về trang chủ

 

 

TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

SACRAMENTUM CARITATIS

 

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI

 

GỬI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, PHÓ TẾ VÀ GIÁO DÂN

 

VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

 

NGUỒN MẠCH VÀ ĐỈNH CAO

CỦA ĐỜI SỐNG VÀ SỨ MỆNH CỦA GIÁO HỘI

 

 


 

 

 

Dẫn nhập [1]

 

Lương thực sự thật [2]

Sự phát triển của nghi lễ Thánh Thể [3]

Thượng Hội Đồng Giám Mục và Năm Thánh Thể [4]

Mục đích của Tông huấn [5]

 

PHẦN MỘT:

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ TIN

 

Đức tin vào Thánh Thể của Giáo Hội [6]

 

Chúa Ba Ngôi và Bí Tích Thánh Thể

 

Bánh từ trời xuống [7]

Một ơn ban không của Chúa Ba Ngôi [8]

 

Thánh Thể: Chúa Giêsu Chiên Hiến Tế đích thực

 

Giao ước mới và vĩnh cửu trong máu Con Chiên [9]

Lập Bí Tích Thánh Thể [10]

H́nh bóng biến thành sự thật (Figura transit in veritatem) [11]

 

Chúa Thánh Thần và Bí Tích Thánh Thể

 

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần [12]

Chúa Thánh Thần và việc cử hành Thánh Thể [13]

 

Bí Tích Thánh Thể và Giáo Hội

 

Bí tích Thánh Thể, nguyên lí tác thành Giáo Hội [14]

Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông Giáo Hội [15]

 

Bí tích Thánh Thể và các Bí tích khác

 

Tính Bí tích của Giáo Hội [16]

 

I. Bí Tích Thánh Thể và Sự Khai tâm Kitô giáo

Bí tích Thánh Thể, sự hoàn bị của việc khai tâm Kitô giáo [17]

Tŕnh tự các bí tích khai tâm [18]

Việc khai tâm, cộng đồng giáo hội và gia đ́nh [19]

 

II. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải

Mối liên hệ sâu xa [20]

Một số quan tâm mục vụ [21]

 

III. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Xức Dầu bệnh nhân [22]

 

IV. Bí tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức Thánh

In persona Christi capitis (nhân danh Chúa Kitô là đầu) [23]

Bí tích Thánh Thể và sự độc thân linh mục [24]

Sự thiếu linh mục và mục vụ ơn gọi [25]

Sự biết ơn và niềm hi vọng [26]

 

V. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hôn Phối

Thánh Thể, một bí tích hôn ước [27]

Bí tích Thánh Thể và tính duy nhất của hôn nhân [28]

Bí tích Thánh Thể và tính bất khả phân li của hôn nhân [29]

 

Bí tích Thánh Thể và cánh chung học

 

Thánh Thể: một ơn thiêng cho con người trên đường lữ hành [30]

Bàn tiệc cánh chung [31]

Cầu nguyện cho người chết [32]

 

Bí tích Thánh Thể và Đức Trinh Nữ Maria [33]

 

PHẦN HAI:

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ CỬ HÀNH

 

Luật cầu nguyện và luật đức tin (Lex orandi et lex credendi) [34]

Cái Đẹp và Phụng vụ [35]

 

Cử hành Thánh Thể, công việc của “trọn vẹn Chúa Kitô” (Christus Totus)

Christus totus in capite et in corpore (Trọn vẹn Chúa Kitô đầu và thân ḿnh) [36]

Bí tích Thánh Thể và Chúa Kitô phục sinh [37]

 

Ars celebrandi (Quy tắc cử hành) [38]

 

Giám mục, vị chủ tế cao nhất [39]

Tôn trọng các sách phụng vụ và sự phong phú của các dấu chỉ [40]

Nghệ thuật phục vụ việc cử hành [41]

Thánh ca [42]

 

Cơ cấu của việc cử hành Bí tích Thánh Thể [43]

 

Tính duy nhất nội tại của hành vi phụng vụ [44]

Phụng vụ Lời Chúa [45]

Bài giảng [46]

Dâng của lễ [47]

Kinh nguyện Thánh Thể [48]

Chúc b́nh an [49]

Việc trao và rước Thánh Thể [50]

Lời giải tán: “Lễ xong, hăy đi” (Ite, missa est) [51]

 

Sự tham dự linh động (Actuosa participatio) [52]

 

Sự tham dự đích thực [53]

Sự tham dự và thừa tác vụ linh mục [53]

Cử hành Thánh Thể và sự hội nhập văn hoá [54]

Những điều kiện cá nhân cho “actuosa participatio” [55]

Sự tham dự của các Kitô hữu không phải Công Giáo [56]

Tham dự qua những phương tiện truyền thông [57]

Việc tham dự sống động của những người đau yếu [58]

Quan tâm đến các tù nhân [59]

Di dân và sự tham dự Bí tích Thánh Thể [60]

Những cuộc đồng tế đại trào [61]

Tiếng La tinh [62]

Những cuộc cử hành Thánh Thể trong những nhóm nhỏ [63]

 

Sự tham dự nội tâm vào việc cử hành

 

Giáo lí khai tâm [64]

Ḷng tôn kính đối với Bí tích Thánh Thể [65]

 

Sự Tôn Thờ và Ḷng sùng kính Thánh Thể

 

Tương quan nội tại giữa việc cử hành và sự tôn thờ [66]

Sự thực hành việc chầu Thánh Thể [67]

Những h́nh thức sùng kính Thánh Thể [68]

Vị trí của nhà tạm [69]

 

PHẦN BA:

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MỘT MẦU NHIỆM ĐỂ SỐNG

 

Mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô

 

Sự thờ phượng tinh thần – logiké latreía (Rm 12, 1) [70]

Hiệu quả bao trùm của sự thờ phượng Thánh Thể [71]

Những cộng đoàn cử hành ngày Chúa Nhật thiếu vắng linh mục [72]

Một h́nh thức Thánh Thể của đời sống Kitô, thuộc về Giáo Hội [73]

Linh đạo và văn hoá Thánh Thể [74]

Bí tích Thánh Thể và sự rao giảng Tin Mừng cho các nền văn hoá [75]

Bí tích Thánh Thể và đời sống thánh hiến [76]

Bí tích Thánh Thể và sự biến đổi luân lí [77]

Tính công khai của Bí tích Thánh Thể [78]

Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để loan truyền [79]

Bí tích Thánh Thể và truyền giáo [80]

Bí tích Thánh Thể và việc làm chứng [81]

Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất [82]

Tự do thờ phượng   [83]

 

Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để loan truyền

 

Bí tích Thánh Thể và truyền giáo [84]

Bí tích Thánh Thể và việc làm chứng [85]

Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất [86]

Tự do thờ phượng [87]

 

Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để trao cho thế giới

 

Thánh Thể, tấm bánh bẻ ra cho sự sống trần gian [88]

Những ràng buộc xă hội của mầu nhiệm Thánh Thể [89]

Lương thực sự thật và nhu cầu của con người [90]

Giáo huấn xă hội của Giáo Hội [91]

Thánh hoá trần gian và bảo vệ tạo vật [92]

Sự ích lợi của một cuốn sách toát yếu về Bí tích Thánh Thể [93]

 

KẾT LUẬN [94]

 

 

 

 

DẪN NHẬP

 

1. Bí tích t́nh yêu, (1) Thánh Thể là hồng ân mà chính Chúa Giêsu Kitô thiết lập, mặc khải cho chúng ta t́nh yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mọi người. Bí tích ḱ diệu này biểu lộ t́nh yêu “cao cả nhất”, t́nh yêu đă thúc đẩy Người “hi sinh mạng sống ḿnh v́ bạn hữu” (Ga 15, 13). Qủa thật, Chúa Giêsu đă yêu họ “cho đến cùng” (Ga 13, 1). Qua những lời đó, vị Thánh Sử giới thiệu hành vi khiêm hạ thẳm sâu của Chúa Kitô: trước khi chết cho chúng ta trên Thánh Giá, Người cuốn một tấm khăn và rửa chân cho các môn đệ. Cũng vậy, trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu tiếp tục yêu chúng ta “cho đến cùng”, đến độ ban ḿnh và máu Người cho chúng ta. Thật là một điều sửng sốt các Tông Đồ hẳn đă được cảm nhận khi chứng kiến Chúa hành động và thổ lộ trong bữa Tiệc Li ấy! Thật là điều ḱ diệu mà Mầu nhiệm thánh thể khơi lên trong tâm hồn chúng ta.

 

Lương thực sự thật

 

2. Trong Bí tích của bàn thờ, Chúa gặp gỡ chúng ta, trở nên bạn đồng hành của chúng ta, những con người được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Người (x. St 1, 27). Trong Bí tích này Chúa thực sự trở nên lương thực cho chúng ta, thoả măn cơn đói khát sự thật và tự do của chúng ta. V́ chỉ có sự thật mới có thể giải thoát chúng ta (x. Ga 8, 32), nên Chúa Kitô trở nên lương thực sự thật cho chúng ta. Với một sự hiểu biết sâu xa, thánh Augustinô đă tŕnh bày thật rơ ràng cách thế chúng ta thường dễ cảm động, bất cứ khi nào chúng ta gặp thấy một điều ǵ lôi cuốn và đáng yêu mà không bị ép buộc. Ngài tự hỏi điều ǵ có thể làm chúng ta cảm khái nhất, vị thánh Giám mục thốt lên: “Tâm hồn chúng ta c̣n tha thiết khao khát điều ǵ hơn sự thật?”(2) Mỗi người chúng ta đều chất chứa một niềm khao khát tiềm ẩn và bất khả kiềm chế đối với sự thật hiển nhiên và sau cùng. Chúa Giêsu, “con đường, sự thật và sự sống”(Ga 14, 6) ngỏ với cơi ḷng lữ hành, cháy khát của chúng ta, cơi ḷng ước muốn nguồn sự sống, cơi ḷng khát khao sự thật. Chúa Giêsu Kitô là Sự Thật nguyên vị, lôi kéo thế giới đến với Người. “Chúa Giêsu là ngôi sao mai chỉ đường cho tự do của nhân loại: không có Người, tự do sẽ mất định hướng, bởi v́ nếu không có sự hiểu biết về sự thật, tự do sẽ mất giá trị, sẽ lạc hướng, và rơi vào độc đoán trống rỗng. Với Người, tự do sẽ khai mơ.”(3) Trong Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu tỏ bày cho chúng ta một cách đặc biệt sự thật về t́nh yêu, là bản tính của Thiên Chúa. Chính sự thật phúc âm này thách thức mỗi người và toàn thể con người chúng ta. V́ lí do đó, Giáo Hội khi t́m thấy Thánh Thể là trung tâm đời sống của ḿnh, không ngừng quan tâm công bố cho mọi người, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện (x. 2 Tm 4, 2) rằng Thiên Chúa là t́nh yêu. (4) Chính bởi Chúa Kitô đă trở nên lương thực sự thật cho chúng ta mà Giáo Hội hướng về mọi người, mời gọi họ tự do đón nhận hồng ân của Thiên Chúa.

 

Sự phát triển nghi thức thánh thể

 

3. Nếu t́m hiểu lịch sử hai ngh́n năm Giáo Hội của Chúa, được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, chúng ta phải thán phục với ḷng biết ơn sự phát triển trật tự những h́nh thức nghi lễ mà trong đó chúng ta tưởng niệm biến cố cứu độ. Từ những h́nh thái đa dạng của những thế kỉ đầu, vẫn c̣n tỏa sáng trong  những lễ nghi của các Giáo Hội Đông Phương Cổ Kính, cho đến khi nghi lễ Rôma lan rộng; từ những chỉ dẫn minh thị của Công Đồng Trentô và nghi thức Thánh Lễ của Thánh Piô V cho đến việc canh tân phụng vụ do Công Đồng Vatican khởi xướng: vào mỗi thời điểm của lịch sử Giáo Hội, việc cử hành thánh thể như là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh Giáo Hội, luôn sáng chói trong nghi lễ phụng vụ với tất cả sự phong phú và đa dạng của nó. Phiên Họp Khoáng Đại của Thượng Hội Đồng Giám Mục, diễn ra từ ngày 2 đến 23 tháng Mười 2005 tại Vatican cũng đă hết ḷng tri ân cảm tạ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong giai đoạn lịch sử phong phú này. Một cách đặc biệt, các Nghị Phụ đă nh́n nhận và tái khẳng định ảnh hưởng tốt đẹp mà việc canh tân phụng vụ do Công Đồng Vatican II khởi xướng đă đem đến cho đời sống Giáo Hội (5). Thượng Hội Đồng Giám Mục đă có thể đánh giá việc tiếp nhận sự canh tân trong những năm sau Công Đồng. Đă có nhiều cách lượng định. Những khó khăn và ngay cả những lạm dụng cũng đă được ghi nhận, điều đó cho thấy chúng không thể khe khuất những lợi ích và tính hữu hiệu của cuộc canh tân phụng vụ mà những điều phong phú c̣n chưa được khám phá hết. Một cách cụ thể, những thay đổi mà Công Đồng khai xướng cần phải được t́m hiểu trong tính duy nhất chung của sự phát triển lịch sử của chính nghi thức, chứ không phải đưa vào đó sự gián đoạn giả dối. (6)

 

Thượng Hội Đồng Giám Mục và Năm Thánh Thể

 

4. Chúng tôi cũng nhấn mạnh tương quan giữa Thượng Hội Đồng Giám Mục mới đây về Bí Tích Thánh Thể và những biến cố đă xảy ra  trong đời sống Giáo Hội những năm qua. Trước tiên chúng ta cùng nhớ lại Năm Thánh 2000, năm mà vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Người Tôi Tớ Chúa, Đức Gioan Phaolô II, đă dẫn dắt Giáo Hội bước vào Ngh́n Năm thứ ba. Năm Thánh đó thật sự mang một chiều kích Thánh Thể đầy ư nghĩa. Chúng ta cũng không quên Thượng Hội Đồng Giám Mục đă được định trước, và theo một nghĩa nào đó, được chuẩn bị bằng Năm Thánh Thể mà Đức Gioan Phaolô II với sự tiên liệu, đă muốn cho toàn thể Giáo Hội cử hành. Năm đó cũng là năm khai mạc Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế tại Guadalajara vào tháng Mười 2004 và kết thúc ngày 23 tháng 10, cùng vào dịp bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XI với lễ phong thánh cho năm vị có ḷng sùng kính Thánh Thể một cách đặc biệt: đó là Đức Giám mục Jósef Bilczewski, các linh mục Gaetano Catanoso, Zygmunt Gorazdowski và Alberto Hurtado Cruchaga và tu sĩ ḍng capucinô Felice da Nicosia. Nhờ những giáo huấn do Đức Gioan Phaolô II đề ra trong Tông thư Mane Nobiscum Domine (7) cùng với những gợi ư trợ lực cho Bộ Phụng Tự và Kỉ Luật các Bí Tích, (8) nhiều sáng kiến đă được các Giáo Phận và những nhóm giáo hội địa phương thực hiện nhằm đánh thức và gia tăng đức tin vào Thánh Thể, nhằm tăng cường phẩm chất của việc cử hành Thánh Thể, nhằm đề cao việc tôn thờ Thánh Thể cũng như cổ vũ mối liên đới thực tế liên kết cả với những người nghèo túng, khởi đi từ Bí Tích Thánh Thể. Sau hết, cần phải đề cập đến ư nghĩa Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia (9) sau cùng của vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, trong đó ngài để lại cho chúng ta huấn dụ vững chắc của Giáo Huấn Giáo Hội về Bí Tích Thánh Thể và như một chứng tá sau hết về vị trí trọng tâm mà Bí tích cực thánh này đă chiếm ngự trong suốt cuộc đời của ngài.

 

Mục đích của Tông huấn

 

5. Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục này nhằm khơi lại sự phong phú cùng nhiều suy tư và những đề xuất đa dạng đă được đưa ra trong Phiên Họp Khoáng Đại của Thượng Hội Đồng Giám Mục mới đây – Từ Lineamenta đến Propositiones, hiệp nghị qua Instrumentum Laboris, những Relationes ante và Post- disceptationes, những ư kiến đóng góp của các Nghị Phụ, những auditores và những vị đại diện thân hữu- nhằm cung cấp những hướng dẫn căn bản để làm sống dậy một đà tiến mới cho ḷng sùng kính và mến yêu Bí Tích Thánh Thể trong Giáo Hội. Ư thức về gia sản bao la của tín lí và kỉ luật chứa đựng qua nhiều thế kỉ liên quan đến Bí tích này, (10) ở đây tôi muốn chứng   nhận ḷng tha thiết của các Nghị Phụ (11) bằng cách khích lệ dân Kitô giáo hăy đào sâu việc t́m hiểu mối tương quan giữa mầu nhiệm Thánh Thể, việc cử hành phụng vụ và ḷng sùng kính mới xuất phát từ Bí Tích Thánh Thể như là Bí tích t́nh yêu. Do vậy, tôi cũng muốn đặt Tông Huấn này cùng với Thông Điệp đầu tiên của tôi, Deus Caritas Est, trong đó tôi thường nhắc đến Bí Tích Thánh Thể và nhấn mạnh tương quan của Bí tích này với t́nh yêu Kitô giáo, đối với Chúa và cả với tha nhân: “Thiên Chúa nhập thể lôi kéo tất cả chúng ta đến với Người. Do đó, chúng ta có thể hiểu agapè (t́nh yêu) đă trở thành một từ ngữ đối với Bí tích Thánh Thể như thế nào: trong Thánh Thể, agapè của Thiên Chúa đă đến với chúng ta trong h́nh hài thể xác để tiếp tục công tŕnh của Người trong và qua chúng ta ”(12).

PHẦN MỘT

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ĐỂ TIN

“Việc cuả Thiên Chúa, chính là các ông tin vào Đấng Người đă sai đến” (Ga 6, 29)

Đức tin vào Thánh Thể của Giáo Hội

6. “Đây là mầu nhiệm đức tin !”Những lời này được xướng ngay sau lời truyền phép, linh mục công bố mầu nhiệm được cử hành và bày tỏ sự sửng sốt của ngài trước sự biến đổi bản thể của bánh và rượu nên Ḿnh và Máu Chúa Giêsu, một thực tại vượt qúa sự hiểu thấu của con người. Bí tích Thánh Thể là một “mầu nhiệm đức tin” cách tuyệt hảo: là “sự tổng hợp và tóm kết đức tin của chúng ta.” (13) Đức tin của Giáo Hội tự nền tảng là đức tin vào Thánh Thể, và đức tin dó được nuôi dưỡng một cách đặc biệt tại bàn tiệc Thánh Thể. Đức tin và các bí tích là hai khía cạnh bổ túc cho nhau trong đời sống Giáo Hội. Được đánh thức bằng việc giảng dạy Lời Chúa, đức tin được nuôi dưỡng và tăng triển trong sự gặp gỡ đầy tràn ân sủng với Chúa Phục Sinh, diễn ra trong việc cử hành các bí tích: “đức tin được diễn đạt trong nghi lễ, nghi lễ lại tăng cường và củng cố đức tin.” (14) Do đó, Bí tích của Bàn Thờ luôn là trọng tâm của đời sống Giáo Hội: “nhờ Thánh Thể, Giáo Hội được tái sinh và đổi mới không ngừng!”(15) Đức tin vào Thánh Thể của Dân Chúa càng sống động th́ việc tham dự vào đời sống Giáo Hội càng sâu xa hơn trong việc kiên cường dấn thân cho công cuộc truyền giáo đă được Chúa Kitô ủy thác cho các môn đệ của Người. Chính lịch sử của Giáo Hội làm chứng điều đó. Mỗi một cuộc cải cách lớn lao, cách nào đó, lại được tiếp nối bằng một sự tái khám phá niềm tin vào sự hiện diện Thánh Thể của Chúa ở giữa dân Người.

Chúa Ba Ngôi và Bí Tích Thánh Thể

Bánh từ trời xuống

 

7. Yếu tố đầu tiên của đức tin vào Thánh Thể là mầu nhiệm về chính Thiên Chúa, là t́nh yêu Chúa Ba Ngôi. Trong cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô, chúng ta t́m được sự diễn tả rơ ràng về vấn đề này: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Qủa vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ ” (Ga 3, 16-17). Những lời này tỏ rơ nguồn mạch sâu thẳm về ân sủng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu trong Thánh Thể không ban cho ta một “vật,” nhưng ban chính Người; Người ban chính ḿnh Người và tuôn đổ chính máu Người. Như vậy, Người ban cho chúng ta trọn vẹn sự sống Người và mặc khải nguồn cội tối hậu của t́nh yêu này. Người là Con Một đời đời, được Chúa Cha trao ban cho chúng ta. Trong Tin Mừng, chúng ta nghe Chúa Giêsu, sau khi đă hóa bánh và cá ra nhiều nuôi đám đông dân chúng, nói với những người đă theo Người đến hội đường Caphácnaum: “Chính Cha tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, v́ bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh ban sự sống cho thế gian”(Ga 6, 32- 33), và người tự đồng hóa, chính thịt máu Người với bánh ấy: “ Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời; và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51). Như vậy, Chúa Giêsu chứng tỏ rằng Người là bánh sự sống mà Cha vĩnh cửu ban cho nhân loại.

 

Một ơn ban không của Chúa Ba Ngôi 

 

8. Bí tích Thánh Thể mặc khải chương tŕnh yêu thương hướng dẫn toàn bộ lịch sử cứu độ (x. Ep 1, 10; 3, 8- 11). Trong Thánh Thể, Deus Trinitas (Chúa Ba Ngôi), mà bản tính là t́nh yêu (x. 1 Ga 4, 7-8), trở nên trọn vẹn một phần tử trong thân phận con người. Trong h́nh bánh và rượu Chúa Kitô tự hiến cho chúng ta trong bữa ăn vượt qua (x. Lc 22, 14- 20; 1Cr 11, 23- 26), nguyên vẹn sự sống của Thiên Chúa hội nhập chúng ta và tham dự vào chúng ta dưới h́nh thức Bí tích. Thiên Chúa là sự hiệp thông t́nh yêu trọn hảo giữa Cha, Con và Thánh Thần. Ngay trong công tŕnh tạo dựng, con người đă được gọi chia sẻ một phần nào đó vào hơi thở sự sống của Thiên Chúa (x. St 2, 7). Nhưng chính trong Chúa Kitô, chết và sống lại và lúc tuôn đổ Thần Khí, được ban cách vô ngần vô hạn (x. Ga 3, 34) mà chúng ta được trở nên những người tham dự vào sự sống sâu thẳm của Thiên Chúa. (16) Chúa Giêsu Kitô, Đấng “nhờ Thánh Thần hằng hữu đă tự hiến như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa” (Dt 9, 14), chuyển thông cho chúng ta trong hồng ân Thánh Thể chính sự sống thần linh. Đây là một ơn tuyệt đối nhưng  không, một sự thực hiện những lời hứa của Thiên Chúa vựơt khỏi mọi giới hạn. Giáo Hội đón nhận, cử hành và tôn thờ ân sủng này trong sự tuân phục tín trung. “Mầu nhiệm đức tin”, do vậy là một mầu nhiệm của t́nh yêu Ba Ngôi, một mầu nhiệm mà trong đó nhờ ân sủng, chúng ta được kêu gọi tham dự. Vậy th́, cùng với thánh Augustinô chúng ta cũng phải kêu lên: “Nếu bạn nh́n thấy t́nh yêu bạn cũng thấy Chúa Ba Ngôi.” (17)

 

Thánh Thể: Chúa Giêsu Chiên Hiến Tế đích thực

 

Giao ước mới và vĩnh cửu trong máu Con Chiên

 

9. Sứ mệnh Chúa Giêsu đến ở giữa chúng ta đă được hoàn tất trong Mầu Nhiệm Vượt Qua. Trên Thánh Giá, nơi Chúa kéo mọi người đến với Người (x. Ga 12, 32), ngay trước khi “trao Thần Khí”, Người thốt lên: “Thế là đă hoàn tất” (Ga 19, 30). Trong mầu nhiệm của việc Chúa Kitô vâng phục cho đến chết, dẫu chết trên Thập Giá (x. Pl 2, 8) giao ước mới và vĩnh cửu đă được thực hiện. Trong thân xác chịu đóng đinh của Người,  tự do của Thiên Chúa và tự do của con người đă gặp nhau cách trọn vẹn qua một hiệp ước không thể loại bỏ, có hiệu lực một cách vĩnh viễn. Tội lỗi con người cũng được cứu chuộc một lần cho tất cả nhờ Con Chúa (Dt 7, 27; 1 Ga 2, 2; 4, 10). Như tôi đă có lần khẳng định, “Cái chết của Chúa Kitô trên Thánh Giá là đỉnh cao của việc Thiên Chúa quay lại chống đối chính ḿnh, trong đó Thiên Chúa tự hiến chính ḿnh để nâng con người lên và cứu độ họ. Đó là t́nh yêu trong h́nh thái triệt để nhất.” (18) Trong Mầu Nhiệm Vượt Qua, sự giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết đă được thực hiện. Khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đă nói về “giao ước mới và vĩnh cửu” được ghi dấu bằng máu của Người (x. Mt 26, 28; Mc 14, 24; Lc 22, 20). Cùng đích sứ mệnh của Người đă hiện rơ ngay từ khởi điểm cuộc đời công khai của Người. Thật vậy, trên ḍng kênh Giođan, khi Gioan Tẩy Giả thấy Chúa Giêsu đến với ḿnh đă kêu lên: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1, 29). Thật là ư nghĩa khi cùng những lời đó đă được lặp lại trong mỗi lần cử hành Thánh Lễ, lúc linh mục mời gọi chúng ta tiến đến bàn thờ: “Đây Chiên Thiên Chúa Đấng xoá tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự bữa tiệc của Người.” Chúa Giêsu là con chiên vượt qua đích thực đă tự nguyện hiến ḿnh để cứu chuộc chúng ta, và v́ thế đă thực hiện giao ước mới và vĩnh cửu. Bí Tích Thánh Thể chứa đựng tính mới mẻ trọn vẹn được ban cho chúng ta mỗi khi cử hành. (19)

 

Lập Bí Tích Thánh Thể

 

10. Điều này hướng chúng ta suy tư về việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Li. Việc thiết lập này diễn ra trong nghi thức bữa ăn tưởng niệm biến cố nền tảng của dân tộc Israel: Việc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Đây là nghi thức bữa ăn, liên quan đến việc sát tế con chiên (x. Xh 21, 1- 28, 43- 51), là một việc hồi tưởng qúa khứ, nhưng đồng thời cũng là một sự hồi tưởng có tính tiên tri, loan báo về một sự giải thoát sắp đến. Thật vậy, dân đă nhận ra rằng việc giải phóng trước không mang tính quyết định, bởi v́ lịch sử của họ vẫn tiếp tục được ghi vết bởi nô lệ và tội lỗi. Việc tưởng nhớ cuộc giải phóng xa xưa như vậy đă mở ra cho ước nguyện và sự chờ mong một ơn cứu độ sâu xa hơn, triệt để hơn, phổ quát và dứt khoát hơn. Đây là bối cảnh mà trong đó Chúa Giêsu đưa vào tính mới mẻ của sự trao hiến của Người. Trong kinh ca ngợi, Berakah, Người không chỉ cảm tạ Chúa Cha v́ những biến cố xảy ra trong qúa khứ, nhưng c̣n để “tán dương” chính Người. Khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu báo trước và kiện toàn hi tế Thập Giá và sự chiến thắng của biến cố phục sinh. Đồng thời Người mặc khải chính Người là con chiên hiến tế, đă được dự liệu trong kế hoạch của Chúa Cha ngay từ khi tạo thành thế giới, như được ghi trong Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô (x. 1, 18- 20). Khi đặt sự trao ban của Người trong bối cảnh này, Chúa Giêsu tỏ rơ ư nghĩa cứu độ của sự chết và sự phục sinh của Người, mầu nhiệm canh tân lịch sử và toàn thể vũ trụ. Qủa thật, việc thiết lập Bí tích Thánh Thể chứng tỏ rằng cái chết của Chúa Giêsu, dẫu tự nó là bạo lực và vô nghĩa, th́ trong Người đă trở nên một hành vi của t́nh yêu cao cả và là sự giải thoát dứt khoát nhân loại khỏi tội lỗi.

 

H́nh bóng biến thành sự thật (Figura transit in veritatem)

 

11. Bằng cách đó, Chúa Giêsu đưa novum (tính mới mẻ) triệt để của Người vào bữa ăn hiến tế Do Thái cổ xưa. Đối với chúng ta, bữa ăn đó không c̣n cần phải lặp lại. Các Giáo phụ nói rất chính xác, figura transit in veritatem: h́nh bóng mở đường cho chính sự thật. Nghi lễ cổ xưa đă kết thúc trọn vẹn và đă được vượt qua một cách dứt khoát bởi việc trao ban đầy t́nh thương Con của Thiên Chúa nhập thể. Lương thực sự thật, chính là Chúa Kitô hiến tế v́ chúng ta, dat figuris terminum (trao giới hạn làm h́nh bóng). (20) Bằng lệnh truyền của Người “hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19; 1 Cr 11, 25), Người đ̣i hỏi chúng ta đáp lại ơn ban của Người và tái hiện một cách bí tích. Qua những lời này, Chúa bày tỏ ước muốn của Người, như có thể nói, Giáo Hội được khai sinh từ hi tế của Người, sẽ nhận lănh hồng ân này để triển khai h́nh thức phụng vụ của bí tích, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Việc tưởng nhớ ân huệ hoàn hảo này không hệ tại chỉ đơn điệu lặp lại Bữa Tiệc Li, nhưng là cử hành chính Bí tích Thánh Thể, nghĩa là trong sự mới mẻ triệt để của sự thờ phượng Kitô giáo. Như vậy, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta phận vụ là đi vào “giờ ” của Người. “Bí tích Thánh Thể lôi kéo chúng ta vào trong chính hành vi tự hiến của Chúa Giêsu. Không phải chỉ đón nhận Ngôi Lời nhập thể một cách tĩnh tại, chúng ta c̣n đi vào chính đông năng việc tự hiến của Người.” (21) Chúa “lôi kéo chúng ta đến với Người.” (22) Sự biến đổi bản thể bánh và rượu thành Thịt và Máu Người dẫn đưa vào trong thụ tạo nguyên lí của một sự biến đổi trọn vẹn, một kiểu “hạch phân nguyên tử”, như từ ngữ ngày nay chúng ta quen dùng, thẩm nhập vào trung tâm của mọi hữu thể, một sự biến đổi có mục đích khởi động một tiến tŕnh biến đổi thực tại, một tiến tŕnh mà chung cuộc sẽ dẫn đến việc thay đổi toàn bộ thế giới, đạt tới mức Thiên Chúa sẽ là tất cả cho mọi người (x. 1 Cr 15, 28).  

 

Chúa Thánh Thần và Bí Tích Thánh Thể

 

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần

 

12. Bằng lời nói và với bánh và rượu, chính Chúa đă trao cho chúng ta những yếu tố nền tảng của sự thờ phượng mới. Giáo Hội, Tân Nương của Người, được kêu gọi cử hành tiệc thánh thể hằng ngày để kính nhớ Người. Như vậy, Giáo Hội làm cho hi tế cứu độ của Tân Lang trở thành một phần của lịch sử nhân loại, và làm cho nó hiện diện một cách bí tích trong mọi nền văn hoá. Mầu nhiệm cao cả này được cử hành trong h́nh thức phụng vụ mà Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, triển khai trong thời gian và không gian. (23) Chúng ta cần một nhận thức mới về vai tṛ quyết định mà  Chúa Thánh Thần nắm giữ trong sự tiến hoá của h́nh thức phụng vụ cũng như trong việc t́m hiểu thấu đáo các mầu nhiệm thánh. Chúa Thánh Thần, ơn huệ khởi đầu của Chúa Kitô cho những người tin, (24) đă hoạt động ngay từ lúc Tạo Dựng (x. 1, 2) hiện diện xuyên suốt trong cuộc đời của Ngôi Lời nhập thể: Chúa Giêsu Kitô được thụ thai bởi Đức Nữ Đồng Trinh Maria do quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Mt 1, 18; Lc 1, 35); vào lúc bắt đầu sứ mệnh công khai, trên bờ kênh Giođan, Người nh́n thấy Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người với h́nh chim bồ câu (x. Mt 3, 16- 17); Người hành động, nói năng và mừng vui trong Chúa Thánh Thần (x. Lc 10, 21), và Người đă tự hiến trong Chúa Thánh Thần (x. Dt 9, 14). Trong phần được gọi là “diễn từ li biệt” do Gioan tường thuật, Chúa Giêsu minh thị liên kết việc trao ban sự sống của Người trong mầu nhiệm vượt qua với ân huệ của Chúa Thánh Thần dành cho những kẻ thuộc về Người (x. Ga 16, 7). Một khi đă sống lại, dẫu c̣n mang trên thân xác những dấu tích của cuộc khổ nạn, Người vẫn có thể tuôn đổ Thánh Thần trên họ (x. Ga 20, 22), cho họ được chia sẻ sứ mệnh của chính Người (x.Ga 20, 21). Lúc đó, Chúa Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ mọi sự và giúp họ nhớ lại tất cả những ǵ Chúa Kitô đă nói với họ (x. Ga 14, 26), bởi v́ Người ngự đến như Thần Chân Lí (x.Ga 15, 26) để hướng dẫn các môn đệ đi vào sự thật toàn vẹn (x. 16, 13). Theo tŕnh thuật của sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ cùng nhau quy tụ và cầu nguyện với Đức Maria vào ngày Hiện Xuống (x. 2, 1- 4) và thôi thúc họ thực hiện sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc. Như vậy, chính qua hoạt động của Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô tiếp tục hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội của Người, khởi đi từ tâm điểm sinh động là Bí tích Thánh Thể.

 

Chúa Thánh Thần và việc cử hành Thánh Thể

 

13. Trên cái nền đó, chúng ta có thể hiểu rơ vai tṛ Chúa Thánh Thần nắm giữ trong việc cử hành Thánh Thể, đặc biệt liên quan đến sự biến thể. Các Giáo phụ ư thức rất điều này rrất rơ. Trong Sách Giáo Lí của ḿnh, Thánh Cyrilô thành Giêrusalem nhắc nhở rằng chúng ta “nài xin Chúa thương sai Chúa Thánh Thần xuống trên các lễ vật đă được dọn ra, và biến bánh thành ḿnh Chúa Kitô, rượu thành máu Chúa Kitô. Những ǵ Chúa Thánh Thần chạm vào đều được thánh hoá và được biến đổi trọn vẹn” (25). Thánh Gioan Kim Khẩu cũng ghi nhận rằng linh mục kêu cầu Chúa Thánh Thần khi cử hành hi tế: (26) như Êlia, thừa tác viên xin Chúa Thánh Thần xuống để “như hồng ân xuống trên tế vật và mọi tâm hồn nhờ đó được bừng cháy”(27). Đời sống thiêng liêng của các tín hữu có thể hưởng nhờ ơn ích lớn lao từ ư thức sâu xa hơn về sự phong phú của kinh nguyện thánh thể; kèm theo những lời Chúa Kitô thổ lộ trong bữa Tiệc Li, c̣n có lời cầu xin Chúa Thánh Thần, kinh nài xin Chúa Cha ban xuống ơn Thánh Thần để bánh và rượu sẽ trở nên ḿnh và máu Chúa Giêsu Kitô, và để “toàn thể cộng đoàn trở nên thân ḿnh Chúa Kitô hơn” (28). Thánh Thần mà chủ tế cầu xin ngự xuống trên lễ vật là bánh rượu trên bàn thờ cũng chính là Thánh Thần quy tụ các tín hữu “thành một thân thể” và biến đổi họ thành của lễ thiêng liêng đẹp ḷng Chúa Cha (29).

 

Bí Tích Thánh Thể và Giáo Hội

 

Bí tích Thánh Thể, nguyên lí tác thành Giáo Hội

 

14. Qua Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu lôi kéo mọi tín hữu đi vào “giờ” của Người; Người tỏ bày cho chúng ta mối liên hệ mà Người muốn thiết lập giữa Người và chúng ta, giữa bản thân Người và Giáo Hội. Thật vậy, trong hi tế Thập Giá Chúa Kitô sinh ra Giáo Hội như là Hiền Thê của Người và như chính ḿnh Người. Các Giáo phụ thường suy niệm về mối tương quan giữa nguồn gốc từ Evà, xuất phát từ xương sườn của Ađam đang ngủ (x. St 2, 21- 23) với nguồn gốc từ Evà mới, là Giáo Hội, xuất phát từ cạnh sườn Chúa Kitô, bị vùi trong giấc ngủ của sự chết: Gioan thuật lại, từ cạnh sườn Chúa Kitô bị đâm thâu, nước và máu chảy ra (x. Ga 19, 34), biểu trưng của các bí tích (30). Một cái nh́n chiêm niệm “Đấng họ đă đâm thâu” (Ga 19, 37) sẽ dẫn chúng ta suy tư về mối liên hệ tác thành giữa hi tế của Chúa Kitô, Bí tích Thánh Thể và Giáo Hội. Giáo Hội “kín múc sự sống từ Thánh Thể” (31). Bởi v́ Bí Tích Thánh Thể làm cho hi tế cứu độ của Chúa Kitô tái hiện, chúng ta phải khởi đi từ nhận thức rằng “có một ảnh hưởng tác thành của Bí tích Thánh Thể ở ngay chính cội nguồn của Giáo Hội” (32). Thánh Thể là chính Chúa Kitô, Đấng tự hiến cho chúng ta và là Đấng tiếp tục xây dựng chúng ta như thân thể của Người. Do đó, trong mối liên hệ hỗ tương giữa Thánh Thể xây dựng Giáo Hội, và chính Giáo Hội “làm nên” Thánh Thể (33), nguyên nhân tính đệ nhất được diễn tả trong công thức trước tiên này: Giáo Hội chỉ có thể cử hành và tôn thờ mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể chính bởi trước hết Chúa Kitô đă tự hiến cho Giáo Hội làm lễ hi sinh trên Thánh Giá. Khả năng của Giáo Hội “làm nên” Thánh Thể hoàn toàn bắt nguồn từ hành vi tự hiến của Chúa Kitô cho Giáo Hội. Ở đây chúng ta có thể hiểu ư nghĩa những lời của Thánh Gioan rơ ràng hơn: “Người yêu chúng ta trước”(1 Ga 4, 19). Do đó, mỗi khi cử hành Thánh Thể, chúng ta hăy tuyên xưng vai tṛ ưu tiên của ân huệ của Chúa Kitô. Ảnh hưởng tác thành của Thánh Thể đối với nguồn gốc của Giáo Hội biểu tỏ một cách dứt khoát tính ưu tiên cả về trật tự thời gian lẫn về mặt hữu thể học của sự kiện chính Chúa Kitô đă yêu chúng ta “trước.” Từ đời đời, Người vẫn là Đấng yêu chúng ta trước.

 

Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông Giáo Hội

 

15. Như vậy, Thánh Thể làm nên căn tính và hoạt động của Giáo Hội. Đó là lí do tại sao các Kitô hữu ngày xưa đă dùng cùng một cụm từ, Corpus Christi, để  chỉ thân xác Chúa Kitô được sinh ra bởi Đức Nữ Đồng Trinh Maria, Thánh Thể, và thân ḿnh Giáo Hội Người. (34) Dữ kiện hiển nhiên về truyền thống đó giúp chúng ta hiểu rơ đặc tính bất khả phân li giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Chúa Giêsu khi tự hiến làm lễ hi sinh cho chúng ta, th́ trong sự trao ban đó, đă thật sự hướng về mầu nhiệm Giáo Hội. Thật là ư nghĩa trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, khi cầu nguyện Chúa Thánh Thần, lời kinh sử dụng công thức để cầu cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội: “xin cho tất cả chúng con khi thông phần ḿnh và máu Chúa Kitô được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.” Những lời này giúp chúng ta thấy rơ hơn res (công việc) của Bí tích Thánh Thể là sự hiệp nhất các tín hữu trong sự hiệp thông Giáo Hội. Như vậy, từ cội nguồn của Giáo Hội, Thánh Thể được coi như mầu nhiệm của sự hiệp thông (35).

 

Tương quan giữa Thánh Thể và sự hiệp thông đă được tôi tớ Chúa là Đức Gioan Phaolô II chỉ ra trong Thông điệp của ngài, Ecclesia de Eucharistia. Ngài tŕnh bày về việc tưởng niệm Chúa Kitô như là “sự thể hiện mang tính bí tích cao cả nhất về mối hiệp thông trong Giáo Hội”(36). Sự duy nhất trong mầu nhiệm hiệp thông giáo hội được thể hiện một cách cụ thể trong các cộng đồng Kitô giáo, và được canh tân khi cử hành Thánh Thể, hiệp nhất họ lại đồng thời phân xuất họ thành những Giáo Hội địa phương, “in quibus et ex quibus una et unica Ecclesia catholica exsistit” (trong đó và từ đó xuất hiện một Giáo Hội công giáo duy nhất)(37). Sự kiện chỉ có một Bí tích Thánh Thể được cử hành tại mỗi Giáo phận quy tụ quanh  Đức Giám mục giúp chúng ta hiểu rơ mỗi Giáo Hội địa phương tồn tại trong và từ Giáo Hội Mẹ thế nào. Thật vậy, “tính duy nhất và bất khả phân của Thánh Thể Chúa hàm chứa tính duy nhất trong nhiệm thể Người, là Giáo Hội duy nhất và bất khả phân. Từ tâm điểm Thánh Thể, sự mở rộng cần thiết được thực hiện cho mỗi cộng đoàn cử hành, cho từng Giáo Hội địa phương. Khi tự cho ḿnh được lôi cuốn vào ṿng tay rộng mở của Chúa, chúng ta được tháp nhập vào Thân Ḿnh Người, duy nhất và bất khả phân.” (38) Do đó, khi cử hành Bí tích Thánh Thể, mỗi cá nhân người tín hữu nhận thấy họ thuộc về Giáo hội của họ,  nghĩa là, thuộc về Giáo Hội của Chúa Kitô. Từ hướng nh́n về Thánh Thể như thế, và nếu được t́m hiểu thích đáng th́ sự hiệp thông giáo hội được coi như bản chất đối với người công giáo (39). Một sự nhấn mạnh vào nền tảng thánh thể của mối hiệp thông giáo hội cũng có thể đóng góp rất nhiều cho sự đối thoại đại kết đối với các Giáo Hội và những Cộng Đồng Giáo Hội địa phương chưa hiệp thông trọn vẹn với Toà Phêrô. Thật vậy, một cách khách quan, Bí tích Thánh Thể kiến tạo một mối liên kết mạnh mẽ về sự hiệp nhất giữa Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống, cả hai vẫn duy tŕ bản chất đích thực và toàn vẹn về mầu nhiệm Thánh Thể. Đồng thời, nhấn mạnh vào đặc tính giáo hội của Bí tích Thánh Thể có thể trở nên yếu tố quan trọng cho cuộc đối thoại với những Cộng Đồng theo truyền thống Cải Cách (40).

 

Bí tích Thánh Thể và các Bí tích khác

 

Tính Bí tích của Giáo Hội

 

16. Công Đồng Vatican II đă nhắc nhở rằng “mọi bí tích, cũng như các thừa tác vụ trong Giáo Hội và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với Bí Tích Thánh Thể và quy hướng về đó. Thật vậy, Phép Thánh Thể chí thánh chứa đựng tất cả kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đó chính là Chúa Kitô; Người là mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta; Người là Bánh Hằng Sống, ban sự sống cho nhân loại bằng chính thịt của Người, thịt đă được sống động nhờ Chúa Thánh Thần và làm cho người ta được sống. Như thế, người mời gọi và dẫn đưa con người hiến dâng chính ḿnh, dâng những vất vả của ḿnh, và mọi tạo vật làm một với Người.” (41) Tương quan chặt chẽ giữa Bí tích Thánh Thể với các bí tích khác cũng như đời sống Kitô hữu có thể được hiểu đầy đủ nhất khi chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm của chính Giáo Hội như một bí tích. (42) Về vấn đề này Công Đồng xác quyết rằng “Giáo Hội, trong Chúa Kitô, chính là một bí tích – một dấu chỉ và khí cụ- của sự hiệp thông với Thiên Chúa cũng như của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.”(43) Như lời thánh Cyprianô nói, cũng như “một dân được quy tụ thành một do bởi sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,” (44) Giáo Hội cũng là bí tích của sự thông hiệp ba ngôi như vậy.

 

         Sự kiện Giáo Hội là “Bí tích cứu độ phổ quát”(45) tỏ rơ phương thế nhiệm cục bí tích sau cùng xác định cách thức mà Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất, qua Chúa Thánh Thần dùng để đi vào cuộc sống của chúng ta trong những hoàn cảnh cụ thể. Giáo Hội đón nhận và đồng thời thể hiện ḿnh trong bảy bí tích mà qua đó ơn Chúa tác động một cách cụ thể trên đời sống các tín hữu, để toàn bộ cuộc sống của họ, được Chúa Kitô cứu chuộc trở nên sự thờ phượng dâng lên Thiên Chúa. Theo cái nh́n đó, tại đây tôi muốn hướng sự chú ư vào một số yếu tố đă được các Nghị Phụ trong Thượng Hội Đồng Giám mục đưa ra, hầu giúp cho chúng ta hiểu rơ mối tương quan của mỗi bí tích đối với mầu nhiệm Thánh Thể.

 

I. Bí Tích Thánh Thể và Sự Khai tâm Kitô giáo

 

Bí tích Thánh Thể, sự hoàn bị của việc khai tâm Kitô giáo

 

17. Nếu Bí tích Thánh Thể thật sự là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội th́ đương nhiên tiến tŕnh khai tâm Kitô giáo phải thường xuyên hướng về việc đón nhận bí tích này. Như các Nghị Phụ đă tŕnh bày, chúng ta cần phải tự hỏi là trong các cộng đồng Kitô giáo của chúng ta mối liên kết chặt chẽ giữa Bí tích Thánh Tẩy, Bí tích Thêm sức, và Bí tích Thánh Thể đă được nhận thức đầy đủ chưa. (46) Chúng ta đừng quên rằng được rửa tội và được thêm sức là để đón nhận Thánh Thể. Do đó, việc thực hành mục vụ của chúng ta phải phản ánh một sự nắm vững hơn đăc tính thống nhất của tiến tŕnh khai tâm Kitô giáo. Bí tích Thánh Tẩy, mà qua đó chúng ta được kết hợp với Chúa Kitô, (47) được gia nhập Giáo Hội và được làm con Chúa, là cửa mở đi vào các bí tích. Bí tích Thánh Tẩy làm cho chúng ta nên chi thể trong Thân Ḿnh Chúa Kitô (x. 1 Cr 12, 13), một dân tư tế. Tuy nhiên, chính việc tham dự vào hiến tế Thánh Thể mới kiện toàn trong chúng ta những hồng ân của Bí tích Thánh Tẩy mà chúng ta đă lănh nhận. Ân huệ của Chúa Thánh Thần được ban để kiến tạo Thân Ḿnh Chúa Kitô (1 Cr 12) và để làm chứng nhiệt thành hơn cho việc rao giảng Tin Mừng trong thế giới. (48) Như vậy, Bí tích Thánh Thể đưa việc khai tâm Kitô giáo đi đến hoàn chỉnh và chiếm vị trí trung tâm cũng như mục tiêu cho tất cả đời sống bí tích. (49)

 

Tŕnh tự các bí tích khai tâm

 

18. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta cần quan tâm đến tŕnh tự các bí tích khai tâm. Hiện có nhiều truyền thống khác nhau trong Giáo Hội. Có sự khác biệt rơ rệt, một mặt, giữa truyền thống Giáo Hội Đông Phương (50) và việc thực hành bên Phương Tây liên quan đến việc khai tâm cho người lớn, (51) và mặt khác, những nghi thức áp dụng cho trẻ em. (52) Tuy nhiên, những khác biệt này hoàn toàn không thuộc về tín lí, mà chỉ thuộc lănh vực mục vụ. Một cách cụ thể là cần phải xem xét những cách thực hành nào giúp người tín hữu một cách hiệu dụng hơn trong việc đăt Bí tích Thánh Thể vào tâm điểm, như mục tiêu của toàn bộ tiến tŕnh khai tâm. Trong khi cộng tác một cách chặt chẽ với những văn pḥng hữu trách của Giáo triều Rôma, Những Hội Đồng Giám Mục cần phải nghiên cứu tính hiệu dụng của những phương thức hiện tại đối với việc khai tâm Kitô giáo, để các Kitô hữu có thể được trợ giúp, vừa để trưởng thành qua việc huấn giáo nhận được trong các cộng đồng của chúng ta, lại vừa giúp cho đời sống họ hướng về Thánh Thể một cách đích thực, để họ có thể làm chứng cho niềm hi vọng của họ một cách phù hợp với thời đại chúng ta (x. 1 Pr 3, 15).

 

Việc khai tâm, cộng đồng giáo hội và gia đ́nh

 

19. Cần phải ghi nhớ rằng toàn bộ việc khai tâm Kitô giáo là một tiến tŕnh hoán cải được thực hiện với sự trợ giúp của ơn Chúa, và sự liên đới thường trực với cộng đồng giáo hội, vừa trong trường hợp những người lớn t́m cách xin gia nhập Giáo Hội như thường xảy ra trong những nơi mới được rao giảng Tin Mừng cũng như những miền đă bị tục hoá, và vừa trong hoàn cảnh các cha mẹ xin cho con cái được lănh các bí tích. Về vấn đề này, tôi muốn mời gọi mọi người quan tâm đến tương quan giữa việc khai tâm Kitô giáo và gia đ́nh. Trong công tác mục vụ, việc đặt gia đ́nh tham gia vào tiến tŕnh khai tâm luôn là một điều quan trọng. Lănh nhận Bí tích Thánh Tẩy, Bí tích Thêm sức và Rước Lễ Lần đầu là những thời điểm trọng đại, không chỉ đối với cá nhân người lănh nhận, nhưng c̣n cho cả gia đ́nh, vốn luôn cần được giúp đỡ trong vai tṛ giáo dục bằng những nhân tố khác nhau trong cộng đồng giáo hội. (53) Ở đây tôi cũng muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Rước Lễ Lần Đầu. Đối với nhiều tín hữu, ngày này vẫn là ngày đáng nhớ, dẫu chỉ có tính cách khơi mào, th́ đó vẫn là ngày đầu tiên họ cảm nhận tầm quan trọng được gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu. Những chương tŕnh mục vụ giáo xứ cần hết sức đề cao ngày giờ ư nghĩa đó.

 

II. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải

 

Mối liên hệ sâu xa

 

20. Các Nghị phụ đă xác quyết một cách đúng đắn rằng ḷng sùng kính đối với Bí tích Thánh Thể sẽ dẫn đến việc gia tăng sự quư trọng đối với Bí tích Hoà giải. (54) Do bởi mối tương quan giữa hai bí tích này, một nội dung giáo lí đích thực về ư nghĩa của Thánh Thể phải bao hàm lời kêu gọi đi vào con đường thống hối (x. 1 Cr 11, 27- 29). Chúng ta biết rằng các tín hữu đang bị nhấn ch́m trong một nền văn hoá có khuynh hướng loại bỏ cảm thức tội lỗi (55) và đề cao một thái độ hời hợt nhằm bỏ qua việc thiết yếu là phải sống trong t́nh trạng ân sủng để có thể đi đến việc hiệp thông bí tích một cách xứng đáng. (56) Mất ư thức về tội luôn kéo theo một thái độ nông cạn nào đó trong việc cảm nhận t́nh yêu Chúa. Tŕnh bày những yếu tố trong nghi thức Thánh Lễ giúp thống hối tội lỗi, đồng thời bày tỏ ḷng nhân từ của Thiên Chúa có thể giúp ích rất nhiều cho các tín hữu. (57) Ngoài ra, tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải nhắc nhở chúng ta rằng tội không bao giờ chỉ là vấn đề thuần tuư cá nhân; nó luôn gây tổn hại cho sự hiệp thông giáo hội mà chúng ta được kết liên qua Bí tích Thánh Tẩy. V́ lẽ đó, các Giáo Phụ đă nói rằng Bí tích Hoà Giải phải qua Bí tích Thánh Tẩy  dụng công gắng sức (laboriosus quidam baptismus) (58) và như vậy các ngài có ư nhấn mạnh rằng kết quả của công việc hoán cải cũng là giúp khôi phục trọn vẹn mối hiệp thông giáo hội, được biểu lộ trong việc đến với Bí tích Thánh Thể. (59)

 

Một số quan tâm mục vụ

 

21. Thượng Hội Nghị đă nhắc nhở các Giám mục về trách nhiệm mục vụ là phải phát huy trong giáo phận của các ngài một nội dung sư phạm giáo lí hướng vào việc hoán cải, phát sinh từ đ̣i hỏi của Bí tích Thánh Thể, đồng thời cổ động việc năng xưng tội nơi các tín hữu. Mọi linh mục cần phải quảng đại hi sinh, dấn thân và dành mọi khả năng cho việc cử hành bí tích Hoà Giải. (60) Liên quan đến vấn đề này th́ điều quan trọng là chính các cha giải tội trong các nhà thờ phải thể hiện tính cách hệ trọng của bí tích này. Tôi cũng mời gọi các mục tử phải cẩn trọng trong việc cử hành Bí tích Hoà Giải, và chỉ giới hạn việc xá giải chung cho những trường hợp đă được phép, (61) bởi v́ việc xá giải riêng là h́nh thức duy nhất vẫn thường dùng. (62) Trước nhu cầu tái khám phá ơn tha thứ, cần đặt một Pḥng Hoà Giải tại mỗi Giáo phận. (63) Sau cùng, việc xin ân xá nếu thực hành một cách quân b́nh và đúng đắn, cho chính ḿnh cũng như cho người chết, có thể giúp ích cho một ư thức mới về tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hoà Giải. Nhờ phương thế này, người tín hữu nhận được “ơn tha thứ trước mặt Chúa, thoát khỏi h́nh phạt tạm do tội, v́ tội đă được tha.” (64) Việc sử dụng ân xá giúp chúng ta ư thức rằng cậy vào nỗ lực riêng, chúng ta không thể bù đắp sự sai phạm đă gây ra, và tội của mỗi cá nhân đều gây thiệt hại cả cộng đoàn. Hơn nữa, việc thực hành ân xá không chỉ liên quan đến tín điều về công trạng vô biên của Chúa Kitô, mà c̣n về tín điều các thánh thông công, nhắc nhở chúng ta rằng “chúng ta hiệp nhất khắng khít với nhau chặt chẽ như thế nào trong Chúa Kitô...cũng như đời sống thiêng liêng của mỗi người có thể giúp người khác ra sao.”(65) V́ những điều kiện để đón nhận ân xá đ̣i phải xưng tội và rước lễ, th́ việc thực hành này có thể tích cực giúp các tín hữu trên hành tŕnh hoán cải và tái khám phá đặc tính trung tâm của Bí tích Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu.

 

III. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Xức Dầu bệnh nhân

 

22. Chúa Giêsu không chỉ sai các môn để ra đi chữa lành bệnh nhân (x. Mt 10, 8; Lc 9, 2, 10, 9); Người c̣n thiết lập một bí tích đặc biệt: Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. (66) Thư Thánh Giacôbê xác nhận sự có mặt của bí tích này trong Cộng Đồng Kitô hữu tiên khởi (x. 5, 14- 16). Nếu Bí tích Thánh Thể tŕnh bày những đau khổ và cái chết của Chúa Kitô biến thành t́nh yêu như thế nào th́ Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, một cách riêng, lại nối kết những bệnh nhân với sự hi sinh ban ơn cứu độ cho mọi người của Chúa Kitô, để cả họ nữa trong mầu nhiệm các thánh thông công, họ có thể dự phần vào việc cứu chuộc thế giới. Mối tương quan giữa hai bí tích này trở nên hiển nhiên trong những hoàn cảnh lâm trọng bệnh: “Ngoài việc Xức Dầu Thánh, Giáo Hội c̣n ban cho người sắp ĺa trần Thánh Thể như của ăn đàng.” (67) Trên đường về nhà Cha, rước Ḿnh và Máu Chúa Kitô nên như hạt giống của sự sống đời đời và như sức mạnh của sự phục sinh: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi th́ có sự sống đời đời và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 5). Bởi v́ của ăn đàng giúp cho bệnh nhân nh́n thấy trước toàn bộ Mầu Nhiệm Vượt Qua, nên việc cử hành phải được luôn sẵn sàng đáp ứng. (68) Việc quan tâm săn sóc mục vụ dành cho những người đau bệnh mang lại lợi ích thiêng liêng cho toàn thể cộng đoàn, bởi v́ bất cứ điều ǵ chúng ta làm cho một trong những người anh chị em bé nhỏ nhất là chúng ta làm cho chính Chúa Giêsu (x. Mt 25, 40)

 

IV. Bí tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức Thánh

 

In persona Christi capitis (nhân danh Chúa Kitô là đầu)

 

23. Tương quan nội tại giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức xuất phát từ chính lời Chúa Giêsu tại Pḥng Trên: “Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19). Vào đêm trước khi chịu chết, Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và đồng thời thiết lập chức tư tế của Giao Ước Mới. Người là linh mục, là của lễ và bàn thờ: trung gian giữa Thiên Chúa Cha và dân Người (x. Dt 5, 5- 10), lễ vật đền tội (x. 1 Ga 2, 2 ; 4, 10) Đấng tự hiến trên bàn thờ Thập Giá. Không ai có thể nói “Này là ḿnh thầy” và “này là máu thầy” mà không nhân danh và thay cho Chúa Kitô, tư tế tối cao của Giao Ước mới và vĩnh cửu (x. Dt 8- 9). Những cuộc họp trước đây của Thượng Hội Đồng Giám Mục đă bàn đến vấn đề chức linh mục thừa tác, vừa liên quan đến bản chất của sứ vụ (69) vừa trong lănh vực đào tạo ứng sinh. (70) Ở đây, trong ánh sáng của cuộc thảo luận đă diễn ra trong thời gian họp Thượng Hội Đồng, tôi thấy cần phải nhắc lại nhiều điểm quan trọng về tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức. Trước hết, chúng ta cần phải một lần nữa nhấn mạnh rằng liên hệ giữa Bí tích Truyền Chức và Bí tích Thánh Thể được nhận thấy rơ rệt nhất trong Thánh Lễ, khi Giám mục hay linh mục chủ tế nhân danh Chúa Kitô là đầu.

 

Giáo Hội dạy rằng việc thụ phong linh mục là yếu tố thiết yếu cho việc cử hành Bí tích Thánh Thể thành sự. (71) Thật vậy, “để phục vụ Giáo Hội trong thừa tác viên thánh chức, chính Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội của Người như là Đầu Thân Thể, là Mục Tử đoàn chiên, là Tư Tế Tối Cao của hi tế cứu chuộc.” (72) Chắc chắn vị tư tế thừa tác cũng hành động “nhân danh toàn thể Giáo Hội khi dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện của Giáo Hội, và trên hết là khi dâng hi tế Thánh Thể.” (73) Do vậy, các linh mục phải ư thức việc này là trong khi thi hành chức vụ họ không được đăt chính họ hay những ư kiến cá nhân họ lên trên, mà đăt chính Chúa Giêsu Kitô. Bất cứ ư đồ nào muốn làm cho ḿnh trở thành trung tâm của cử hành phụng vụ đều mâu thuẫn với chính căn tính linh mục của họ. Linh mục trước hết là đầy tớ của mọi người, và phải luôn hành động để là một dấu chỉ quy hướng về Chúa Kitô, một khí cụ ngoan ngoăn trong bàn tay của Chúa. Điều này được nhận thấy rơ nhất trong việc ngài khiêm tốn hướng dẫn cộng đoàn phụng vụ, trong sự tuân thủ nghi thức, đặt hết tâm trí vào đó, đồng thời tránh tất cả những ǵ tạo ra cảm tưởng ngài nhấn mạnh thái quá đến con người của ḿnh. Tôi khích lệ các giáo sĩ là hăy luôn coi việc cử hành Thánh Thể như là một việc phục vụ khiêm hạ dâng lên Chúa Kitô và Giáo Hội Người. Chức linh mục, như thánh Augustinô nói, là amoris officium (công việc của ḷng yêu mến), (74) đó là công việc của vị tư tế tốt, người hi sinh mạng sống cho đàn chiên (x. 10, 14-15).

 

Bí tích Thánh Thể và sự độc thân linh mục

 

24. Các Nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục muốn nhấn mạnh rằng chức linh mục thừa tác, qua việc truyền chức đ̣i phải trở nên đồng h́nh đồng dạng trọn vẹn với Chúa Kitô. Trong khi tôn trọng truyền thống và cách thực hành của các Giáo Hội Đông Phương, th́ cần phải tái khẳng định ư nghĩa sâu xa của việc độc thân linh mục, vẫn được nh́n nhận một cách đúng đắn như một kho tàng vô giá. Sự lựa chọn độc thân về phía linh mục, diễn tả một cách thế đặc biệt sự hiến dâng để nên giống Chúa Kitô, cũng như việc hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa. (75) Sự kiện chính Chúa Kitô, vị linh mục vĩnh cửu, sống sứ mệnh của Người đến độ hi sinh trên Thập Giá trong t́nh trạng khiết tịnh, làm nên một điểm quy chiếu vững chắc để hiểu rơ ư nghĩa của truyền thống Giáo Hội La tinh. Chỉ hiểu độc thân linh mục theo chức năng của những hạn từ là không đủ. Độc thân thật sự là một phương thế đặc biệt để khuôn hợp chính ḿnh với chính đường lối của Chúa Kitô. Sự lựa chọn này trước hết và trên hết mang ư nghĩa hôn ước; đó là nên đồng dạng với con tim của Chúa Kitô, là Tân Lang hi sinh sự sống ḿnh cho Tân Nương. Kế tục truyền thống cao qúy của Giáo Hội, cùng với Công Đồng Vatican II (76) và với những vị tiền nhiệm của tôi trong các triều giáo hoàng, (77) tôi tái khẳng định vẻ cao đẹp cũng như sự quan trọng của cuộc sống linh mục trong bậc độc thân như một dấu chỉ diễn tả sự toàn hiến cho Chúa Kitô, cho Giáo Hội và cho Nước Thiên Chúa, và do đó, tôi tái khẳng định vẫn duy tŕ độc thân linh mục trong truyền thống La tinh. Sống đời độc thân linh mục trong sự trưởng thành, hân hoan và hi sinh là một phúc ân trọng đại cho Giáo Hội và cho cả xă hội nữa.

 

Sự thiếu linh mục và mục vụ ơn gọi

 

25. Trong ánh sáng của tương quan giữa Bí tích Truyền Chức Thánh và Bí tích Thánh Thể, Thượng Hội Đồng Giám Mục đă nh́n nhận những khó khăn phát sinh trong nhiều Giáo Phận khác nhau: phải đối phó với việc thiếu linh mục. Điều này không chỉ xảy ra trong những miền mới được rao giảng Tin Mừng, nhưng cũng c̣n trong những quốc gia có truyền thống Kitô giáo lâu đời. Chắc chắn nếu có một cuộc phân bổ giáo sĩ một