúa. Họ phải cảm tạ Chúa. Và trong khi dâng Lễ Vật tinh tuyền, không
chỉ nhờ tay linh mục mà c̣n kết hiệp với Người, họ tập dâng chính ḿnh. Ngày
qua ngày, nhờ Chúa Kitô Đấng Trung gian, họ được lôi kéo để đi vào sự kết
hiệp hoàn hảo hơn với Thiên Chúa và với nhau” (157).
Sự tham dự và thừa tác vụ linh mục
53. Cái đẹp và sự hoà hợp của phụng vụ t́m
được sự biểu đạt mạnh mẽ trong vai tṛ mà qua đó mỗi người được kêu gọi để
tham dự một cách linh động. Điều này bao gồm một sự hiểu rơ các phần vụ liên
quan đến việc cử hành. Thật hữu ích để nhắc nhớ rằng việc tham dự linh động
tự nó không tương ứng với việc thi hành một sứ vụ riêng nào. Việc tham dự
linh động của giáo dân không được thuận lợi nếu có sự lẫn lộn xuất phát từ
một t́nh trạng không biết phân định, trong việc hiệp thông Giáo Hội, những
phận vụ riêng của mỗi người. (158) Thật rất cần thiết phải phân định những
phận vụ đặc thù của linh mục. Chỉ linh mục, chứ không phải người nào khác,
theo truyền thống Giáo Hội xác định, chủ sự toàn bộ việc cử hành Thánh Thể,
từ lời chào mở đầu cho đến phép lành kết thúc. Do bởi Thánh Chức mà ngài đă
nhận, linh mục đại diện Chúa Giêsu Kitô, đầu của Giáo Hội, và, một cách đặc
biệt, cũng đại diện chính Giáo Hội. (159) Quả thật, mọi việc cử hành Thánh
Thể đều được điều khiển bởi Đức Giám mục, “hoặc chính ngài, hoặc qua các
linh mục là những cộng sự viên của ngài.” (160) Ngài được phụ giúp nhờ một
phó tế, có những phận vụ đặc biệt trong lúc cử hành: phó tế dọn bàn thờ, phụ
giúp các linh mục, công bố Lời Chúa, đôi khi giảng, đọc các ư chỉ Lời Nguyện
Tín Hữu, và trao Thánh Thể cho các tín hữu. (161) Cộng tác với những thừa
tác vụ liên quan đến Bí tích Truyền Chức Thánh, c̣n có những thừa tác vụ
khác để giúp phụng vụ, được thi hành một cách tốt đẹp do các tu sĩ và giáo
dân đă được huấn luyện. (162)
Cử hành Thánh Thể và sự hội nhập văn hoá
54. Trên nền tảng những xác quyết của Công
Đồng Vatican II, các Nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục thường xuyên nhấn
mạnh đến sự tham dự linh động của các tín hữu vào hi tế Thánh Thể. Để làm
tăng triển sự tham dự này, việc đề ra một số các điều chỉnh thích hợp theo
những bối cảnh và văn hoá khác nhau đă được thực hiện. (163) Sự kiện có một
số lạm dụng xảy ra không làm suy giảm nguyên tắc minh thị này, vốn phải được
tuân thủ theo những nhu cầu thực tế của Giáo Hội, khi Giáo Hội sống và cử
hành một mầu nhiệm duy nhất về Chúa Kitô, trong một hoàn cảnh đa dạng về văn
hoá. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Chúa Giêsu, sinh bởi một người nữ và như một
người trọn vẹn (x. Gl 4, 4) đă đi thẳng vào tương quan không chỉ với những
sự chờ mong hiện thực trong Cựu Ước, nhưng c̣n theo sự đợi trông của mọi dân
tộc. Như thế Người tỏ cho thấy rằng Thiên Chúa muốn gặp gỡ chúng ta trong
chính hoàn cảnh cụ thể của chúng ta. Một sự tham dự hiệu quả hơn của các tín
hữu vào những mầu nhiệm thánh, do vậy, sẽ thuận lợi nếu có một tiến tŕnh
hội nhập văn hoá đối với việc cử hành Thánh Thể, trong khi phải xét đến
những khả năng thích ứng đă được tŕnh bày trong Huấn Thị Tổng Quát về Sách
Lễ Rôma, (164) và được giải thích trong ánh sáng của những tiêu chí đă được
đăt định bởi Huấn Thị Thứ Bốn của Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật Bí Tích Varietates
legitimae ngày 25 tháng Giêng 1994, (165) và những chỉ dẫn của Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II trong các Tông Huấn Hậu Thương Hội Đồng Gíam Mục,
Ecclesia in Africa, Ecclesia in America, Ecclesia in Asia, Ecclesia in
Oceania, và Ecclesia in Europa (166). Trong mục tiêu này, tôi mong muốn các
Hội Đồng Giám Mục cố gắng duy tŕ một sự quân b́nh đúng mức giữa những tiêu
chí và những chỉ dẫn đă được ban hành và những đổi mới (167) luôn phù hợp
với Tông Toà.
Những điều kiện cá nhân cho “actuosa
participatio”
55. Khi t́m hiểu actuosa participatio của
tín hữu trong phụng vụ, các Nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng thảo luận
về những điều kiện cá nhân cần phải có cho việc tham dự hiệu quả về phần mỗi
người. (168) Một trong những điều kiện này chắc chắn là tinh thần thường
xuyên hoán cải, cần phải thể hiện trong đời sống của mọi tín hữu. Tham dự
linh động vào phụng vụ Thánh Thể khó có thể đạt được nếu người ta tiếp nhận
một cách hời hợt, không có sự kiểm điểm đời sống ḿnh. Khả năng nội tâm này
có thể được gia tăng, thí dụ, bằng việc hồi tâm và thinh lặng tối thiểu một
ít phút trước khi bắt đầu cử hành phụng vụ, bằng ăn chay, và nếu cần bằng
việc xưng tội. Một tâm hồn hoà giải với Chúa mới có thể giúp cho việc tham
dự đích thực. Các tín hữu cần được nhắc nhở rằng không thể có actuosa
participatio vào các mầu nhiệm thánh nếu không đi kèm theo nỗ lực tham dự
một cách tích cực vào đời sống của Giáo Hội nói chung, gồm cả việc dấn thân
truyền giáo để đem t́nh yêu Chúa vào đời sống xă hội.
Chắc chắn rằng việc tham dự trọn vẹn vào Bí
tích Thánh Thể được thực hiện khi bản thân người tín hữu đến bàn thờ để rước
lễ. (169) Tuy nhiên, cũng cần phải ư tứ thêm kẻo nhiều tín hữu nghĩ rằng chỉ
duy việc họ hiện diện trong nhà thờ suốt buổi phụng vụ th́ họ có quyền hoặc
có bổn phận phải tiến đến bàn tiệc Thánh Thể. Dẫu có những trường hợp không
thể được rước lễ, việc tham dự Thánh Lễ vẫn cần thiết, vẫn quan trọng, thật
ư nghĩa và ích lợi. Trong những trường hợp như thế, sẽ thật hữu ích nếu nuôi
dưỡng ḷng ước muốn kết hiệp với Chúa Kitô qua việc rước lễ thiêng liêng,
được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khuyến khích (170).
Sự tham dự của các Kitô hữu không phải Công
Giáo
56. Chủ đề tham dự Bí tích Thánh Thể không
thể không nêu lên vấn đề của những Kitô hữu thuộc về các Giáo Hội hoặc những
Cộng Đồng Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. Về điểm
này, cần phải nói rằng mối kiên kết sâu xa giữa Bí tích Thánh Thể và sự hiệp
nhất Giáo Hội thúc đẩy chúng ta mong ước một ngày nào đó được cử hành Bí
tích Thánh Thể cùng với mọi người tin vào Chúa Kitô, và như vậy diễn tả một
cách hữu h́nh sự hiệp nhất trọn vẹn mà Chúa Kitô muốn nơi các môn đệ của
Người (x. Ga 17, 21). Mặt khác, sự tôn kính mà chúng ta phải có đối với bí
tích Ḿnh và Máu Chúa Kitô ngăn cản chúng ta không được coi đó chỉ như một
“phương tiện”, được sử dụng một cách cẩu thả để đạt được sự hiệp nhất.
(172)Thật vậy, Bí tích Thánh Thể không chỉ bày tỏ sự hiệp thông cá nhân của
chúng ta với Chúa Giêsu Kitô, nhưng c̣n bao hàm sự hiêp thông (communio)
trọn vẹn với Giáo Hội. Đây là lí do tại sao, dẫu thật đáng buồn nhưng không
mất niềm hi vọng, chúng tôi yêu cầu các Kitô hữu không phải là Công Giáo
hiểu rơ và tôn trọng niềm xác tín của chúng tôi đă được bắt nguồn từ Kinh
Thánh và Truyền Thống. Chúng tôi cho rằng sự hiệp thông Thánh Thể và sự hiệp
thông Giáo Hội liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi, đối với những Kitô hữu
không-Công Giáo không thể đón nhận điều trước mà không vui hưởng điều sau.
Sẽ mất hết ư nghĩa nếu thật sự cử hành chung với các thừa tác viên của các
Giáo Hội hay những Cộng Đồng Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội
Công Giáo. Tuy nhiên vẫn c̣n đúng khi, v́ ơn cứu chuộc đời đời của họ, cá
nhân những Kitô hữu không-Công Giáo có thể được nhận Bí tích Thánh Thể, Bí
tích Hoà Giải và Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Tuy nhiên đây chi là những
trường hợp đặc biệt, ngoại thường và đ̣i hỏi phải đáp ứng thoả đáng những
điều kiện được xác định (172). Những điều này được chỉ dẫn trong Sách Giáo
Lí Giáo Hội Công Giáo (174) cũng như Sách Toát Yếu (175). Mọi người phải
trung thành tuân giữ những quy luật này.
Tham dự qua những phương tiện truyền thông
57. Nhờ sự phát triển phi thường của những
phương tiện truyền thông, từ “tham dự” đă mang một ư nghĩa rộng hơn trong
những thập kỉ vừa qua. Tất cả chúng ta cùng vui mừng nh́n nhận rằng truyền
thông cũng đă mở ra những khả năng mới cho việc cử hành Bí tích Thánh Thể.
(176) Điều này đ̣i hỏi một sự chuẩn bị đặc biệt cũng như một cảm thức bén
nhạy về phía những nhân viên mục vụ làm việc trong lănh vực này. Khi Thánh
Lễ được phát trên truyền h́nh th́ Thánh Lễ đó chắc hẳn được coi như một mẫu
mực. Do đó, cần phải đặc biệt quan tâm để bảo đảm việc cử hành tôn trọng
những quy luật của phụng vụ, và diễn ra trong những nơi chốn thích hợp, được
chuẩn bị chu đáo.
Sau cùng, liên quan đến giá trị của việc
tham dự Thánh Lễ qua những phương tiện truyền thông, những người nghe hoặc
xem những chương tŕnh này cần ư thức rằng trong những hoàn cảnh b́nh
thường, họ chưa chu toàn luật buộc dự Lễ. Những h́nh ảnh thị giác có thể
biểu thị thực tại nhưng nó không tạo ra thực tại ấy một cách hiện thực.
(177) Trong khi người ta khuyến khích những người già cả và đau ốm tham dự
Thánh Lễ Chủ Nhật qua truyền thanh và truyền h́nh, th́ điều đó không thể cho
phép một số người nghĩ rằng những chương tŕnh như thế sẽ miễn chước cho họ
khỏi đến nhà thờ để tham dự việc cử hành Thánh Thể cùng với một cộng đoàn
Giáo Hội sống động.
Việc tham dự sống động của những người đau
yếu
58. Trong khi nghĩ đến những người không thể
tham dự ở những nơi thờ phụng v́ lí do sức khoẻ hay cao tuổi, tôi muốn kêu
gọi toàn thể Cộng Đồng Giáo Hội quan tâm đến sự quan trọng có tính mục vụ
của việc đáp ứng sự trợ giúp thiêng liêng cho những người đau ốm, cả những
người sống tại nhà riêng cũng như những người trong bệnh viện. T́nh cảnh của
họ đă được thường xuyên nhắc đến trong Thượng Hội Đồng Gíam Mục. Những anh
chị em này cần phải có cơ hội được rước lễ một cách thường xuyên. Như thế,
họ có thể tăng cường sự kết hợp với Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại, và
cảm thấy được dự phần trọn vẹn vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội qua việc
dâng những đau khổ kết hiệp với hiến tế của Chúa Giêsu. Và cần quan tâm đặc
biệt đến những người tật nguyền. Khi điều kiện của họ như thế, cộng đồng
Kitô giáo phải giúp đỡ để họ có thể tham dự tại nơi thờ phượng. Những công
tŕnh xây dựng phải được thiết kế thế nào để giúp những người tật nguyền đi
lại dễ dàng. Cuối cùng, bất cứ khi nào có thể, việc đón nhận Thánh Thể có
thể được trao ban cho những người thiểu năng tâm thần, nếu họ đă được rửa
tội và thêm sức: họ rước Thánh Thể trong đức tin của gia đ́nh họ hay của
cộng đoàn đồng hành với họ. (178)
Quan tâm đến các tù nhân
59. Truyền thống thiêng liêng của Giáo Hội,
dựa trên chính lời Chúa Kitô (x. 25, 36) đă coi việc thăm viếng các tù nhân
như là một trong những công việc thương xót mang tính thể lí. Các tù nhân có
một nhu cầu đặc biệt để được Chúa ngự trong Bí tích Thánh Thể đích thân thăm
viếng. Cảm nhận sự gần gũi với cộng đồng Giáo Hội, được tham dự Bí tích
Thánh Thể và rước lễ trong giai đoạn khó khăn và đau khổ chắc chắn giúp tạo
nên chất liệu cho hành tŕnh đức tin của một tù nhân và giúp tái hội nhập
đầy đủ vào đời sống xă hội. Nhắc lại lời nhắn nhủ của Thượng Hội Đồng Giám
Mục, tôi mong mỏi các Giáo phận hăy làm tất cả những ǵ có thể, để bảo đảm
những hoạt động trợ giúp mục vụ được góp vào việc chăm sóc thiêng liêng cho
các tù nhân. (179)
Di dân và sự tham dự Bí tích Thánh Thể
60. Giờ đây hướng về những người mà v́ những
lí do khác nhau phải rời bỏ quê hương của ḿnh, các Nghị Phụ bày tỏ ḷng
biết ơn đặc biệt đối với những người đă dấn thân chăm lo mục vụ cho những
người di dân. Cần phải quan tâm đặc biệt đối với những người di dân thuộc
các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương; ngoài việc phải xa dời nhà cửa họ c̣n
gặp khó khăn v́ không thể tham dự vào phụng vụ Thánh Thể trong chính nghi lễ
của họ. V́ lí do đó, bất cứ khi nào có thể, họ phải được các linh mục giúp
cử hành nghi lễ của họ. Trong mọi trường hợp tôi xin các Đức Giám Mục hăy
đón nhận những anh chị em này với t́nh yêu của Chúa Kitô. Những tiếp xúc
giữa các tín hữu thuộc những nghi lễ khác nhau có thể chứng tỏ một nguồn
mạch phong phú lẫn cho nhau. Đặc biệt, tôi cũng đang nghĩ đến những lợi ích
xuất phát từ sự hiểu biết những truyền thống khác nhau, nhất là đối với các
giáo sĩ. (180)
Những cuộc đồng tế đại trào
61. Thượng Hội Đồng Giám Mục đă cứu xét phẩm
chất việc tham dự trong trường hợp của những cuộc cử hành đại trào, được tổ
chức trong những hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm không chỉ một số đông các tín
hữu giáo dân, mà c̣n có nhiều linh mục đồng tế. (181) Môt mặt, chúng ta rất
dễ cảm nhận sự quan trọng của những giờ phút đó, nhất là khi chính Đức Giám
Mục cử hành, cùng có các linh mục và các phó tế quy tụ chung quanh ngài. Mặt
khác, trong những trường hợp như thế thật không dễ bày tỏ phân minh tính duy
nhất của linh mục đoàn, nhất là trong khi đọc Kinh Nguyện Thánh Thể và việc
trao Thánh Thể. Cần phải có nhiều cố gắng kẻo những cuộc đồng tế đại trào
mất đi sự tập trung chính thực của nó. Điều này có thể thực hiện được bằng
sự phối hợp khít khao và bằng sự sắp xếp vị trí cử hành để các linh mục và
giáo dân thực sự có thể tham dự một cách trọn vẹn. Tuy nhiên, cần phải luôn
ghi nhớ rằng ở đây chúng ta đang nói tới những cuộc đồng tế khác thường,
giới hạn trong những hoàn cảnh đặc biệt.
Tiếng La tinh
62. Không có những nhận định nào vừa đề cập
có thể tạo nghi ngờ về tầm quan trọng của việc cử hành phụng vụ đại trào. Ở
đây tôi đang nghĩ một cách đặc biệt đến những cuộc cử hành trong những buổi
gặp gỡ quốc tế, mà ngày nay được tổ chức thường xuyên hơn. Trong những cơ
hội này cần phải hoạt động tối đa. Để diễn tả một cách rơ ràng hơn tính duy
nhất và phổ quát của Giáo Hội, tôi cũng tán thành đề nghị của các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng Gíam Mục, và hợp theo những chỉ dẫn của Công Đồng Vatican II
(182), là trừ ra các bài đọc, bài giảng và lời nguyện tín hữu, những buổi
phụng vụ như thế có thể được cử hành bằng tiếng La tinh. Một cách tương tự,
những kinh đă quá quen thuộc trong truyền thống Giáo Hội cũng nên đọc bằng
tiếng La tinh, và nếu có thể th́ nên hát những bài trong hợp tuyển thánh ca
Grêgôrian. Nói một cách tổng quát hơn, tôi mong muốn các linh mục tương lai,
trong thời gian ở chủng viện, cần được chuẩn bị để hiểu và cử hành Thánh Lễ
bằng tiếng La tinh, cũng như có thể sử dụng các bản văn bằng tiếng La tinh
và hát thánh ca Grêgôrian; và cũng đừng quên rằng các tín hữu có thể được
chỉ dạy để đọc những kinh quen thuộc bằng tiếng La tinh cũng như có thể hát
những phần phụng vụ bằng những bài thánh ca Grêgôrian. (184)
Những cuộc cử hành Thánh Thể trong những
nhóm nhỏ
63. Có một trường hợp rất khác biệt nảy sinh
khi, v́ để tạo cho một sự tham dự ư thức hơn, linh động hơn và hiệu quả hơn,
th́ cần tạo những hoàn cảnh mục vụ thuận lợi để cử hành cho những nhóm nhỏ.
Trong khi nh́n nhận giá trị giáo huấn của phương thức này th́ cũng cần phải
xác định rằng những cuộc cử hành như thế phải luôn luôn phù hợp với hoạt
động mục vụ chung của Giáo Phận. Những việc cử hành đó thật sự sẽ mất giá
trị huấn giáo của nó nếu những cuộc cử hành ấy cho người ta cảm nhận như là
để đối lập hoặc để cạnh tranh với đời sống của Giáo Hội địa phương. Về vấn
đề này Thượng Hội Đồng Giám Mục đă đề ra một vài tiêu chuẩn cần thiết: những
nhóm nhỏ phải phục vụ để hiệp nhất cộng đoàn, chứ không được phân rẽ cộng
đoàn; những lợi ích cần phải được chứng minh rơ ràng; những nhóm này phải
thúc đẩy sự tham dự hiệu quả vào toàn thể cộng đoàn, và duy tŕ hết sức có
thể sự hiệp nhất của đời sống phụng vụ trong mỗi gia đ́nh. (185)
Sự tham dự nội tâm vào việc cử hành
Giáo lí khai tâm
64. Truyền thống phụng vụ lâu đời của Giáo
Hội dạy chúng ta rằng việc tham dự hiệu quả vào phụng vụ đ̣i hỏi người ta
phải được uốn nắn một cách cá nhân đối với mầu nhiệm được cử hành, bằng việc
dâng hiến đời sống của họ cho Thiên Chúa, kết hiệp với hiến tế của Chúa Kitô
để cứu chuộc toàn thể thế giới. V́ lí do đó, các Nghị Phụ mong muốn rằng các
tín hữu phải được giúp đỡ để tạo cho nội tâm họ hợp với cử chỉ và lời nói
của họ. Tuy nhiên, mặt khác các việc cử hành phụng vụ của chúng ta cần phải
được trù liệu và thực hiện thế nào kẻo rơi vào nguy cơ biến thành một chủ
thuyết duy nghi lễ nào đó. Bởi vậy cần phải giáo dục đức tin vào Thánh Thể
để giúp cho người tín hữu sống một cách cá nhân những ǵ họ cử hành. Đối với
việc quan trọng thiết yếu của việc tham dự (participatio) một cách cá nhân
và ư thức, những phương pháp huấn luyện nào cần có? Về vấn đề này, các Nghị
Phụ nhất trí cho rằng, phương thức khai tâm giáo lí sẽ giúp các tín hữu hiểu
sâu xa hơn những mầu nhiệm đang được cử hành. (186) Một cách đặc biệt, chẳng
hạn tương quan chặt chẽ giữa ars celebrandi và actuosa participatio, trước
tiên cần xác định rằng “giáo lí tốt nhất về Bí tích Thánh Thể là chính Bí
tích Thánh Thể được cử hành một cách chu đáo.” (187) Thật vậy, bằng chính
bản chất của nó, về mặt sư phạm phụng vụ có thể hữu hiệu trong việc giúp
cho các tín hữu bước sâu hơn vào mầu nhiệm đang được cử hành. Đó là lí do
tại sao theo truyền thống cổ kính nhất của Giáo Hội, tiến tŕnh huấn giáo
Kitô luôn mang đặc điểm trải nghiệm. Trong khi không coi thường một sự hiểu
biết có tính hệ thống về nội dung của đức tin, th́ tiến tŕnh trên tập chú
vào sự gặp gỡ sống động và xác tín đối với Chúa Kitô, như được công bố bởi
những chứng nhân đích thực. Trước hết và trên hết, chính các chứng nhân sẽ
dẫn người khác đi vào các mầu nhiệm. Đương nhiên, sự gặp gỡ đầu tiên này cần
đạt được chiều sâu qua giáo lí và t́m được nguồn mạch cũng như đỉnh cao của
nó trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể. Cơ cấu nền tảng của kinh nghiệm
Kitô giáo cần nhờ đến một tiến tŕnh khai tâm, phải luôn thoả măn ba yếu tố
này:
a) Đó là việc cắt nghĩa các nghi thức theo
ánh sáng của các biến cố cứu chuộc, phù hợp với truyền thống sống động của
Giáo Hội. Việc cử hành Bí tích Thánh Thể, trong sự phong phú bất tận của nó
giúp quy chiếu thường xuyên vào lịch sử cứu độ. Trong Chúa Kitô chịu đóng
đinh và sống lại, chúng ta thật sự cử hành Đấng đă nối kết mọi sự vào trong
Người (x. Ep 1, 10). Từ khai nguyên, cộng đồng Kitô giáo đă giải thích các
biến cố về cuộc đời Chúa Giêsu, và nhất là Mầu Nhiệm Vượt Qua, trong tương
quan với toàn bộ lịch sử Cựu Ước.
b) Giáo lí khai tâm phải quan tâm tŕnh bày
ư nghĩa của các dấu chỉ chứa đựng trong các nghi thức. Điều này đặc biệt
quan trọng trong thời đại kĩ nghệ cao như thời đại của chúng ta, một thời
đại có nguy cơ mất khả năng hiểu rơ các dấu chỉ và biểu tượng. Không chỉ là
truyền đạt các thông tin, giáo lí khai tâm phải giúp cho tín hữu cảm nhận
hơn đối với ngôn ngữ của các dấu chỉ và cử điệu, mà cùng với lời nói, làm
nên nghi thức.
c) Sau cùng, giáo lí khai tâm phải quan tâm
đưa ư nghĩa của nghi thức liên quan đến đời sống Kitô đi vào mọi chiều kích
của nó- làm việc và dấn thân, tư duy và cảm xúc, hoạt động và nghỉ ngơi. Một
phần của tiến tŕnh khai tâm cần phải tỏ cho thấy những mầu nhiệm được cử
hành trong nghi lễ liên quan với bổn phận truyền giáo của người tín hữu như
thế nào. Kết quả sau cùng của việc khai tâm là ư thức rằng cuộc sống của họ
đang tuần tự được biến đổi bởi những mầu nhiệm thánh đang được cử hành. Hơn
thế, mục tiêu của giáo dục Kitô giáo là huấn luyện người tín hữu có một đức
tin trưởng thành, làm cho họ trở nên một “tạo vật mới”, có khả năng làm
chứng trong môi trường của họ niềm hi vọng Kitô đă tác động họ.
Muốn thực hiện thành công công tác giáo dục
đó trong các cộng đồng Giáo Hội của chúng ta, những người có trách nhiệm đào
tạo phải được chuẩn bị một cách tương xứng. Thật thế, toàn thể dân Chúa phải
cảm thấy liên đới với việc đào tạo này. Mỗi cộng đồng Kitô giáo được kêu gọi
để trở thành một nơi mà dân chúng có thể được dạy dỗ về các mầu nhiệm được
cử hành trong đức tin. Về vấn đề này, các Nghị Phụ mời gọi sự tham gia rộng
răi hơn của các cộng đồng tu sĩ, các phong trào và các nhóm, mà nhờ các đặc
sủng riêng có thể tạo nên động lực mới cho việc giáo dục Kitô giáo. (188)
Cũng trong thời đại chúng ta, Chúa Thánh Thần rộng răi ban phát các ơn của
Người để nâng đỡ sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, được uỷ nhiệm để loan truyền
đức tin và giúp nó đạt đến mức trưởng thành. (189)
Ḷng tôn kính đối với Bí tích Thánh Thể
65. Một chỉ dấu thuyết phục của tính hữu
hiệu của giáo lí về Thánh Thể chắc chắn là sự gia tăng cảm thức về mầu nhiệm
Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta. Điều này có thể được diễn đạt bằng những
dấu chỉ cụ thể bên ngoài của ḷng tôn kính đối với Bí tích Thánh Thể mà tiến
tŕnh khai tâm đă dẫn khởi nơi người tín hữu. (190) Tôi nghĩ một cách tổng
quát đến sự quan trọng của các cử chỉ và tư thế, như quỳ gối trong suốt thời
gian trọng tâm của Kinh Nguyện Thánh Thể. Trong sự đa dạng theo luật định về
các dấu chỉ được dùng trong bối cảnh các nền văn hoá khác nhau, mỗi người có
thể cảm nhận và diễn đạt ư thức rằng trong mỗi cuộc cử hành, chúng ta đứng
trướcThiên Chúa uy nghiêm cao cả, Đấng đến cùng chúng ta trong những dấu chỉ
khiêm tốn của Bí tích.
Sự Tôn Thờ và Ḷng sùng kính Thánh Thể
Tương quan nội tại giữa việc cử hành và sự
tôn thờ
66. Một trong những giờ phút cảm động nhất
của Thượng Hội Đồng Giám Mục diễn ra khi chúng tôi họp nhau trong Đền Thờ
Thánh Phêrô, cùng với một số tín hữu để chầu Thánh Thể. Qua hành vi cầu
nguyện này, Hội Đồng Giám Mục, không chỉ bằng lời nói, tỏ cho thấy tương
quan nội tại giữa việc cử hành Thánh Thể và ḷng tôn sùng Thánh Thể. Một sự
gia tăng t́m hiểu những khía cạnh mang nhiều ư nghĩa của đức tin Giáo Hội là
một phần quan trọng trong kinh nghiệm của chúng ta, vào những năm tiếp theo
sau sự canh tân phụng vụ của Công Đồng Vatican II. Trong suốt giai đoạn đầu
của cuộc cải cách, tương quan sâu xa giữa Thánh Lễ và chầu Thánh Thể đă
không được nh́n nhận một cách rơ ràng. Thí dụ, đă có một sự phản bác, lan
rộng một thời, cho rằng bánh Thánh Thể được trao ban cho chúng ta không phải
để nh́n ngắm, mà để ăn. Tuy nhiên, trong ánh sáng kinh nghiệm của kinh
nguyện Giáo Hội, điều này bị xem như là không có nền tảng. Như Thánh
Augustinô đă nói: “không ai ăn thịt ấy mà trước đó đă không tôn thờ; chúng
ta sẽ phạm tội nếu chúng ta không tôn thờ thịt ấy.” (nemo autem illam carnem
manducat, nisi prius adoraverit; peccemus non adorando ) (191). Trong Bí
tích Thánh Thể, Con Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta và ước muốn nên một với
chúng ta; chầu Thánh Thể chỉ là hậu kết tự nhiên của cử hành Thánh Thể, mà
đó chính là hành vi cao cả nhất của việc tôn thờ của Giáo Hội. (192) Rước
Thánh Thể có nghĩa là tôn thờ Đấng mà chúng ta đón nhận. Chỉ như thế chúng
ta mới trở nên một với Người, và được hưởng nếm trước, nếu có thể nói như
thế, vẻ đẹp của phụng vụ trên trời. Hành vi thờ phượng ngoài Thánh Lễ kéo
dài và tăng cường tất cả những ǵ đă được thực hiện trong chính lúc cử hành
phụng vụ. Đúng vậy, “chỉ trong hành vi tôn thờ th́ sự đón nhận sâu xa và
đích thực mới có thể chín mùi. Và chính sự gặp gỡ cá nhân với Chúa mới tăng
cường sứ mệnh xă hội hàm ẩn trong Thánh Thể, và sẽ phá đổ không chỉ những
bức tường ngăn cách Chúa với chúng ta, mà nhất là những bức tường chia cách
chúng ta với nhau.” (193)
Sự thực hành việc chầu Thánh Thể
67. Bởi đó, cùng với Thượng Hội Đồng Giám
Mục, tôi tha thiết nhắc nhở các mục tử của Giáo Hội và Dân Thiên Chúa hăy
thực hành việc chầu Thánh Thể, một cách cá nhân cũng như trong cộng đoàn.
(194) Những lợi ích to lớn sẽ phát sinh nhờ một nội dung giáo lí thích hợp
giải thích tầm quan trọng của hành vi thờ phượng này, giúp cho các tín hữu
cảm nhận việc cử hành phụng vụ đầy đủ hơn và kết quả hơn. Trong điều kiện có
thể, và nếu thấy thích hợp, nhất là ở những nơi đông người cư trú, hăy lập
riêng những nhà thờ hay nhà nguyện để chầu Thánh Thể liên tục. Ngoài ra, tôi
cũng thêm rằng, trong việc huấn giáo, và nhất là trong khi chuẩn bị cho việc
Rước Lễ Lần Đầu, các trẻ em phải được dạy về ư nghĩa và sự cao đẹp khi dành
thời giờ ở với Chúa Giêsu, đồng thời giúp vun trồng một cảm thức kính yêu
trước sự hiện diện của Chúa trong Thánh Thể.
Ở đây tôi muốn bày tỏ ḷng cảm mến và sự
nâng đỡ đối với những Hội Ḍng có những người dành nhiều thời gian để chầu
Thánh Thể. Như thế, họ nêu cho chúng ta mẫu gương về một đời sống để cho
ḿnh được biến đổi bởi sự hiện diện đích thực của Chúa. Tôi cũng muốn khích
lệ những hiệp hội các tín hữu cũng như những nhóm thân hữu có ḷng tôn thờ
Thánh Thể đặc biệt; họ phục vụ như một nắm men chiêm niệm cho toàn thể Gíao
Hội và như một lời hiệu triệu gửi đến các cá nhân và các cộng đồng hăy đăt
Chúa Kitô làm trọng tâm cho đời ḿnh.
Những h́nh thức sùng kính Thánh Thể
68. Tương quan cá nhân mà mỗi tín hữu thiết
lập với Chúa Giêsu Thánh Thể thường xuyên thúc đẩy họ vươn ra đi vào hiệp
thông trọn vẹn với Giáo Hội cũng như nuôi dưỡng nơi họ ư thức đầy đủ hơn về
sự thuộc về Thân Thể Chúa Kitô. V́ lí do này, ngoài việc khích lệ các tín
hữu hăy dành thời giờ để cầu nguyện riêng trước Bí tích của Bàn Thờ, tôi cảm
thấy cần thiết phải hối thúc các giáo xứ và những nhóm giáo hội khác hăy
dành riêng thời giờ để chầu Thánh Thể chung. Hẳn nhiên, những h́nh thức sùng
kính Thánh Thể vẫn có sẽ giữ nguyên giá trị của nó. Chẳng hạn, tôi nghĩ đến
các cuộc kiệu Thánh Thể, nhất là cuộc kiệu truyền thống vào Ngày Lễ Trọng
kính Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô (Corpus Christi), việc thực hành đạo đức Bốn
Mươi Giờ chầu, Những Đại Hội Thánh Thể địa phương, quốc gia và quốc tế, và
những sáng kiến tương tự khác. Nếu được canh tân và thích ứng đúng mức theo
hoàn cảnh địa phương, những h́nh thức sùng kính này hôm nay vẫn đáng được
thực hành. (195)
Vị trí của nhà tạm
69. Liên quan đến tầm quan trọng của việc
lưu giữ Thánh Thể và chầu Thánh Thể, cũng như sự kính tôn đối với Bí tích
của Hi tế Chúa Kitô, Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng thảo luận vấn đề về sự
sắp đặt nhà tạm trong các nhà thờ của chúng ta. (196) Vị trí đúng đắn của
nhà tạm giúp cho việc nhận rơ sự hiện diện thực của Chúa Kitô trong Bí tích
Thánh Thể. Bởi đó, vị trí mà Ḿnh Thánh Chúa được lưu giữ, phải được thắp
một ngọn đèn để cho tất cả những ai bước vào trong nhà thờ đều có thể dễ
dàng nh́n thấy. Chính v́ thế cần phải nghiên cứu kiến trúc của ngôi nhà
thánh: trong các nhà thờ mà không có pḥng Thánh Thể, và nơi vẫn c̣n đặt bàn
thờ chính cùng với nhà tạm, th́ tiếp tục duy tŕ sử dụng cấu trúc này thật
thích hợp để lưu giữ và chầu Thánh Thể, nhưng lưu ư đừng đặt ghế chủ toạ ở
phía trước. Trong các nhà thờ mới, đặt pḥng Thánh Thể kế cận cung thánh là
điều tốt; nơi nào mà điều này không thể thực hiện th́ nên đặt nhà tạm trong
cung thánh, ở một vị trí đủ cao, giữa phía trực hậu, hoặc ở một chỗ có thể
nh́n thấy rơ. Cần quan tâm dành sự kính trọng xứng đáng cho nhà tạm, luôn
phải được chăm sóc, cả về mặt nghệ thuật nữa. Về vấn đề này, hẳn nhiên cần
tuân theo những điều tŕnh bày trong Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma.
(197) Trong bất cứ trường hợp nào, quyết định cuối cùng về những vấn đề này
thuộc về Đức Giám Mục Địa Phận.
PHẦN BA
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ SỐNG
“Như chúa Cha là Đấng hằng sống đă sai tôi,
và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, th́ kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được
sống như vậy” (Ga 6, 57)
Mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô
Sự thờ phượng tinh thần – logiké latreía (Rm
12, 1)
70. Chúa Giêsu, Đấng đă trở nên cho chúng ta
lương thực sự thật và t́nh yêu, nói về ân huệ sự sống của Người và bảo đảm
với chúng ta rằng “ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 51). “Sư
sống vĩnh cửu” này trong chúng ta bắt đầu ngay từ bây giờ, nhờ sự biến đổi
được thực hiện trong chúng ta nhờ hồng ân Thánh Thể: “Kẻ ăn tôi sẽ nhờ tôi
mà được sống” (Ga 6, 57). Những lời Chúa Giêsu nói giúp chúng ta hiểu rơ mầu
nhiệm “để tin” và “để cử hành” chứa đựng một sức mạnh nội tại làm cho nó trở
thành nguyên lí của sự sống mới trong chúng ta và thành mô thức đời sống
Kitô của chúng ta. Khi rước ḿnh và máu Chúa Giêsu Kitô, chúng ta trở nên
những người thông dự vào sự sống thần linh, mỗi ngày mỗi trưởng thanh và ư
thức hơn. Cũng tại đây, chúng ta có thể áp dụng lời của Thánh Augustinô,
trong sách “Tự thuật” của ngài về Logos trường cửu như lương thực cho linh
hồn chúng ta. Khi nhấn mạnh bản chất mầu nhiệm của lương thực này, Thánh
Augustinô tưởng tượng Chúa đang nói với ngài: “Cha là lương thực của những
bậc siêu phàm; con cũng trở nên siêu phàm khi con ăn cha, con sẽ không biến
đổi cha ở trong con như lương thực của xác thân, chính ở trong con mà con sẽ
được biến đổi trong cha.” (198) Không phải lương thực thánh Thể được biến
đổi thành chúng ta, nhưng chính chúng ta được biến đổi một cách mầu nhiệm
nhờ Thánh Thể. Chúa Kitô dưỡng nuôi chúng ta bằng cách kết liên chúng ta với
Người; “Người lôi kéo chúng ta đến với Người” (199)
Ở đây cử hành Thánh Thể xuất hiện như nguồn
mạch và đỉnh cao của đời sống Giáo Hội trong tất cả sức mạnh của nó, bởi v́
nó đồng thời vừa là khởi điểm và là sự hoàn tất của việc thờ phượng mới và
dứt khoát, logiké latreía. (200) Lời nhắc nhở của Thánh Phaolô cho dân thành
Rôma về vấn đề này là một sự diễn tả cụ thể cách thế Bí tích Thánh Thể làm
cho toàn bộ đời sống chúng ta trở nên sự thờ phượng làm đẹp ḷng Thiên Chúa:
“Thưa anh em, v́ Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hăy
hiến dâng thân ḿnh làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp ḷng Thiên
Chúa, đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12, 1). Qua
những lời này sự thờ phượng mới xuất hiện như một sự tự hiến trọn vẹn được
thực hiện trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo Hội. Lời kêu nài của vị Tông
Đồ về việc hiến dâng thân ḿnh nhấn mạnh đến tính chất cụ thể việc thờ
phượng của con người, thật sự không có ǵ là xa rời. Về vấn đề này, vị Giám
Mục thành Hippone c̣n khuyến giục chúng ta rằng “Hiến lễ của chúng ta, những
Kitô hữu, tuy nhiều, nhưng chúng ta chỉ là một thân ḿnh trong Chúa Kitô.
Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này trong Bí tích của bàn thờ, như các tín hữu
nhận biết, và Giáo Hội cho họ thấy rơ rằng, qua những ǵ được dâng hiến, đó
là chính Giáo Hội được hiến dâng.”(201) Thật vây, tín điều Công Giáo xác
quyết rằng Bí tích Thánh Thể, hiến lễ của Chúa Kitô, cũng chính là hiến lễ
của Giáo Hội, và của mọi tín hữu. (202) Sự nhấn mạnh đến hiến lễ- “được
thánh hiến”- diễn tả tất cả chiều sâu hiện sinh bao hàm trong sự biến đổi
thực tại nhân sinh mà Chúa Kitô nhận lấy (x. Pl 3, 12)
Hiệu quả bao trùm của sự thờ phượng Thánh
Thể
71. Sự thờ phượng mới của Kitô giáo bao quát
và biến đổi mọi khía cạnh của đời sống: “Dù ăn hay uống, hay làm bất cứ việc
ǵ, anh em hăy làm tất cả để tôn vinh Chúa” (1Cr 10, 31). Trong mọi hoạt
động của ḿnh, người Kitô hữu được mời gọi hiến dâng lên Thiên Chúa sự thờ
phượng đích thực. Chính tại đó, bản tính mầu nhiệm Thánh Thể của đời sống
Kitô bắt đầu h́nh thành. Thánh Thể, do bởi nó bao trùm cuộc sống cụ thể đời
thường của tín hữu có thể tạo nên một sự biến đổi tuần tự từng ngày cho tất
cả những người được mời gọi nhờ ơn thánh để phản chiếu h́nh ảnh của Con
Thiên Chúa (x. Rm 8, 29). Không có ǵ thật sự thuộc về con người- tư tưởng
và t́nh cảm, lời nói và hành động- lại không t́m thấy trong Bí tích Thánh
Thể h́nh thái thích hợp để sống một cách tràn đầy. Ở đây chúng ta có thể
nhận thấy trọn vẹn giá trị nhân linh của tính mới mẻ triệt để do Chúa Kitô
mang đến trong Bí tích Thánh Thể: sự thờ phượng Thiên Chúa trong đời sống
chúng ta không được giới hạn vào những ǵ riêng tư và cá nhân, nhưng do bản
tính của nó phải thấm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống chúng ta. Như
thế, sự thờ phượng làm đẹp ḷng Thiên Chúa trở thành cách thế mới để sống
toàn bộ cuộc sống chúng ta, mỗi giờ phút trong cuộc sống đó được nâng lên,
bởi v́ nó được sống như một phần của một cuộc tương quan với Chúa Kitô như
một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa. Vinh quang Thiên Chúa là con người sống (x.
1Cr 10, 31). Và sự sống của con người là được nh́n thấy Thiên Chúa. (203)
“Iuxta dominicam viventes” – sống theo Ngày
của Chúa
72. Ngay từ buổi đàu các Kitô hữu đă nhận
thức rơ tính mới mẻ triệt để mà Bí tích Thánh Thể đem lại cho đời sống con
người. Người tín hữu nhận ngay ra ảnh hưởng sâu đậm của việc cử hành Thánh
Thể trên lối sống của họ. Thánh Ignatio thành Aniôkia đă diễn tả sự thật đó
khi ngài gọi các Kitô hữu là “những người đă đạt được niềm hi vọng mới,” và
ngài đă nói về họ như “những người sống theo Ngày của Chúa” (Iuxta dominicam
viventes). (204) Câu nói của vị Đại Thánh Tử Đạo thành Antiôkia nêu bật
tương quan giữa thực tại của Bí tích Thánh Thể và đời sống thường ngày của
người Kitô hữu. Sự quy tụ đă thành thói quen của người Kitô hữu vào ngày thứ
nhất sau ngày Sabát để cử hành sự phục sinh của Cúa Kitô- theo tường thuật
của Thánh Justinô Tử Đạo (205)- cũng xác định thể thức của một đời sống được
đổi mới nhờ gặp gỡ Chúa Kitô. Câu nói của Thánh Ignatiô – “sống theo Ngày
của Chúa”- ngày thánh này trở thành kiểu mẫu cho những ngày khác trong tuần.
Thật vậy, ngày đó không được định nghĩa chỉ bởi sự tạm ngừng các sinh hoạt
hằng ngày, một thứ chèn vào giữa nhịp điệu thường ngày. Các Kitô hữu đă luôn
cảm nhận ngày này như ngày thứ nhất trong tuần, bởi v́ ngày này tưởng nhớ
tính mới mẻ triệt để do Chúa Kitô mang đến. Do đó, chủ nhật là ngày mà các
Kitô hữu nh́n nhận lại mô thức Thánh Thể mà cuộc sống của họ đă nhận lấy.
“Sống theo Ngày của Chúa” nghĩa là sống một cách ư thức về sự giải phóng mà
Chúa Kitô mang đến và làm cho cuộc sống chúng ta trở nên lễ hiến dâng không
ngừng dâng lên Thiên Chúa, để vinh quang của Người được mặc khải trọn vẹn
cho toàn thể nhân loại qua một đời sống được hoàn toàn đổi mới.
Sống luật buộc ngày Chúa Nhật
73. Ư thức nguyên lí mới về sự sống mà Bí
tích Thánh Thể đem lại cho các Kitô hữu, các Nghị Phụ tái khẳng định tầm
quan trọng của luật buộc ngày Chúa Nhật cho mọi tín hữu, coi đó như nguồn
gốc của sự tự do đích thực giúp họ sống mỗi ngày theo những ǵ họ đă cử hành
trong “Ngày của Chúa.” Đời sống đức tin bị lâm nguy khi chúng ta để mất ḷng
ước ao tham dự cử hành Bí tích Thánh Thể và cuộc tưởng niệm chiến thắng vượt
qua. Tham dự cộng đoàn phụng vụ ngày Chúa Nhật cùng với anh chị em chúng ta,
mà với họ chúng ta họp thành một thân thể trong Chúa Giêsu Kitô, được đ̣i
hỏi bởi lương tâm Kitô hữu của chúng ta, đồng thời việc tham dự ấy cũng h́nh
thành lương tâm Kitô. Đánh mất cảm thức về ngày Chúa Nhật như Ngày của Chúa,
một ngày được thánh hoá, là triệu chứng của sự đánh mất cảm thức đích thực
về tự do của người Kitô hữu, sự tự do được làm con Thiên Chúa. (206) Ở đây
một số nhận định của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Gioan Phaolô II
trong Tông Thư Dies Domini (207) vẫn c̣n giá trị quư báu. Nói đến những
chiều kích khác nhau của việc cử hành ngày Chúa Nhật, ngài nói rằng đó là
Ngày của Chúa (Dies Domini) liên quan đến công tŕnh sáng tạo, Dies Domini
(Ngày của Chúa) như ngày của công tŕnh sáng tạo mới và của ân huệ của Chúa
Thánh Thần, Dies Ecclesiae (Ngày của Giáo Hội) như là ngày mà cộng đoàn Kitô
hữu họp nhau để cử hành, và Dies hominis (Ngày của con người) như là ngày
của niềm vui, của sự nghỉ ngơi và bác ái.
Như thế, Chúa Nhật xuất hiện như ngày thánh
nguyên thuỷ khi tất cả những tín hữu, dù bất cứ ở đâu đều có thể trở thành
những người loan báo và ǵn gữ ư nghĩa đích thực của thời gian. Ngày đó khơi
lên ư nghĩa Kitô giáo về sự sống cũng như cách thế mới để trải nghiệm thời
gian, những tương quan, lao động, sự sống và sự chết. Do vậy, vào Ngày của
Chúa, thật thích hợp để các cộng đoàn Giáo Hội tổ chức, trong Thánh Lễ Chúa
Nhật, những sinh hoạt của Cộng đoàn Kitô giáo: gặp gỡ thân t́nh, những
chương tŕnh giáo dục đức tin cho thiếu nhi, cho bạn trẻ và người lớn, hành
hương, công việc bác ái, và những giờ cầu nguyện. V́ những giá trị quan
trọng như thế- dù vẫn biết rằng buổi chiều ngày Thứ Bảy, bắt đầu Kinh Chiều,
đă thuộc về Chúa Nhật và luật buộc ngày Chúa Nhật có thể được thực hiện- th́
chúng ta cần nhớ rằng chính ngày Chúa Nhật phải được thánh hoá để nó không
kết thúc như một ngày “vắng bóng Thiên Chúa.” (208)
Ư nghĩa của sự nghỉ ngơi và lao động
74. Sau cùng, thật là điều khẩn thiết trong
thời đại hôm nay khi nhắc nhớ rằng ngày của Chúa cũng là một ngày nghỉ ngơi,
tách khỏi công việc. Chúng ta tha thiết hi vọng rằng điều đó cũng sẽ được xă
hội dân sự nh́n nhận, để mỗi người có thể tự do tạm ngắt khỏi công việc mà
không bị phạt. Quả thật, các Kitô hữu, khi đối chiếu với ư nghĩa ngày Sabát
trong truyền thống Do Thái, đă luôn coi Ngày của Chúa như một ngày nghỉ
ngơi, thoát khỏi công việc thường ngày. Đây là điều thật có ư nghĩa v́ nó
tương đối hoá lao động và hướng nó về chính con người: lao động v́ con người
chứ không phải con người v́ lao động. Thật dễ nhận thấy điều này bảo vệ mọi
người như thế nào, khi giải thoát họ t́nh trạng có thể sa vào một h́nh thái
nô lệ. Như tôi đă có dịp đề cập, “lao động rất quan trọng hoàn thành con
người cũng như để phát triển xă hội. Như thế, lao động phải luôn được tổ
chức và thực hiện trong sự tôn trọng đầy đủ phẩm giá con người và phải luôn
luôn phục vụ thiện ích chung. Đồng thời con người dứt khoát không để cho
ḿnh bị nô lệ bởi lao động hoặc thần tượng hoá nó, cho như là t́m thấy ở đó
ư nghĩa quyết định và tối hậu của cuộc đời.” (209) Chính trong ngày thánh
hiến cho Thiên Chúa mà con người hiểu ra ư nghĩa cuộc đời cũng như công việc
của họ. (210)
Những cộng đoàn cử hành ngày Chúa Nhật thiếu
vắng linh mục
75. Việc khám phá thêm ư nghĩa của việc cử
hành ngày Chúa Nhật đối với đời sống của các Kitô hữu cũng dẫn đến việc nh́n
nhận vấn đề của những cộng đồng Kitô hữu thiếu linh mục, do đó không thể cử
hành Thánh Lễ vào Ngày của Chúa. Về vấn đề này phải nói rằng hiện nay có rất
nhiều hoàn cảnh khác biệt nhau. Trước tiên Thượng Hội Đồng Gíam Mục nhắn nhủ
rằng các tín hữu phải đến một trong các nhà thờ của Giáo Phận ḿnh, nơi chắc
chắn có một linh mục, cho dù điều này đ̣i hỏi một sự hi sinh nào đó. (211)
Khi v́ khoảng cách xa xôi mà thật sự không thể tham dự Bí tích Thánh Thể
Ngày Chúa Nhật th́ việc quan trọng c̣n lại là các cộng đồng Kitô hữu phải
họp nhau để ca tụng Chúa và tưởng niệm Ngày được dành riêng cho Người. Tuy
nhiên, điều này phải được kèm theo sự chỉ dẫn thích đáng về sự khác biệt
giữa Thánh Lễ và Cộng Đoàn họp nhau Ngày Chúa Nhật khi thiếu vắng một linh
mục. Sự chăm sóc mục vụ của Giáo Hội phải được nói đến trong trường hợp này,
là duy tŕ cử hành phụng vụ Lời Chúa, được hướng dẫn bởi một phó tế hay một
vị lănh đạo cộng đoàn mà tác vụ này được năng quyền chính thức uỷ nhiệm, và
được thi hành theo một nghi thức riêng do các Hội Đồng Giám Mục soạn thảo và
chuẩn nhận cho mục đích đó. (212) Tôi lặp lại rằng chỉ các vị Thường Quyền
mới được cho phép việc trao ḿnh Chúa trong những buổi phụng vụ như thế,
trong khi cẩn thận cứu xét sự cần thiết phải chọn lựa như thế nào đó. Hơn
nữa, cần phải chắc chắn rằng những cộng đoàn này không gây ra sự hiểu lầm về
vai tṛ thiết yếu của linh mục cũng như các bí tích trong đời sống Giáo Hội.
Tầm quan trọng của vai tṛ người giáo dân rất đáng tạ ơn v́ ḷng quảng đại
phục vụ các cộng đoàn của họ, nhưng không bao giờ được che khuất sứ mệnh
thiết yếu của linh mục trong đời sống của Giáo Hội. (213) Bởi đó cần phải
quan tâm bảo đảm rằng những cộng đoàn thiếu vắng linh mục như thế không gây
ra những quan điểm giáo hội học không phù hợp với sự thật Tin Mừng và truyền
thống Giáo Hội. Đúng hơn, họ hăy dành riêng những giờ cầu nguyện với Chúa,
xin Người gửi các linh mục thánh thiện theo ḷng Người thương xót. Về điểm
này, thật là xúc động khi đọc những lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong
Thư gửi các Linh mục của ngài vào Thứ Năm Tuần Thánh năm 1979, nhắc đến
những nơi mà các tín hữu, do bởi chế đọ độc tài, không có linh mục, đă gặp
nhau trong một nhà thờ hay một pḥng thánh, đặt trên bàn thờ một dây các
phép mà họ c̣n giữ được, rồi cùng đọc kinh phụng vụ Thánh Thể, dừng lại
trong thinh lặng “ở chỗ liên quan đến sự biến thể” như một dấu chỉ “họ tha
thiết ước ao chừng nào được nghe những lời mà chỉ môi miệng linh mục mới có
thể đọc lên một cách thành sự.” (214) Nhớ măi điều này, cũng như xét đến
những lợi ích vô song phát sinh từ việc cử hành Bí tích thánh Thể, tôi mong
muốn tất cả các linh mục hăy sẵn ḷng và hết sức thường xuyên có thể thăm
viếng các cộng đoàn đă được trao cho các ngài chăm sóc, kẻo họ phải chờ đợi
quá lâu mà không được đón nhận Bí tích t́nh yêu.
Một mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô,
thuộc về Giáo Hội
76. Sự quan trọng của Chúa Nhật như Ngày của
Giáo Hội (Dies Ecclesiae) đưa chúng ta trở lại với tương quan nội tại giữa
sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên tội lỗi và sự chết, và địa vị chúng ta
thuộc về thân thể Giáo Hội của Người. Vào Ngày của Chúa, mỗi Kitô hữu lại
khám phá thấy chiều kích cộng đoàn của đời sống họ như một đời sống đă được
cứu chuộc. Tham dự vào phụng vụ và rước Ḿnh và Máu Chúa Kitô tăng cường và
đào sâu địa vị của chúng ta thuộc về Đấng đă chết cho chúng ta (x. 1 Cr 6,
19; 7, 23). Thật thế, kẻ ăn Chúa Kitô phải sống cho Người. Mầu nhiệm Thánh
Thể giúp chúng ta hiểu rơ ư nghĩa của sự hiệp thông các thánh (communio
sanctorum). Hiệp thông bao giờ cũng mang cả hai nghĩa, chiều dọc và chiều
ngang, không tách biệt: hiệp thông với Chúa và hiệp thông với anh chị em
chúng ta. Cả hai chiều kích này hội tụ một cách mầu nhiệm trong hồng ân
Thánh Thể. “Ở đâu mất sự hiệp thông với Chúa, nghĩa là hiệp thông với Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, th́ nguồn gốc và nguồn mạch cho sự hiệp
thông của chúng ta với người khác cũng tiêu tan. Và ở đâu chúng ta không
sống hiệp thông với nhau, th́ sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi cũng mất
sinh khí và vô thực.” (215) Được kêu gọi để trở thành phần tử của Chúa Kitô
và phần tử của nhau (x. 1 Cr 12, 27), chúng ta hợp thành một thực thể được
xây dựng một cách huyền nhiệm trên Bí tích Thánh Tẩy và được nuôi dưỡng bởi
Bí tích Thánh Thể, một thực thể đ̣i phải có sự thể hiện hữu h́nh trong đời
sống cộng đoàn của chúng ta.
Mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô chắc
chắn là h́nh thức giáo hội và cộng đoàn. Qua Giáo phận và giáo xứ, là những
cơ cấu căn bản của Giáo Hội trong một lănh thổ riêng, mỗi người tín hữu cảm
nhận một cách cụ thể được là thành viên của Thân Ḿnh Chúa Kitô nghĩa là ǵ.
Những hội đoàn, những phong trào Giáo Hội và những cộng đồng mới – với những
đặc sủng đầy sức sống do Chúa Thánh Thần ban xuống cho nhu cầu của thời đại
chúng ta- cùng với các Ḍng Tu, đều có trách nhiệm riêng để gíup cho người
tín hữu ư thức rằng họ thuộc về Chúa (x. Rm 14, 8). Phong trào tục hoá, mà
đặc tính của nó là nhấn mạnh vào chủ thuyết cá nhân, đă gây ra những hệ quả
tiêu cực nhất trên các cá nhân, làm cho họ sống tách biệt v́ mất ư thức
thuộc về. Kitô giáo, ngay từ lúc khai nguyên, luôn mang ư nghĩa của tính
đồng liêu, một sự kết nối các tương quan thường xuyên được củng cố qua việc
lắng nghe Lời Chúa và tham dự vào Bí tích thánh Thể, và được thêm sức sống
nhờ Chúa Thánh Thần.
Linh đạo và văn hoá Thánh Thể
77. Một cách thật có ư nghĩa, các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng Gíam Mục phát biểu rằng “người tín hữu Kitô cần hiểu rơ hơn
tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và cuộc sống thường ngày của họ. Linh đạo
Thánh Thể không chỉ là tham dự Thánh Lễ và viếng Thánh Thể. Nó bao trùm toàn
bộ đời sống.” (216) Nhận định này thật là thấu suốt đối với hoàn cảnh của
chúng ta hôm nay. Cần phải nhận thức rằng một trong những ảnh hưởng nghiêm
trọng nhất của sự tục hoá vừa đề cập đến là nó giới hạn đức tin Kitô giáo
vào bờ ŕa của cuộc sống như thể không liên quan ǵ đến cuộc sống cụ thể
hằng ngày. Sự vô dụng của một lối sống “như thể Thiên Chúa không hiện hữu”
ngày nay đă quá hiển nhiên đối với chúng ta. Ngày hôm nay cần phải nh́n nhận
lại rằng Chúa Giêsu Kitô không chỉ là sự xác tín cá nhân hay một ư tưởng
trừu tượng, nhưng là một người thực, mà việc Người trở nên thành phần của
lịch sử nhân loại có khả năng đổi mới mọi người. Bởi đó, Bí tích Thánh Thể,
nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội phải được diễn
giải trong một linh đạo, thành đời sống sống “theo Thánh Thần” (Rm 8, 4 tt;
x. Gl 5, 16, 25). Thât là ư nghĩa khi Thánh Phaolô, trong một đoạn của Thư
gửi Tín Hữu Rôma mời gọi các thính giả của ngài sống sự thờ phượng mới theo
tinh thần, ngài cũng nói đến sự cần thiết phải thay đổi cách sống và cách
suy nghĩ của họ: “Anh em đừng rập theo đời này, nhưng hăy cải biến con người
anh em bằng cách đổi mới tâm thần anh em, hầu có thể nhận ra đâu là ư Thiên
Chúa: cái ǵ là tốt, cái ǵ đẹp ḷng Chúa, cái ǵ hoàn hảo” (12, 2). Bằng
cách đó, vị Tông Đồ Dân Ngoại nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa sự thờ phượng
đích thật theo tinh thần và sự cần thiết phải có một cách thế mới để thấu
hiểu và sống cuộc sống của ḿnh. Một phần hoàn chỉnh của mô thức Thánh Thể
của đời sống Kitô là một cách thế suy nghĩ mới: “để chúng ta sẽ không c̣n là
những trẻ nhỏ bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lí” (Ep 4, 14).
Bí tích Thánh Thể và sự rao giảng Tin Mừng
cho các nền văn hoá
78. Từ những ǵ đă được nói đến trên đây th́
hiển nhiên là mầu nhiệm Thánh Thể đặt chúng ta vào cuộc đối thoại với những
nền văn hoá khác nhau, nhưng cũng theo một nghĩa nào đó, thách đố chúng.
(217) Đặc tính liên văn hoá của sự thờ phượng mới này, logiké latreía, cần
phải được nhận biết. Sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô và sự tuôn đổ Chúa
Thánh Thần là những biến cố có khả năng thu hút mọi thực tại văn hoá và đưa
vào đó men Tin Mừng. Tiếp theo là chúng ta phải dấn thân xúc tiến công cuộc
Tin mừng hoá các nền văn hoá, với ư thức rằng chính Chúa Kitô là sự thật cho
mọi người, và cho toàn thể lịch sử nhân loại. Bí tích Thánh Thể trở thành
một tiêu chuẩn để chúng ta đánh giá tất cả những ǵ mà Kitô giáo gặp thấy
trong những nền văn hoá khác nhau. Trong tiến tŕnh phân định quan trọng
này, chúng ta phải hiểu rơ ư nghĩa lời thúc giục của Thánh Phaolô trong Thư
Thứ Nhất gửi Tín Hữu Thessalônica, “hăy cân nhắc mọi sự; điều ǵ tốt th́
giữ” (5, 21).
Bí tích Thánh Thể và tín hữu giáo dân
79. Trong Chúa Kitô, Đầu của Giáo Hội là
Thân Ḿnh Người, mọi Kitô hữu là “một giống ṇi được tuyển chọn, là hàng tư
tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những
ḱ công của Người” (1 Pr 2, 9). Bí tích Thánh Thể, như một mầu nhiệm để
sống, được trao ban cho mỗi người chúng ta như chúng ta đang là, làm cho
cuộc sống cụ thể của chúng ta trở thành một nơi mà hằng ngày chúng ta cảm
nghiệm được tính mới mẻ triệt để của đời sống Kitô. Hi tế Thánh Thể nuôi
dưỡng và tăng cường nơi chúng ta tất cả những ǵ chúng ta đă nhận lănh trong
Bí tích Thánh Tẩy, mà qua đó chúng ta được mời gọi nên thánh, (218) và điều
này phải được thể hiện một cách trong suốt trong những hoàn cảnh mà mỗi Kitô
hữu sống cuộc sống của ḿnh. Hằng ngày chúng ta trở nên “một sự thờ phượng
đẹp ḷng Thiên Chúa” bằng cách sống đời sống của chúng ta như một ơn gọi.
Bắt đầu từ cộng đoàn phụng vụ, chính Bí tích Thánh Thể thúc giục chúng ta,
trong cuộc sống thường ngày, làm mọi sự v́ vinh quang Thiên Chúa.
Và bởi v́ trần thế này là “cánh đồng” (Mt
13, 38) trong đó Thiên Chúa gieo trồng con cái Người như hạt giống tốt, là
người giáo dân Kitô, qua Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức đă lănh nhận, họ được
thêm sức mạnh nhờ Bí tích Thánh Thể và được kêu gọi để sống tính mới mẻ
triệt để mà Chúa Kitô mang đến, ở bất cứ đâu họ hiện diện. (219) Họ phải vun
trồng một niềm ao ước rằng Thánh Thể phải tạo được hiệu qủa sâu xa hơn vào
trong cuộc sống thường ngày của họ, làm cho họ trở thành những chứng nhân
thuyết phục trong môi trường làm việc cũng như trong tất cả môi trường xă
hội. (220) Tôi khuyến khích các gia đ́nh hăy đặc biệt kín múc niềm cảm hứng
và sức mạnh trong Bí tích này. T́nh yêu giữa người nam và người nữ, sự rộng
mở đón nhận sự sống, và việc giáo dục con cái là những nơi chốn ưu tiên Bí
tích Thánh Thể có thể tỏ lộ quyền năng biến đổi và đem đến cho nó ư nghĩa
tṛn đầy. (221) Các mục tử của Giáo Hội phải không ngừng đỡ nâng, hướng dẫn
cũng như khích lệ các tín hữu giáo dân sống trọn vẹn ơn gọi nên thánh của họ
trong thế giới này, thế giới mà Thiên Chúa tha thiết yêu thương đến nỗi đă
sai Con của Người đến cứu chuộc nó.
Bí tích Thánh Thể và linh đạo linh mục
80. H́nh thái Thánh Thể của đời sống Kitô
được thể hiện một cách rất đặc biệt trong chức linh mục. Linh đạo linh mục
tự bản chất là Thánh Thể. Những hạt mầm của nền linh đạo này đă được nhận
thấy rơ trong những lời mà Đức Giám Mục nói trong phụng vụ Bí tích Truyền
Chức: “Con hăy nhận lễ vật của dân thánh mà dâng lên Thiên Chúa. Con hăy ư
thức việc con làm, noi theo điều con thực hiện, và rập đời sống con theo mầu
nhiệm Thánh Giá Chúa.” (222) Để đem lại một mô thức Thánh Thể rơ nét hơn cho
cuộc đời ḿnh, linh mục, ngay từ những năm c̣n trong chủng viện phải xây
dựng đời sống thiêng liêng của ḿnh như một ưu tiên cao nhất. Ngài được kêu
gọi để t́m kiếm Thiên Chúa một cách liên lỉ, trong khi vẫn hằng quan tâm
hướng về các anh chị em của ḿnh. Một đời sống thiêng liêng mănh liệt sẽ
giúp ngài đi vào hiệp thông sâu xa hơn với Chúa, đồng thời giúp ngài để cho
ḿnh được t́nh yêu của Thiên Chúa chiếm hữu, hầu làm chứng cho t́nh yêu ấy
qua mọi thời gian, dẫu gặp những lúc đen tối nhất và khó khăn nhất. Trong
chủ đích đó, tôi hợp với các Nghị Phụ để nhắc nhở linh mục “cử hành Thánh Lễ
mỗi ngày, dù khi không có tín hữu tham dự.” (224) Lời nhắn nhủ này phù hợp
một cách khách quan với giá trị vô biên của mỗi cuộc cử hành Bí tích Thánh
Thể, và c̣n được thôi thúc bởi hiệu quả thiêng liêng duy nhất của Thánh Lễ.
Nếu được cử hành một cách chăm chú và với đức tin sống động, Thánh Lễ xây
dựng đời sống thiêng liêng theo nghĩa sâu xa nhất của từ ngữ, bởi v́ Thánh
Lễ nuôi dưỡng sự rập khuôn theo Chúa Kitô của linh mục đồng thời củng cố ơn
gọi của ngài.
Bí tích Thánh Thể và đời sống thánh hiến
81. Tương quan giữa Bí tích Thánh Thể với
những ơn gọi khác nhau trong Giáo Hội được nh́n thấy một cách đặc biệt sống
động trong “chứng tá tiên tri của các tu sĩ nam nữ, những người t́m thấy
trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể và trong việc tôn sùng Thánh Thể sức
mạnh thiết yếu cho ơn gọi bước theo Chúa Kitô một cách triệt để, vâng phục,
thanh bần, và khiết tịnh.” (225) Dù phục vụ trong nhiều lănh vực khác nhau
như đào tạo nhân sự và chăm sóc người nghèo, giáo dục và y tế, các tu sĩ nam
nữ đều nhận biết rằng cứu cánh cuộc đời họ là “chiêm ngắm những sự thiêng
liêng và kết hợp liên lỉ với Chúa trong cầu nguyện.” (226) Sự đóng góp chủ
yếu mà Giáo Hội chờ mong nơi những tu sĩ ấy, là để hiện diện hơn là để hành
động. Ở đây tôi muốn tái khẳng định sự quan trọng của chứng tá về đức trinh
khiết, đích thực liên quan đến mầu nhiệm Thánh Thể. Ngoài việc liên hệ đến
sự độc thân linh mục, mầu nhiệm Thánh Thể cũng liên hệ một cách nội tại với
đức khiết tịnh của tu sĩ, bởi v́ nó diễn tả sự dâng hiến trọn vẹn của Giáo
Hội cho Chúa Kitô, Đấng mà Giáo Hội đón nhận như Hôn Phu của ḿnh với ḷng
trung tín triệt để, dạt dào. (227) Trong Bí tích Thánh Thể, đức khiết tịnh
của tu sĩ t́m được nguồn cảm hứng cũng như dưỡng chất cho sự toàn hiến dành
cho Chúa Kitô. Hơn nữa, từ Bí tích Thánh Thể, đức khiết tịnh kín múc được ơn
can đảm và sức mạnh để trở thành dấu chỉ t́nh yêu ban không và dạt dào của
Thiên Chúa dành cho nhân loại, trong chính thời đại của chúng ta. Cuối cùng,
bởi chứng tá đặc thù của nó, đời sống thánh hiến trở thành một dấu chỉ hiển
nhiên và tiên báo về “tiệc cưới của Con Chiên” (Kh 19, 7- 9), là chung điểm
của toàn bộ lịch sử cứu chuộc. Theo nghĩa này, đức khiết tịnh hướng về chân
trời cánh chung, mà nơi đó, mỗi con người phải định hướng cho những chọn lựa
và những quyết định liên quan đến cuộc đời ḿnh.
Bí tích Thánh Thể và sự biến đổi luân lí
82. Khi khám phá thấy vẻ đẹp của mô thức
Thánh Thể của đời sống Kitô, chúng ta cũng được tiến dẫn để suy tư về năng
lực luân lí do Bí tích Thánh Thể hoạt động để nâng đỡ sự tự do đích thực của
con cái Thiên Chúa. Ở đây tôi muốn lấy lại sự thảo luận đă diễn ra trong
Thượng Hội Nghị về tương quan giữa mô thức Thánh Thể của đời sống và sự cải
đổi luân lí. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho rằng đời sống luân lí “có
giá trị của một ‘sự thờ phượng thiêng liêng’ (Rm 12, 1; x. Pl 3, 3), khơi
nguồn và được nuôi dưỡng bởi nguồn suối bất tận của sự thánh thiện và vinh
quang của Thiên Chúa, có sẵn trong các Bí tích, nhất là trong Bí tích Thánh
Thể: bằng cách tham dự vào hiến tế Thập Giá, các Kitô hữu thông phần vào
t́nh yêu tự hiến của Chúa Kitô, họ được trang bị và thôi thúc để sống đức ái
duy nhất đó trong tất cả suy nghĩ và hành động của ḿnh” (228). Tắt một lời,
“ chính sự ’thờ phượng’, sự hiệp thông Thánh Thể, bao gồm một thực tại vừa
được yêu và vừa có bổn phận yêu thương tha nhân. Một Bí tích Thánh Thể mà
không quy về việc thực hành yêu thương thực tiễn thật sự chỉ là vụn vặt”
(229).
Lời nhắc nhở về giá trị luân lí của sự thờ
phượng trong tinh thần không được diễn giải chỉ theo cách thức luân lí. Trên
tất cả mọi sự th́ đó là một sự khám phá đầy vui mừng về t́nh yêu đang hoạt
động nơi tâm hồn những người mà khi đón nhận ơn Chúa, đă từ bỏ chính ḿnh
cho Người và t́m được tự do đích thực. Sự biến đổi luân lí hàm ẩn trong sự
thờ phượng mới do Chúa Kitô thiết lập là một khao khát nung nấu muốn đáp lại
t́nh Chúa yêu với tất cả con người ḿnh, dù vẫn luôn ư thức về sự yếu đuối
của ḿnh. Sau khi đón Chúa vào nhà ḿnh, người thu thuế hoàn toàn được biến
đổi: ông quyết định bố thí môt nửa tài sản của ḿnh cho người nghèo và đền
trả gấp bốn lần những người ông đă tước đoạt. Sự thúc bách về luân lí xuất
phát từ cuộc đón tiếp Chúa Giêsu đi vào đời sống chúng ta là kết quả của
ḷng biết ơn v́ đă cảm nghiệm được ở gần cận Chúa Giêsu mà chúng ta chẳng
bao giờ xứng đáng.
Tích công khai của Bí tích Thánh Thể
83. Ở đây thật là quan trọng để nêu ra điều
mà các Nghị Phụ đă gọi là tính công khai của Bí tích Thánh Thể, một phẩm
chất mà cuộc đời chúng ta được kêu gọi môt cách thực sự để đảm nhận. Sự thờ
phượng đẹp ḷng Thiên Chúa chẳng bao giờ là một chuyện riêng tư mà không tạo
ra những hệ quả đối với những tương quan của chúng ta với người khác: nó đ̣i
hỏi chứng ta công khai cho đức tin của chúng ta. Hẳn nhiên, điều này là xác
đáng cho tất cả những người đă được rửa tội, tuy nhiên điều này đăt ra trách
nhiệm đặc biệt đối với những người mà do vai tṛ xă hội và chính trị của họ,
phải đưa ra những quyết định nền tảng, chẳng hạn việc tôn trọng sự sống con
người, phải bảo vệ từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, gia đ́nh xây
dựng trên hôn nhân một người nam và một người nữ, sự tự do giáo dục con cái
và việc cổ xuư thiện ích chung trong mọi h́nh thức (230). Những giá trị này
là không thể thoả hiệp. Do đó, các chính trị gia và luật gia Công Giáo, ư
thức trách nhiệm nặng nề của ḿnh trước xă hội, phải cảm thấy bị ràng buộc,
trên nền tảng của một lương tâm đă được huấn luyện một cách chính đáng, phải
đưa ra cũng như ủng hộ những luật được phát động bởi những giá trị đặt trên
bản tính con người (231). Điều đó có liên hệ khách quan với Bí tích Thánh
Thể (x. 1 Cr 11, 27- 29). Các Đức Giám Muc có trách nhiệm thường xuyên nhắc
nhớ các giá trị này như một phần trách nhiêm của ḿnh đối với đoàn chiên đă
được uỷ thác cho các ngài (232).
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để loan
truyền
Bí tích Thánh Thể và truyền giáo
84. Trong bài giảng dịp cử hành Thánh Thể
long trọng để khai mạc sứ vụ Tông Toà của tôi, tôi đă nói rằng “không có ǵ
tốt đẹp hơn được ngạc nhiên bởi Tin Mừng, nhờ gặp gỡ Chúa Kitô. Không có ǵ
tốt đẹp hơn được biết Người cũng như được nói cho người khác biết về t́nh
bằng hữu của chúng ta với Người.” (233) T́nh yêu chúng ta cử hành trong Bí
tích không phải là một điều ǵ đó chúng ta có thể giữ riêng cho riêng ḿnh.
Bởi chính bản chất của nó, t́nh yêu đ̣i được chia sẻ với mọi người. Điều mà
thế giới cần chính là t́nh yêu của Thiên Chúa; thế giới cần gặp Chúa Kitô và
tin vào Người. Như thế, Bí tích Thánh Thể là nguồn mạh và đỉnh cao không chỉ
cho đời sống của Giáo Hội, nhưng c̣n cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội
nữa: “Một Giáo Hội cử hành Thánh Thể là một Giáo Hội truyền giáo.” (234)
Chúng ta cũng phải có thể nói với anh chị em chúng ta rằng: “Điều chúng tôi
đă thấy và đă nghe chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em
cũng được hiệp thông với chúng tôi” (1 Ga 1, 3). Thật vậy, không có ǵ tốt
đẹp hơn là biết Chúa Kitô và làm cho người khác nhận biết Người. Việc thiết
lập Bí tích Thánh Thể, v́ lẽ đó, báo trước chính con tim truyền giáo của
Chúa Giêsu: Người là Đấng được Chúa Cha sai đến để cứu chuộc trần gian (x.
Ga 3, 16- 17; Rm 8, 32). Trong Bữa Tiệc Li, Chúa Giêsu trối lại cho các môn
đệ của Người Bí tích mà Người hiện tại hoá hiến tế của Người, để cứu chuộc
tất cả chúng ta, trong sự tuân phục ư Chúa Cha. Chúng ta không thể tiến đến
bàn tiệc Thánh Thể mà không bị cuốn lôi vào việc truyền giáo, mở đầu từ
chính Trái Tim của Thiên Chúa, nhằm đến với mọi người. Như thế, hoạt động
truyèn giáo là một phần thiết yếu của mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô
hữu.
Bí tích Thánh Thể và việc làm chứng
85. Sứ mệnh trước tiên và nền tảng mà chúng
ta nhận được từ các mầu nhiệm thánh chúng ta cử hành, là làm chứng bằng đời
sống của chúng ta. Sự sửng sốt mà chúng ta cảm nghiệm trước hồng ân Thiên
Chúa đă ban cho chúng ta trong Chúa Kitô tạo động lực mới cho cuộc đời chúng
ta, cũng như thúc giục chúng ta trở nên chứng nhân cho t́nh yêu của Người.
Chúng ta trở nên chứng nhân khi qua hành động, lời nói và cách sống của
chúng ta, Một Người Khác được hiện diện. Việc làm chứng có thể được diễn tả
như một phương thế mà qua đó sự thật về t́nh yêu của Thiên Chúa đến với con
người trong lịch sử, mời gọi họ tự do đón nhận tính mới mẻ triệt để. Qua
việc làm chứng, chúng ta có thể nói, Thiên Chúa để cho chính Người mở ra
trước mối nguy của sự tự do của con người. Chính Chúa Giêsu là chứng nhân
trung thành và chính thực (x. Kh 1, 5; 3, 14), là Đấng đă đến để làm chứng
cho sự thật (x. Ga 18, 37). Tại đây tôi muốn suy nghĩ về một quan niệm rất
thân thương đối với các Kitô hữu thời sơ khai, nhưng cũng nói cho chúng ta
hôm nay một cách rất hùng hồn: đó là, làm chứng đến độ hi sinh chính sự sống
ḿnh, đến mức tử đạo. Trải qua lịch sử Giáo Hội, điều này đă luôn được nh́n
nhận như là đỉnh cao của sự thờ phượng mới: “Hăy hiến dâng thân ḿnh anh em”
(Rm 12, 1). Chẳng hạn, người ta có thể suy nghĩ về tŕnh thuật cuộc tử đạo
của Thánh Pôlycarpô thành Smyrna, một đồ đệ của Thánh Gioan: tất cả bi kịch
được mô tả như một buổi phụng vụ, mà chính vị tử đạo ước muốn trở nên bánh
Thánh Thể. (235) Chúng ta cũng có thể gợi lại những h́nh ảnh của Bí tích
Thánh Thể mà thánh Ignatiô thành Antiôkia dùng để nói về sự tử đạo của chính
ngài: ngài coi ḿnh như “hạt lúa ḿ của Chúa” và ước muốn qua ơn tử đạo,
được trở nên “bánh tinh tuyền của Chúa Kitô.” (236) Kitô hữu hiến dâng sự
sống ḿnh để chịu tử đạo, được hiệp thông trọn vẹn với cuộc Vượt Qua của
Chúa Giêsu Kitô và như vậy, trở nên Thánh Thể cùng Người. Ngày hôm nay cũng
thế, Giáo Hội không thiếu những vị tử đạo đă làm chứng cao nhất cho t́nh yêu
Thiên Chúa. Dù sự thử thách của ơn tử đạo không đ̣i hỏi chúng ta, chúng ta
biết rằng sự thờ phượng đẹp ḷng Thiên Chúa buộc chúng ta chuẩn bị tâm hồn
cho điều đó. (237) Sự thờ phượng như thế vươn đến một chứng tá sống động và
thuyết phục về một đời sống Kitô kiên cường, bất cứ đâu Chúa mời gọi chúng
ta làm chứng nhân cho Người.
Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất
86. Nhấn mạnh đến tương quan giữa Bí tích
Thánh Thể và truyền giáo cũng dẫn đến một sự tái khám phá về nội dung căn
bản của việc loan báo của chúng ta. T́nh yêu đối với Bí tích Thánh Thể
trong tâm hồn dân Kitô giáo càng nồng nàn, họ sẽ càng nhận thức một cách rơ
rệt rằng mục đích của truyền giáo là đem Chúa Kitô đến cho người khác. Đó
không phải chỉ là một lí thuyết hay một cách sống được Chúa Kitô khơi dậy,
nhưng là một ơn ban chính Người. Ai không chia sẻ sự thật về t́nh yêu với
anh chị em của ḿnh th́ chưa cho đi đủ. Bí tích Thánh Thể, Bí tích của ơn
cứu chuộc chúng ta, chắc chắn nhắc nhở chúng ta về tính duy nhất của Chúa
Kitô và ơn cứu chuộc của Người thực hiện cho chúng ta nhờ máu Người. Mầu
nhiệm Thánh Thể, để tin và để cử hành đ̣i phải thường xuyên dạy giáo lí cho
mọi người về việc dấn thân truyền giáo mà trọng tâm là loan báo về Chúa
Giêsu như Đấng Cứu Chuộc duy nhất. (238) Điều đó sẽ giúp chúng ta tránh được
một sự hiểu biết giản lược và có tính cách thuần tuư xă hội về việc thăng
tiến con người bao hàm trong mỗi tiến tŕnh rao giảng Tin Mừng đích thực.
Tự do thờ phượng
87. Trong tinh thần đó, tôi muốn nhắc lại
những quan tâm đă được các Nghị Phụ bày tỏ về những khó khăn nghiêm trọng đè
nặng trên công cuộc truyền giáo cho những cộng đồng Kitô giáo trong những
miền mà người Kitô chỉ là thiểu số hoặc họ không được công nhận tự do tôn
giáo. (239) Chắc chắn chúng ta phải tạ ơn Chúa v́ các Giám Mục, linh mục, tu
sĩ và giáo dân hi sinh bản thân một cách quảng đại để rao giảng Tin Mừng và
thực hành đức tin cho dẫu sự sống bị lâm nguy. Chẳng phải ít nơi trên thế
giới, chỉ việc đi đến nhà thờ cũng đă tỏ ra là một chứng tá anh hùng bởi v́
điều đó có thể dẫn tới việc bị đặt ra ngoài ŕa hoặc bị xâm hại. Ở đây tôi
muốn tái khẳng định sự liên đới của toàn thể Giáo Hội với những người bị
khước từ tự do thờ phượng. Như chúng ta biết, ở bất cứ đâu thiếu tự do tôn
giáo th́ con người sẽ thiếu sự tự do ư nghĩa nhất đối với mọi sự, bởi v́
chính qua đức tin mà con người bày tỏ quyết định sâu xa nhất của ư nghĩa tối
hậu về cuộc đời họ. Bởi đó, chúng ta hăy cầu nguyện cho mọi quốc gia có tự
do tôn giáo rộng răi hơn, để các Kitô hữu cũng như những tín đồ của các tôn
giáo khác, có thể tự do bày tỏ các xác tín của họ, cả về mặt cá nhân và cộng
đồng.
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để trao cho
thế giới
Thánh Thể, tấm bánh bẻ ra cho sự sống trần
gian
88. “Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi đây,
để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51). Qua những lời này, Chúa mặc khải ư
nghĩa đích thực của việc trao hiến sự sống của Người cho hết thảy mọi người.
Những lời này cũng tỏ lộ ḷng cảm thương sâu xa của Người cho mỗi con người.
Các sách Tin Mừng thường nói đến cảm xúc của Chúa Giêsu đối với con người,
nhất là đối với những ai đau khổ và tội lỗi (x. Mt 20, 34; Mc 6, 34; Lc 19
41). Qua t́nh cảm rất con người như thế, Người tỏ bày ư muốn cứu chuộc của
Thiên Chúa cho mọi người- để họ có sự sống đích thực. Mỗi cuộc cử hành Thánh
Thể hiện tại hoá một cách bí tích ân huệ mà Chúa chịu đóng đinh thực hiện
bằng sự sống của Người cho chúng ta và cho toàn thế giới. Trong Bí tích
Thánh Thể Chúa Giêsu cũng làm cho chúng ta trở nên chứng nhân của ḷng
thương xót của Thiên Chúa đối với tất cả anh chị em chúng ta. Như thế, mầu
nhiệm Thánh Thể khơi dậy ḷng bác ái đối với tha nhân, vốn “hệ tại chính
điều này là, trong Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa, tôi yêu người thân cận
cả khi tôi không thích hoặc không biết người đó. Điều này chỉ có thể xảy ra
từ cuộc gặp gỡ thâm sâu với Thiên Chúa, một sự gặp gỡ trở thành hiệp thông ư
muốn và tác động vào t́nh cảm. Bấy giờ tôi học cách nh́n người khác không
phải chỉ bằng con mắt và t́nh cảm của riêng tôi, nhưng từ nhăn giới của
Chúa Giêsu.” (240) Trong những người tôi gặp, tôi nhận ra anh chị em là
những người mà Chúa đă hi sinh sự sống của Người khi yêu họ “cho đến cùng”
(Ga 13, 1). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể, những cộng đồng của chúng ta phải
càng ngày càng ư thức rằng hiến tế của Chúa Kitô là cho mọi người, và như
thế, Bí tích Thánh Thể thúc đẩy mọi kẻ tin vào Người trở thành “bánh được bẻ
ra” cho người khác, và nỗ lực để xây dựng một thế giới công bằng hơn, huynh
đệ hơn. Suy niệm về phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều, chúng ta cần phải tâm
niệm rằng, ngày nay Chúa Kitô vẫn c̣n hối thúc các môn đệ của Người đích
thân nhập cuộc: “Chính anh em hăy cho họ ăn” (Mt 14, 16). Mỗi người chúng ta
thật sự được kêu gọi cùng với Chúa Giêsu trở thành tấm bánh được bẻ ra cho
sự sống trần gian.
Những ràng buộc xă hội của mầu nhiệm Thánh
Thể
89. Kết hiệp với Chúa Kitô trong Bí tích
Thánh Thể cũng mang đến cho những tương quan xă hội một sự mới mẻ: “‘huyền
nhiệm’ Bí tích” này mang một đặc tính xă hội.” Thật vậy, “kết hiệp với Chúa
Kitô cũng là sự liên kết với tất cả những ai mà Người đă tự hiến cho, hoặc
những ai sẽ trở nên những kẻ thuộc về Người.” (214) Bí tích Thánh Thể là Bí
tích của sự hiệp thông giữa các anh chị em, những người để cho ḿnh được hoà
giải trong Chúa Kitô, Đấng đă kết hợp những người Do Thái và dân ngoại nên
một dân tộc, khi phá bỏ bức tường của sự thù hận ngăn cách họ (x. Ep 2, 14).
Chỉ thường xuyên hướng về hoà giải mới giúp chúng ta tham dự một cách xứng
đáng vào Ḿnh và Máu Chúa Kitô (Mt 5, 23- 24). (242) Khi tưởng niệm hiến tế
của Chúa, Người củng cố t́nh hiệp thông huynh đệ của chúng ta, và một cách
đặc biệt, hối thúc những ai c̣n đang xung đột, hăy mau hoà giải bằng cách mở
rộng ḷng ra để đối thoại và dấn thân phục vụ công lí. Chắc chắn, sự tái lập
công lí, hoà giải và tha thứ là những điều kiện cho việc xây dựng một nền
hoà b́nh đích thực. (243) Qua việc chu toàn trách nhiệm này một cách thiết
thực, Bí tích Thánh Thể sẽ trở nên trong đời sống điều mà bí tích này hàm
chứa trong việc cử hành. Như tôi đă có dịp nhắc đến, Giáo Hội không có phận
sự riêng phải hết sức có thể dấn thân vào hoạt động chính trị để xây dựng
một xă hội công bằng; tuy nhiên, Giáo Hội không thể và không được đứng ngoài
ŕa trong cuộc tranh đấu cho công bằng. Giáo Hội “phải đóng vai tṛ của ḿnh
bằng con đường lí luận dựa theo lí trí và phải đánh thức sức mạnh tinh thần
, mà nếu không có sức mạnh đó th́ sự công bằng, vốn luôn đ̣i hỏi sự hi sinh,
không thể được thực thi và phát triển.” (244)
Trong khi thảo luận về trách nhiệm xă hội
của mọi Kitô hữu, các Nghị Phụ ghi nhận rằng sự tự hiến của Chúa Kitô là một
mầu nhiệm giải phóng luôn thôi thúc chúng ta. Bơi vậy tôi thúc giục mọi tín
hữu hăy trở thành những người xây dựng hoà b́nh và công lí đích thực: “Mọi
người tham dự vào Bí tích Thánh Thể phải dấn thân xây dựng hoà b́nh trong
thế giới chúng ta, một thế giới đă bị bầm dập v́ bạo lực và chiến tranh, và
đặc biệt ngày nay, do chủ nghĩa khủng bố, tham nhũng kinh tế và nạn khai
thác t́nh dục.” (245) Tất cả những vấn nạn này đến lượt nó, lại khơi ra
những vấn đề khác không kém nhiễu nhương và nhẫn tâm. Chúng ta biết rằng
không thể giải quyết những vấn đề này một cách phiến diện. Chính bởi mầu
nhiệm chúng ta cử hành mà chúng ta phải tố giác những hoàn cảnh đi ngược lại
với phẩm giá của con người, mà v́ họ, Chúa Kitô đă đổ máu ḿnh ra để khẳng
định giá trị cao vượt của mỗi con người.
Lương thực sự thật và nhu cầu của con người
90. Chúng ta không thể cứ măi thụ động trước
những tiến tŕnh toàn cầu hoá vốn luôn tạo ra sự cách biệt giàu nghèo trên
tầm mức quốc tế. Chúng ta phải tố giác những kẻ hoang phí của cải trên trái
đất, tạo ra những bất b́nh đẳng đă thấu tới trời (x. Gc 5, 4). Chẳng hạn,
không c̣n có thể câm lặng trước “những h́nh ảnh nhức nhối về những xóm trại
khổng lồ rải rác khắp nơi trên thế giới tập trung người di cư và người tị
nạn, những người đang sống trong t́nh trạng tạm cư để thoát khỏi số phận tệ
hại hơn, cần đến những nhu cầu khẩn cấp. Những người này lại không phải là
anh chị em của chúng ta hay sao? Các con cái của họ sinh ra trong thế giới
này không có cùng những hoài băo chính đáng là được hưởng hạnh phúc như các
trẻ em khác hay sao?” (246) Chúa Giêsu, tấm bánh của sự sống vĩnh cửu thúc
giục chúng ta quan tâm đến những hoàn cảnh của t́nh trạng nghèo đói cùng
cực, nơi một số đông nhân loại vẫn c̣n đang sống: đây là những t́nh trạng
mà trách nhiệm đương nhiên đ̣i mọi người phải bức xúc đảm nhận. Quả thật,
“trên căn bản những dữ kiện thống kê hiện có, người ta có thể khẳng định
rằng gần một nửa số tiền khổng lồ dành cho việc vũ trang trên toàn cầu dư đủ
để giải phóng những khối đông dân nghèo thoát khỏi cảnh cùng cực. Điều này
thách thức lương tâm nhân loại. Đối với những người sống dưới mức nghèo khổ,
là do hệ quả của những t́nh h́nh liên quan đến những tương quan chính trị,
kinh tế và văn hoá quốc tế hơn là do những hoàn cảnh không kiểm soát được,
sự dấn thân chung của chúng ta cho sự thật phải mang lại cho họ một niềm hi
vọng mới” (247).
Lương thực sự thật đ̣i hỏi chúng ta phải tố
giác những t́nh trạng vô nhân đạo trong đó nhiều người phải chết đói do
những bất công và bóc lột, và lương thực ấy đem lại cho chúng ta sức mạnh
mới và sự can đảm để không ngừng phục vụ cho nền văn minh t́nh thương. Ngay
từ lúc khai nguyên, các Kitô hữu đă quan tâm chia sẻ của cải ḿnh (x. Cv 4,
42) và gíup đỡ những người nghèo túng (x. Rm 15, 26). Những của bố thí thu
góp trong các cộng đoàn phụng vụ là một điều nhắc nhớ rất rơ về việc đó,
những của từ thiện đó cũng thật cần thiết để đáp ứng những nhu cầu hiện tại.
Những tổ chức bác ái của Giáo Hội, đặc biệt Caritas đă thực hiện công tác
cứu giúp những người thiếu thốn nghèo túng ở những cấp độ khác nhau. Được
gợi hứng từ Thánh Thể, Bí tích t́nh yêu, họ trở nên một sự diễn tả cụ thể
t́nh yêu ấy; họ được tán dương và cổ vũ v́ dấn thân phục vụ sự liên đới
trong thế giới của chúng ta.
Giáo huấn xă hội của Giáo Hội
91. Mầu nhiệm Thánh Thể khơi gợi và thúc đẩy
chúng ta dấn thân một cách can đảm vào trong thế giới của chúng ta để đem
đến một sự đổi mới các tương quan, sự đổi mới ấy đón nhận nguồn mạch bất
tận từ ân huệ của Thiên Chúa. Lời kinh mà chúng ta lặp lại trong mỗi Thánh
Lễ: “Xin cho chúng con lương thực hằng ngày,” buộc chúng ta phải làm mọi sự
có thể, hợp tác với các tổ chức quốc tế, quốc gia và tư nhân, để chấm dứt
hoặc ít nhất làm giảm sự ô nhục của nghèo đói và suy dinh dưỡng ảnh hưởng
đến rất nhiều triệu người trong thế giới chúng ta, nhất là tại những quốc
gia đang phát triển. Một cách đặc biệt, các Kitô hữu giáo dân được đào tạo
tại trường học Thánh Thể, được kêu gọi để đảm nhận những trách nhiệm chính
trị và xă hội đặc biệt của ḿnh. Để chu toàn các bổn phận đó, họ cần được
chuẩn bị một cách thích hợp thông qua việc giáo dục thực tiễn trong công
bằng và bác ái. Bởi vậy, Thượng Hội Đồng Giám Mục nh́n nhận rằng các Giáo
Phận và các cộng đồng Kitô giáo cần phải dạy và đề xuất học thuyết xă hội
của Giáo Hội. (248) Trong di sản quư giá xuất phát từ truyền thống Giáo Hội
lâu đời, chúng ta t́m thấy những yếu tố của sự khôn ngoan cao vời hướng dẫn
các Kitô hữu đối diện với những vấn đề xă hội nóng bỏng hôm nay. Giáo huấn
này, kết quả của toàn bộ lịch sử của Giáo Hội, nổi bật do tính thực tế và sự
dung hoà; nó có thể giúp tránh được những sự thoả hiệp lẫm lẫn hoặc những
điều không tưởng giả dối.
Thánh hoá trần gian và bảo vệ tạo vật
92. Sau cùng, muốn phát triển một nền linh
đạo Thánh Thể thâm sâu, có thể tác động một cách ư nghĩa vào cơ cấu xă hội,
dân Kitô giáo khi cảm tạ Chúa qua Bí tích Thánh Thể, phải ư thức rằng họ
hành động như thế nhân danh toàn thể tạo vật, để như thế, thánh hoá trần
gian và nhiệt tâm làm việc cho mục tiêu đó. (249) Chính Bí tích Thánh Thể
chiếu soi lịch sử nhân loại và toàn thể vũ trụ một cách mạnh mẽ. Trong cái
nh́n Thánh Thể như vậy, ngày qua ngày chúng ta học biết rằng mỗi biến cố
Giáo Hội là một dấu chỉ qua đó Thiên Chúa tỏ hiện chính Người và thách thức
chúng ta. Như thế, mô thức Thánh Thể của đời sống có thể gíup chúng ta tạo
dưỡng một sự thay đổi thật sự trong cách tiếp cận lịch sử và tiếp cận thế
giới. Chính phụng vụ dạy chúng ta điều này, khi vào lúc dâng tiến lễ vật,
linh mục dâng lên Chúa một lời kinh tạ ơn, lời khẩn cầu trên bánh và rượu
“hoa màu ruộng đất”, “sản phẩm của cây nho” và “lao công của con người.” Với
những lời này, nghi thức không chỉ bao gồm việc tiến dâng lên Thiên Chúa mọi
nỗ lực và hoạt động của con người, mà c̣n giúp chúng ta nh́n thế giới như là
tạo vật của Thiên Chúa, đem lại cho chúng ta những ǵ chúng ta cần cho sự
sinh tồn. Thế giới không phải là một cái ǵ trung tính, một sản phẩm thô để
chúng ta cứ sử dụng theo như ḿnh thích. Đúng hơn, nó là một phần của kế
hoạch của Thiên Chúa, trong đó tất cả chúng ta được kêu gọi để trở nên con
trai và con gái trong Con duy nhất của Thiên Chúa, là Chúa Giêsu Kitô (x. Ep
1, 4- 12). Sự quan tâm chính đáng về những hiểm họa liên quan đến môi trường
diễn ra tại rất nhiều nơi trên thế giới, được gia tăng bởi niềm hi vọng KItô
giáo, thúc đẩy chúng ta hành động một cách trách nhiệm để bảo vệ tạo vật.
(250) Mối tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và vũ trụ giúp chúng ta nh́n sự
duy nhất trong chương tŕnh của Thiên Chúa, và hiểu rơ tương quan sâu xa
giữa tạo vật và “tạo vật mới” đă được khai mở trong sự phục sinh của Chúa
Kitô, Ađam mới. Và ngay từ bây giờ chúng ta tham dự vào tạo vật mới ấy nhờ
Bí tích Thánh Tẩy (Cl 2, 12 tt). Đời sống Kitô của chúng ta, được nuôi dưỡng
bằng Thánh Thể, giúp chúng ta thoáng nh́n về thế giới mới ấy- trời mới và
đất mới- nơi thành Giêrusalem mới từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, “sẵn
sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21, 2).
Sự ích lợi của một cuốn sách toát yếu về Bí
tích Thánh Thể
93. Vào lúc kết thúc những suy tư này, trong
đó tôi đă trưng dẫn những đề tài được nêu ra tại Thượng Hội Đồng Giám Mục,
tôi cũng muốn tiếp nhận lời đề nghị mà các Nghị Phụ đă đưa ra như một phương
thế để giúp các Kitô hữu tin, cử hành và sống trọn vẹn hơn mầu nhiệm Thánh
Thể. Những văn pḥng có trách nhiệm liên quan của Giáo Triều Rôma sẽ ấn hành
một cuốn sách Toát Yếu, tập hợp các bản văn từ Sách Giáo Lí Giáo Hội Công
Giáo, các kinh nguyện, các lời dẫn giải về Các Kinh Nguyện Thánh Thể trong
Sách Lễ Rôma cùng những cách thế tiện ích giúp hiểu rơ, cử hành và tôn sùng
Bí tích của Bàn Thờ. Tôi hi vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp cho việc tưởng
niệm Lễ Vượt Qua của Chúa càng ngày càng trở nên nguồn mạch và đỉnh cao của
đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội. Điều này sẽ thôi thúc mỗi người tín hữu
xây dựng cuộc đời của ḿnh trở thành một sự thờ phượng thiêng liêng đích
thực.
KẾT LUẬN
94. Anh chị em thân mến, Bí tích Thánh Thể
là căn nguyên của mọi h́nh thái thánh thiện, và mỗi người chúng ta được mời
gọi đạt đến sự sống viên măn trong Chúa Thánh Thần. Đă có biết bao vị thánh
tiến xa trên con đường toàn thiện nhờ ḷng sùng kính Thánh Thể! Từ Thánh
Ignatiô thành Antiôkia đến Thánh Augustinô, từ Thánh Antôn Tu Viện Trưởng
đến Thánh Bênêđictô, từ Thánh Phanxicô thành Assisi đến Thánh Tôma Aquinô,
từ Thánh Clara thành Assisi đến Thánh Catharina thành Siena, từ Thánh
Paschal Baylon đến Thánh Phêrô Julianô Eymard, từ Thánh Alphonsô Liguori đến
Chân Phước Charles de Foucauld, từ Thánh Gioan Maria Vianney đến Thánh
Têrêxa thành Lisieux, từ Thánh Piô Pietrelcina đến Chân Phước Têrêxa thành
Calcutta, từ Chân Phước Piergiorgio Frassati đến Chân Phước Ivan Mertz, đó
là chỉ nêu lên một số ít, sự thánh thiện đă luôn t́m thấy tiêu điểm của nó
trong Bí tích Thánh Thể.
Như thế, mầu nhiệm cực thánh này cần phải
được tin một cách vững chắc, được cử hành một cách sốt sắng và được nhiệt
tâm sống trong Giáo Hội. Sự tự hiến của Chúa Giêsu trong Bí tích tưởng niệm
cuộc vượt qua của Người chứng thực cho chúng ta rằng, sự thành công của
cuộc đời chúng ta được t́m thấy trong việc tham dự vào sự sống của Chúa Ba
Ngôi, được ban cho chúng ta một cách đích thực và hiệu quả trong Người. Cử
hành và tôn sùng Thánh Thể giúp chúng ta tiến đến gần t́nh yêu của Thiên
Chúa và gắn bó trong t́nh yêu ấy cho đến khi chúng ta được nên một với Chúa
là Đấng chúng ta yêu mến. Sự phó dâng cuộc đời của chúng ta, dâng thân bằng
quyến thuộc cùng toàn thể cộng đoàn những người tín hữu, cũng như tất cả
những người liên đới với chúng ta là những khía cạnh nền tảng của logiké
latreía, sự thờ phượng thiêng liêng, thánh thiện và đẹp ḷng Thiên Chúa (x.
Rm 12, 1), giúp biến đổi mọi khía cạnh của cuộc đời chúng ta để làm vinh
danh Thiên Chúa. Bởi đó, tôi khẩn khoản mời gọi các mục tử đừng ngại tốn
công để phát huy một nền linh đạo Thánh Thể Kitô giáo xác thực. Các linh
mục, phó tế và tất cả những người thi hành tác vụ Thánh Thể phải luôn có khả
năng t́m được trong việc phục vụ này, vốn phải được ân cần tập luyện và luôn
được tăng bổ, sức mạnh và hứng cảm cần thiết trên con đường thánh hoá bản
thân cũng như cộng đoàn. Tôi khuyên nhủ người tín hữu giáo dân, đặc biệt các
gia đ́nh, hăy luôn t́m thấy lại trong bí tích t́nh yêu của Chúa Kitô, một
năng lực cần thiết để biến cuộc đời của họ thành một dấu chỉ đích thực về sự
hiện diện của Chúa Phục Sinh. Tôi mời gọi các nam nữ tu sĩ hăy thể hiện, qua
đời sống Thánh Thể của họ, sự sáng ngời và vẻ đẹp được trọn vẹn thuộc về
Chúa.
95. Vào đầu thế kỉ thứ bốn, việc thờ phượng
Kitô giáo vẫn c̣n bị các chính quyền đế quốc cấm cách. Một số các Kitô hữu ở
Bắc Phi, những người cảm thấy bị thôi thúc phải cử hành Ngày của Chúa, đă
thách thức sự cấm đoán đó. Họ đă chịu tử đạo khi tuyên bố rằng họ không thể
sống mà không có Thánh Thể, lương thực của Chúa: sine dominico non
possumus.(252) Xin các thánh tử đạo miền Abitinae, trong sự hiệp thông với
tất cả các thánh cũng như các chân phước, những vị đă dành cho Bí Tích Thánh
Thể vị trí trung tâm của cuộc đời ḿnh, xin các ngài bầu cử cho chúng ta và
dạy chúng ta trung thành gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh. Chúng ta cũng không thể
sống mà không tham dự vào Bí tích của ơn cứu chuộc chúng ta; chúng ta cũng
ước ao iuxta dominicam viventes (sống theo ngày của Chúa) để phản chiếu
trong đời sống chúng ta những ǵ chúng ta cử hành trong Ngày của Chúa. Ngày
đó là ngày giải thoát thực sự của chúng ta. Vậy th́ có đáng ngạc nhiên chăng
nếu chúng ta ước muốn sống mỗi ngày trong sự sống mới mà Chúa Kitô đem lại
cho chúng ta trong mầu nhiệm Thánh Thể?
96. Nguyện xin Mẹ Maria Chí Thánh, Đấng Đồng
Trinh Vô Nhiễm, ḥm bia của giao ước mới và vĩnh cửu, đồng hành cùng chúng
ta trên con đường đi gặp Chúa , Đấng đang đến. Trong Mẹ, chúng ta t́m thấy
bản tính của Giáo Hội được thực hiện một cách trọn hảo nhất. Giáo Hội nh́n
thấy nơi Mẹ Maria- “Người Phụ Nữ Thánh Thể” như đă được tôn xưng bởi Tôi Tớ
Chúa là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (253)- như chính h́nh mẫu tuyệt hảo
của ḿnh, và Giáo Hôi chiêm ngắm Đức Maria như mẫu gương độc nhất về đời
sống Thánh Thể. V́ lí do đó, khi đứng trước chính Xác Thể sinh ra từ Đức
Đồng Trinh Maria (verum Corpus de Maria Virgine) tại bàn thờ và nhân danh
cộng đoàn phụng vụ, linh mục đọc những lời trong lễ quy: “Chúng con kính nhớ
Đức Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là Chúa
chúng con.” (254) Thánh danh của Mẹ cũng được kêu cầu và tôn kính trong lễ
quy của các truyền thống Kitô Đông Phương. Các tín hữu, về phần ḿnh, “hăy
phó dâng cho Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội, cuộc sống và lao công do bàn tay ḿnh.
Hăy cố gắng sống những tâm t́nh như Mẹ Maria, hăy giúp toàn thể cộng đoàn
trở nên lễ dâng sống động đẹp ḷng Chúa Cha.” (255) Mẹ là Đấng Tuyệt Mỹ
(tota pulchra), v́ nơi mẹ ánh hào quang của vinh quang Thiên Chúa toả rạng.
Từ nơi Mẹ Maria chúng ta phải học trở nên những người nam nữ của Bí tích
Thánh Thể và của Giáo Hội, và như thế thể hiện con người chúng ta, theo lời
của Thánh Phaolô, “thánh thiện và tinh tuyền” trước mặt Chúa như Người muốn
từ thuở đời đời (x. Cl 1, 22; 1, 4). (256)
97. Qua lời bầu cử của Thánh Nữ Đồng Trinh
Maria, Xin Chúa Thánh Thần khơi lên trong chúng ta ḷng sốt sắng mà các môn
đệ trên đường đi Emmaus đă trải nghiệm (x. Lc 24, 13- 15) và đổi mới “ḷng
sửng sốt Thánh Thể” của chúng ta qua vẻ sáng ngời và vẻ đẹp toả ra từ nghi
thức phụng vụ, là dấu chỉ hữu hiệu của vẻ đẹp vô biên trong mầu nhiệm thánh
của Thiên Chúa. Những môn đệ ấy đă đứng dạy và hối hả trở lại Giêrusalem để
chia sẻ niềm vui với anh chị em của ḿnh trong đức tin. Thật vậy, niềm vui
đích thực là nhận biết rằng Chúa vẫn ở với chúng ta, là người bạn đồng hành
trung tín của chúng ta trên đường đi. Thánh Thể giúp chúng ta khám phá ra
rằng, Chúa Kitô, sống lại từ cơi chết, là người đương thời của chúng ta
trong mầu nhiệm Giáo Hội, Thân Ḿnh Người. Chúng ta hăy trở nên những chứng
nhân cho mầu nhiệm t́nh yêu này. Chúng ta hăy khích lệ lẫn nhau hân hoan
sánh bước, ḷng đầy ngạc nhiên, đến gặp Thánh Thể để có thể cảm nhận cũng
như loan báo cho người khác sự thật về những lời Chúa Giêsu đă nói khi Người
từ biệt các môn đệ: “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”
(Mt 28, 20).
Ban hành tại Rôma, cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô,
vào ngày 22 tháng Hai, năm 2007 , Lễ Kính Tông Toà Phêrô, vào năm thứ hai
triều Giáo Hoàng của tôi.
BÊNÊĐICTÔ PP. XVI
Chú thích:
1) x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae
III, q. 73, a. 3.
(2) Thánh Augustinô, In Iohannis Evangelium
Tractatus, 26,5: PL 35, 1609.
(3) ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn cho các
Tham Dự viên Khoá Họp Khoáng Đại của Bộ Giáo Lí Đức Tin (10 February 2006):
AAS 98 (2006), 255.
(4) ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn cho Hội
Đồng Thư kí Thương Trực của Thượng Hội Đồng Giám Mục (1 June 2006):
L'Osservatore Romano, 2 June 2006, p. 5.
(5) x. Bản đề nghị 2.
(6) I am referring here to the need for a
hermeneutic of continuity also with regard to the correct interpretation of
the liturgical development which followed the Second Vatican Council: x. ĐGH
Bênêđictô XVI, Diễn văn cho Giáo Triều Rôma (22 December 2005): AAS 98
(2006), 44-45.
(7) x.. AAS 97 (2005), 337-352.
(8) Năm Thánh Thể: Những Gợi Ư và Những Đề
Nghị (15 October 2004): L'Osservatore Romano, 15 October 2004, Supplement.
(9) x. AAS 95 (2003), 433-475. Xem thêm,
Huấn Thị của Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật Bí Tích Redemptionis Sacramentum
(25 March 2004): AAS 96 (2004), 549-601, expressly desired by ĐGH Gioan
Phaolô II.
(10) Chỉ đưa ra một số tài liệu quan trọng:
Công Đồng Trento, Doctrina et canones de ss. Missae sacrificio, DS
1738-1759; ĐGH Leo XIII, Thông Điệp Mirae Caritatis (28 May 1902): ASS
(1903), 115-136; Pius XII, Thông Điệp Mediator Dei (20 November 1947): AAS
39 (1947), 521-595; Paul VI, Thông Điệp Mysterium Fidei (3 September 1965):
AAS 57 (1965), 753-774; ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ecclesia de
Eucharistia (17 April 2003): AAS 95 (2003), 433-475; Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật
Bí Tích , Huấn Thị Eucharisticum Mysterium (25 May 1967): AAS 59 (1967),
539-573; Huấn Thị Liturgiam Authenticam (28 March 2001): AAS 93 (2001),
685-726.
(11) x. Bản đề nghị 1.
(12) No. 14: AAS 98 (2006), 229.
(13) Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo, 1327.
(14) x. Bản đề nghị 16.
(15) ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng trong
Thánh Lễ khai mạc sứ vụ (7 May 2005): AAS 97 (2005), 752.
(16) x. Bản đề nghị 4.
(17) De Trinitate, VIII, 8, 12: CCL 50, 287.
(18) Thông Điệp Deus Caritas Est (25
December 2005), 12: AAS 98 (2006), 228.
(19) x. Bản đề nghị 3.
(20) Sách Nguyện Rôma, Hymn for the Office
of Readings of the Solemnity of Corpus Christi.
(21) ĐGH Bênêđictô XVI, Thông Điệp Deus
Caritas Est (25 December 2005), 13: AAS 98 (2006), 228.
(22) ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng tại
Marienfeld Esplanade (21 August 2005): AAS 97 (2005), 891-892.
(23) x. Bản đề nghị 3.
(24) x. Sách Lễ Rôma, Kinh Nguyện Thánh Thể
IV.
(25) Cat. XXIII, 7: PG 33, 1114ff.
(26) x. De Sacerdotio, VI, 4: PG 48, 681.
(27) Ibid., III, 4: PG 48, 642.
(28) x. Bản đề nghị 22.
(29) x. Bản đề nghị 42: "This eucharistic
encounter takes place in the Holy Spirit, who transforms and sanctifies us.
He re- awakens in the disciple the firm desire to proclaim boldly to others
all that he has heard and experienced, to bring them to the same encounter
with Christ. Thus the disciple, sent forth by the Church, becomes open to a
mission without frontiers."
(30) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 3; một thí dụ, x.: Thánh Gioan Kim Khẩu,
Catechesis 3, 13-19: SC 50, 174-177.
(31) ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp
Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 1: AAS 95 (2003), 433.
(32) Ibid., 21: AAS 95 (2003), 447.
(33) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp
Redemptor Hominis (4 March 1979), 20: AAS 71 (1979), 309-316; Tông thư
Dominicae Cenae (24 February 1980), 4: AAS 72 (1980), 119-121.
(34) x. Bản đề nghị 5.
(35) x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae,
III, q. 80, a. 4.
(36) No. 38: AAS 95 (2003), 458.
(37) Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lí
về Giáo Hội Lumen Gentium, 23.
(38) Bộ Giáo Lí Đức Tin, Letter on Some
Aspects of the Church Understood as Communion Communionis Notio (28 May
1992), 11: AAS 85 (1993), 844-845.
(39) x. Bản đề nghị 5: "The term ‘catholic'
expresses the universality deriving from the unity that the Eucharist,
celebrated in each Church, fosters and builds up. The particular Churches in
the universal Church thus have, in the Eucharist, the duty to make visible
their own unity and diversity. This bond of fraternal love allows the
trinitarian communion to become apparent. The Councils and Synods express in
history this fraternal aspect of the Church."
(40) x. ibid.
(41) Sắc Lệnh về Sứ vụ và Đời Sống Linh
MụcPresbyterorum Ordinis, 5.
(42) Cf. x. Bản đề nghị 14.
(43) Hiến Chế Tín Lí về Giáo Hội Lumen
Gentium, 1.
(44) De Orat. Dom., 23: PL 4, 553.
(45 Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lí về
Giáo Hội Lumen Gentium, 48, cf. ibid., 9.
(46) x. Bản đề nghị 13.
(47) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 7.
(48) Cf. ibid., 11; Công Đồng Vatican II,
Decree on the Church's Missionary Activity Ad Gentes, 9, 13.
(49) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Thư
Dominicae Cenae (24 February 1980), 7: AAS 72 (1980), 124-127; Công Đồng
Vatican II, Sắc Lệnh về Sứ vụ và Đời Sống Linh Mục Presbyterorum Ordinis, 5.
(50) x. Giáo Luật các Giáo Hội Đông Phương,
can. 710.
(51) x. Nghi thức ga nhập Kitô giáo người
lớn, Dẫn nhập tổng quát, 34-36.
(52) x. Nghi thức rửa tội trẻ nhỏ, Dẫn nhập,
18-19.
(53) x. Bản đề nghị 15.
(54) Cf. Bản đề nghị 7; ĐGH Gioan Phaolô II,
Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 36: AAS 95 (2003),
457-458.
(55) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Reconciliatio et Paenitentia (2 December 1984),
18: AAS 77 (1985), 224-228.
(56) x. Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo,
1385.
(57) For example, the Confiteor, or the
words of the priest and people before receiving Communion: "Lord, I am not
worthy to receive you, but only say the word and I shall be healed." Not
insignificantly does the liturgy also prescribe certain very beautiful
prayers for the priest, handed down by tradition, which speak of the need
for forgiveness, as, for example, the one recited quietly before inviting
the faithful to sacramental communion: "By the mystery of your body and
blood, free me from all my sins and from every evil. Keep me always faithful
to your teachings and never let me be parted from you."
(58) x. Thánh Gioan Damascênô, Exposition of
the Faith, IV, 9: PG 94, 1124C; Thánh Grêgôrô Nazianzen, Oratio 39, 17: PG
36, 356A; Công Đồng Trento, Doctrina de sacramento paenitentiae, Chapter 2:
DS 1672.
(59) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 11; John Paul II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội
Đồng Giám Mục Reconciliatio et Paenitentia (2 December 1984), 30: AAS 77
(1985), 256-257.
(60) x. Bản đề nghị 7.
(61) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tự Sắc
Misericordia Dei (7 April 2002): AAS 94 (2002), 452-459.
(62) Together with the Synod Fathers I wish
to note that the non-sacramental penitential services mentioned in the
ritual of the sacrament of Reconciliation can be helpful for increasing the
spirit of conversion and of communion in Christian communities, thereby
preparing hearts for the celebration of the sacrament: x. Bản đề nghị 7.
(63) x. Giáo Luật, can. 508.
(64) Phaolô VI, Tông Hiến Indulgentiarum
Doctrina (1 January 1967), Norms, No. 1: AAS 59 (1967), 21.
(65) Ibid., 9: AAS 59 (1967), 18-19.
(66) x. Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo,
1499-1532.
(67) Ibid., 1524.
(68) x. Bản đề nghị 44.
(69) x. Thượng Hội Đồng Giám Mục, Phiên họp
Khoáng Đại lần II, Document on the Ministerial Priesthood Ultimis Temporibus
(30 November 1971): AAS 63 (1971), 898-942.
(70) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 42-69: AAS 84
(1992), 729-778.
(71) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 10; Bộ Giáo Lí Đức Tin, Letter on Certain
Questions Concerning the Minister of the Eucharist Sacerdotium Ministeriale
(6 August 1983): AAS 75 (1983), 1001-1009.
(72) Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo, 1548.
(73) Ibid., 1552.
(74) x. In Iohannis Evangelium Tractatus,
123, 5: PL 35, 1967.
(75) x. Bản đề nghị 11.
(76) x. Sắc Lệnh về Sứ vụ và Đời Sống Linh
Mục, Presbyterorum Ordinis, 16.
(77) x. ĐGH Gioan XXIII, Thông Điệp
Sacerdotii Nostri Primordia (1 August 1959): AAS 51 (1959), 545-579; ĐGH
Phaolô VI, Thông Điệp Sacerdotalis Coelibatus (24 June 1967): AAS 59 (1967),
657-697; ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục
Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 29: AAS 84 (1992), 703-705; Benedict
XVI, Address to the Roman Curia (22 December 2006): L'Osservatore Romano, 23
December 2006, p. 6.
(78) x. Bản đề nghị 11.
(79) x. Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về
Đào Tạo Linh mục, Optatam Totius, 6; Giáo Luật, can. 241, § 1 và can. 1029;
Code of Canons of the Eastern Churches, can. 342 § 1 and can. 758; ĐGH Gioan
Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Pastores Dabo Vobis (25
March 1992), 11, 34, 50: AAS 84 (1992), 673-675; 712-714; 746-748; Bộ Giáo
Sĩ, Directory for the Ministry and Life of Priests Dives Ecclesiae (31 March
1994), 58; Bộ Giáo Duc Công Giáo, Instruction Concerning the Criteria for
the Discernment of Vocations with regard to Persons with Homosexual
Tendencies in view of their Admission to the Seminary and to Holy Orders (4
November 2005): AAS 97 (2005), 1007-1013.
(80) x. Bản đề nghị 12; ĐGH Gioan Phaolô II,
Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Pastores Dabo Vobis (25 March 1992),
41: AAS 84 (1992), 726-729.
(81) Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lí
về Giáo Hội Lumen Gentium, 29.
(82) x. Bản đề nghị 38.
(83) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Familiaris Consortio (22 November 1981), 57: AAS 74
(1982), 149-150.
(84) Tông Thư Mulieris Dignitatem (15
August 1988), 26: AAS 80 (1988), 1715-1716.
(85) Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo, 1617.
(86) x. Bản đề nghị 8.
(87) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 11.
(88) x. Bản đề nghị 8.
(89) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Thư
Mulieris Dignitatem (15 August 1988): AAS 80 (1988), 1653-1729; Bộ Giáo Lí
Đức Tin, Letter to the Bishops of the Catholic Church on the Collaboration
of Men and Women in the Church and in the World (31 May 2004): AAS 96
(2004), 671-687.
(90) x. Bản đề nghị 9.
(91) x. Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo,
1640.
(92) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Familiaris Consortio (22 November 1981), 84: AAS 74
(1982), 184- 186; Bộ Giáo Lí Đức Tin, Letter to the Bishops of the Catholic
Church concerning the Reception of Holy Communion by Divorced and Remarried
Members of the Faithful Annus Internationalis Familiae (14 September 1994):
AAS 86 (1994), 974-979.
(93) x. Pontifical Council for Legislative
Texts, Instruction on the Norms to be Observed at Ecclesiastical Tribunals
in Matrimonial Proceedings Dignitas Connubii (25 January 2005), Vatican
City, 2005.
(94) x. Bản đề nghị 40.
(95) ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng cho Toà
Hoà Giải Rôma nhân Khai mạc Năm Pháp Lí (28 January 2006): AAS 98 (2006),
138.
(96) x. Bản đề nghị 40.
(97) Cf. ibid.
(98) Cf. ibid.
(99) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 48.
(100) x. Bản đề nghị 3.
(101) Here I would recall the words filled
with hope and consolation found in Eucharistic Prayer II: "Remember our
brothers and sisters who have gone to their rest in the hope of rising
again. Bring them and all the departed into the light of your presence."
(102) x. ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng (8
December 2005): AAS 98 (2006), 15-16.
(103) Hiến Chế Tín Lí về Giáo Hội Lumen
Gentium, 58.
(104) x. Bản đề nghị 4.
(105) Relatio post disceptationem, 4:
L'Osservatore Romano, 14 October 2005, p. 5.
(106) x. Serm. 1, 7; 11, 10; 22, 7; 29, 76:
Sermones dominicales ad fidem codicum nunc denuo editi, Grottaferrata, 1977,
pp. 135, 209ff., 292ff.; 337; ĐGH Bênêđictô XVI, Message to Ecclesial
Movements and New Communities (22 May 2006): AAS 98 (2006), 463.
(107) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Mục
vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay, Gaudium et Spes, 22.
(108) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Mặc Khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 2, 4.
(109) x. Bản đề nghị 33.
(110) Sermo 227, 1: PL 38, 1099.
(111) In Iohannis Evangelium Tractatus, 21,
8: PL 35, 1568.
(112) Ibid., 28, 1: PL 35, 1622.
(113) x. Bản đề nghị 30. Weekday Masses,
which the faithful are encouraged to attend, find their proper form on the
day of the Lord, the day of Christ's resurrection; x. Bản đề nghị 43.
(114) x. Bản đề nghị 2.
(115) x. Bản đề nghị 25.
(116) x. Bản đề nghị 19. Bản đề nghị 25
tŕnh bày: "An authentic liturgical action expresses the sacredness of the
eucharistic mystery. This should be evident from the words and actions of
the priest who celebrates, as he intercedes to God the Father both with the
faithful and on their behalf."
(117) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ
Rôma, 22; Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum
Concilium, 41; x. Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật Bí Tích , Huấn thị Redemptionis
Sacramentum (25 March 2004), 19-25: AAS 96 (2004), 555-557.
(118) x. Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về
Nhiệm vụ Mục vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội Christus Dominus, 14; Hiến
Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 41.
(119) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
22.
(120) x. ibid.
(121) x. Bản đề nghị 25.
(122) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 112-130.
(123) x. Bản đề nghị 27.
(124) x. ibid.
(125) Những chỉ dẫn trong Huấn Thị Tổng Quát
về Sách Lễ Rôma, 319-351, phải được trung thành tuân giữ.
(126) x. Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
39-41; x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng vụ Thánh Sacrosanctum
Concilium, 112-118.
(127) Sermo 34, 1: PL 38, 210.
(128) x. Bản đề nghị 25: "Like every
artistic expression, singing must be closely adapted to the liturgy and
contribute effectively to its aim; in other words, it must express faith,
prayer, wonder and love of Jesus present in the Eucharist."
(129) x. Bản đề nghị 29.
(130) x. Bản đề nghị 36.
(131) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 116; Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ
Rôma, 41.
(132) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
28; x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum
Concilium, 56; Thánh Bộ Nghi Lễ, Huấn Thị Eucharisticum Mysterium (25 May
1967), 3: AAS 57 (1967), 540-543.
(133) x. Bản đề nghị 18.
(134) Ibid.
(135) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
29.
(136) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp
Fides et Ratio (14 September 1998), 13: AAS 91 (1999), 15-16.
(137) Thánh Hieronimo, Comm. in Is., Prol.:
PL 24, 17; x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lí về Mặc Khải của Thiên
Chúa Dei Verbum, 25.
(138) x. Bản đề nghị 31.
(139) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
29; x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum
Concilium, 7, 33, 52.
(140) x. Bản đề nghị 19.
(141) Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 52.
(142) Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lí
về Mặc Khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 21.
(143) To this end the Synod has called for
the preparation of pastoral aids based on the three-year lectionary, to help
connect the proclamation of the readings with the doctrine of the faith; cf.
Propositio 19.
(144) x. Bản đề nghị 20.
(145) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
78.
(146) x. ibid., 78-79.
(147) x. Bản đề nghị 22.
(148) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
79d.
(149) Ibid., 79c.
(150) Taking into account ancient and
venerable customs and the wishes expressed by the Synod Fathers, I have
asked the competent curial offices to study the possibility of moving the
sign of peace to another place, such as before the presentation of the gifts
at the altar. To do so would also serve as a significant reminder of the
Lord's insistence that we be reconciled with others before offering our
gifts to God (cf. Mt 5:23 ff.); x. Bản đề nghị 23.
(151) x. Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật Bí Tích ,
Huấn Thị Redemptionis Sacramentum (25 March 2004), 80-96: AAS 96 (2004),
574-577.
(152) x. Bản đề nghị 34.
(153) x. Bản đề nghị 35.
(154) x. Bản đề nghị 24.
(155) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 14-20; 30ff.; 48ff; Bộ Phụng Tự và
Kỉ Luật Bí Tích , Huấn Thị Redemptionis Sacramentum (25 March 2004), 36-42:
AAS 96 (2004), 561-564.
(156) No. 48.
(157) Ibid.
(158) x. Bộ Giáo Sĩ, Instruction on Certain
Questions Regarding the Collaboration of the Non- Ordained Faithful in the
Ministry of Priests Ecclesiae de Mysterio (15 August 1997): AAS 89 (1997),
852-877.
(159) x. Bản đề nghị 33.
(160) Huấn Thị Tổng Quát về Sách Lễ Rôma,
92.
(161) x ibid., 94.
(162) x. Công Đồng Vatican II, Decree on the
Apostolate of the Laity Apostolicam Actuositatem, 24; General Instruction of
the Roman Missal, 95-111; Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật Bí Tích , Huấn Thị
Redemptionis Sacramentum (25 March 2004), 43-47: AAS 96 (2004), 564-566; Bản
đề nghị 33: "These ministries must be introduced in accordance with a
specific mandate and in accordance with the real needs of the celebrating
community. Those entrusted with these liturgical services must be chosen
with care, well prepared, and provided with ongoing formation. Their
appointment must be for a limited term. They must be known to the community
and be gratefully acknowledged by the community."
(163) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 37-42.
(164) Cf. General Instruction of the Roman
Missal, 386-399.
(165) x. Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật Bí Tích ,
Huấn Thị về Phụng vụ Rôma và Hội Nhập văn Hoá Varietates Legitimae (25
January 1994): AAS 87 (1995), 288-314.
(166) Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục
Ecclesia in Africa (14 September 1995), 55-71: AAS 88 (1996), 34-47; Tông
Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Ecclesia in America (22 January 1999), 16,
40, 64, 70-72: AAS 91 (1999), 752-753, 775-776, 799, 805-809; Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Ecclesia in Asia (6 November 1999), 21ff.: AAS 92
(2000), 482-487; Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Ecclesia in Oceania
(22 November 2001), 16: AAS 94 (2002), 382-384; Tông Huấn Hậu Thượng Hội
Đồng Giám Mục Ecclesia in Europa (28 June 2003), 58-60: AAS 95 (2003),
685-686.
(167) x. Bản đề nghị 26.
(168) x. Bản đề nghị 35 ; Công Đồng Vatican
II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 11.
(169) x. Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo,
1388; Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum
Concilium, 55.
(170) x. Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia
(17 April 2003), 34: AAS 95 (2003), 456.
(171) x, Thí dụ, Thánh Tôma Aquinô, Summa
Theologiae, III, q. LXXX, a. 1, 2; Thánh Têrêxa Giêsu, The Way of
Perfection, Chapter 35. The doctrine was authoritatively confirmed by the
Council of Trent, Session XIII, c. VIII.
(172) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ut
Unum Sint (25 May 1995), 8: AAS 87 (1995), 925-926.
(173) x. Bản đề nghị 41; Công Đồng Vatican
II, Decree on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 8, 15; ĐGH Gioan Phaolô II,
Thông Điệp Ut Unum Sint (25 May 1995), 46: AAS 87 (1995), 948; Thông Điệp
Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 45-46: AAS 95 (2003), 463-464; Code
of Canon Law, can. 844 §§ 3-4; Code of Canons of the Eastern Churches, can.
671 §§ 3-4; Hội Đồng Toà Thánh về Hiệp Nhất Kitô Giáo, Directoire pour
l'application des principes et des normes sur l'œcumnisme (25 March 1993),
125, 129-131: AAS 85 (1993), 1087, 1088-1089.
(174) x. Nos. 1398-1401.
(175) x. No. 293.
(176) x. Pontifical Council for Social
Communications, Pastoral Instruction on Social Communications on the
Twentieth Anniversary of "Communio et Progressio" Aetatis Novae (22 February
1992): AAS 84 (1992), 447-468.
(177) x. Bản đề nghị 29.
(178) x. Bản đề nghị 44.
(179) x. Bản đề nghị 48.
(180) Candidates for the priesthood can be
introduced to these traditions as part of their seminary training: x. Bản đề
nghị 45.
(181) x. Bản đề nghị 37.
(182) x. Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh
Sacrosanctum Concilium, 36, 54.
(183) x. Bản đề nghị 36.
(184) x. ibid.
(185) x. Bản đề nghị 32.
(186) x. Bản đề nghị 14.
(187) x. Bản đề nghị 19.
(188) x. Bản đề nghị 14.
(189) x. ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng vào
Giờ Kinh Chiều Lễ Hiện Xuống (3 June 2006): AAS 98 (2006), 509.
(190) x. Bản đề nghị 34.
(191) Enarrationes in Psalmos 98:9, CCL
XXXIX, 1385; x. ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn cho Giáo Triều Rôma(22 December
2005): AAS 98 (2006), 44-45.
(192) x. Bản đề nghị 6.
(193) ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn cho Giáo
triều Rôma (22 December 2005): AAS 98 (2006), 45.
(194) x. Bản đề nghị 6; Bộ Phụng Tự và Kỉ
Luật Bí Tích , Directory on Popular Piety and the Liturgy (17 December
2001), Nos. 164-165, Vatican City, 2002; Thánh Bộ Nghi Lễ, Huấn thị
Eucharisticum Mysterium (25 May 1967): AAS 57 (1967), 539-573.
(195) x. Relatio post disceptationem, 11:
L'Osservatore Romano, 14 October 2005, p. 5.
(196) x. Bản đề nghị 28.
(197) x. No. 314.
(198) VII, 10, 16: PL 32, 742.
(199) ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng tại
Marienfeld Esplanade (21 August 2005): AAS 97 (2005), 892; x. Bài giảng Lễ
Vọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, (3 June 2006): AAS 98 (2006), 505.
(200) x. Relatio post disceptationem, 6, 47:
L'Osservatore Romano, 14 October 2005, pp. 5-6; x. Bản đề nghị 43.
(201) De Civitate Dei, X, 6: PL 41, 284.
(202) x. Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo,
1368.
(203) x. Thánh Irenaeus, Adv. Haer., IV, 20,
7: PG 7, 1037.
(204) Ad Magnes., 9, 1: PG 5, 670.
(205) x. I Apologia, 67, 1-6; 66: PG 6,
430ff., 427, 430.
(206) x. Bản đề nghị 30.
(207) x. AAS 90 (1998), 713-766.
(208) x. Bản đề nghị 30.
(209) Bài giảng (19 March 2006): AAS 98
(2006), 324.
(210) The Compendium of the Social Doctrine
of the Church, 258, rightly notes in this regard: "For man, bound as he is
to the necessity of work, this rest opens to the prospect of a fuller
freedom, that of the eternal Sabbath (cf. Heb 4:9-10). Rest gives men and
women the possibility to remember and experience anew God's work, from
Creation to Redemption, to recognize themselves as his work (cf. Eph 2:10),
and to give thanks for their lives and for their subsistence to him who is
their author."
(211) x. Bản đề nghị 10.
(212) Cf. ibid.
(213) x. ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn cho các
Giám mục Canada – Quebec trong chuyên thăm ad Limina (11 May 2006): cf.
L'Osservatore Romano, 12 May 2006, p. 5.
(214) No. 10: AAS 71 (1979), 414-415.
(215) ĐGH Bênêđictô XVI, Gặp gỡ chung hằng
tuần, 29 March 2006: L'Osservatore Romano, 30 March 2006, p. 4.
(216) x. Bản đề nghị 39.
(217) Cf. Relatio post disceptationem, 30:
L'Osservatore Romano, 14 October 2005, p. 6.
(218) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 39-42.
(219) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Christifideles Laici (30 December 1988), 14, 16:
AAS 81 (1989), 409-413; 416-418.
(220) x. Bản đề nghị 39.
(221) Cf. ibid.
(222) Nghi thức phong chức Giám Mục, Linh
mục và Phó tế , Phong chức Linh mục, No. 163.
(223) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 19-33; 70-81:
AAS 84 (1992), 686-712; 778-800.
(224) x. Bản đề nghị 38.
(225) x. Bản đề nghị 39. x. ĐGH Gioan Phaolô
II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Vita Consecrata (25 March 1996),
95: AAS 88 (1996), 470-471.
(226) Giáo Luật, can. 663 § 1.
(227) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục Vita Consecrata (25 March 1996), 34: AAS 88 (1996),
407-408.
(228) Thông Điệp Veritatis Splendor (6
August 1993), 107: AAS 85 (1993), 1216-1217.
(229) ĐGH Bênêđictô XVI, Thông Điệp Deus
Caritas Est (25 December 2005), 14: AAS 98 (2006), 229.
(230) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp
Evangelium Vitae (25 March 1995): AAS 87 (1995), 401-522; ĐGH Bênêđictô XVI,
Diễn Văn cho Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống (27 February 2006): AAS 98
(2006), 264-265.
(231) x. Bộ Giáo Lí Đức Tin, Doctrinal Note
on Some Questions Regarding the Participation of Catholics in Political Life
(24 November 2002): AAS 96 (2004), 359-370.
(232) x. Bản đề nghị 46.
(233) AAS 97 (2005), 711.
(234) x. Bản đề nghị 42.
(235) x. Mart. Polycarp., XV, 1: PG 5, 1039,
1042.
(236) Thánh Ignatiô thành Antiokia, Ad.
Rom., IV, 1: PG 5, 690.
(237) x. Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín
Lí về Giáo Hội Lumen Gentium, 42.
(238) x. Bản đề nghị 42; Bộ Giáo Lí Đức Tin,
Declaration on the Unicity and Salvific Universality of Jesus Christ and the
Church Dominus Iesus (6 August 2000), 13- 15: AAS 92 (2000), 754-755.
(239) x. Bản đề nghị 42.
(240) ĐGH Bênêđictô XVI, Thông Điệp Deus
Caritas Est (25 December 2005), 18: AAS 98 (2006), 232.
(241) Ibid., 14.
(242) During the Synod sessions we heard
very moving and significant testimonies about the effectiveness of the
Eucharist in peacemaking. In this regard, Propositio 49 states that: "Thanks
to eucharistic celebrations, peoples engaged in conflict have been able to
gather around the word of God, hear his prophetic message of reconciliation
through gratuitous forgiveness, and receive the grace of conversion which
allows them to share in the same bread and cup."
(243) x. Bản đề nghị 48.
(244) ĐGH Bênêđictô XVI, Thông Điệp Deus
Caritas Est (25 December 2005), 28: AAS 98 (2006), 239.
(245) x. Bản đề nghị 48.
(246) ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn đọc trước
Ngoại Giao Đoàn cạnh Toà Thánh (9 January 2006): AAS 98 (2006), 127.
(247) Ibid.
(248) x. Bản đề nghị 48. Trong vấn đề này,
x. Sách Toát Yếu Học Thuyết Xă Hội của Giáo Hội.
(249) x. Bản đề nghị 43.
(250) x. Bản đề nghị 47.
(251) x. Bản đề nghị 17.
(252) Martyrium Saturnini, Dativi et aliorum
plurimorum, 7, 9, 10: PL 8, 707, 709-710.
(253) x. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông Điệp
Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 53: AAS 95 (2003), 469.
(254) Kinh Nguyện Thánh Thể I (Roman Canon).
(255) x. Bản đề nghị 50.
(256) x. ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng (8
December 2005): AAS 98 (2006), 15.
(Linh mục Giuse Ngô Quang Trung chuyển ngữ)