Dẫn Nhập
1. “SPE SALVI facti sumus ” —Chúng ta được cứu
rỗi trong hy vọng, Thánh Phaolô đă nói như thế với dân chúng thành Rôma,
cũng như với chúng ta (Rom 8:24). Theo niềm tin Kitô, “ơn cứu chuộc”
– hay ơn cứu độ - không chỉ đơn giản là một điều được trao ban. Ơn cứu chuộc
được ban cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đă được trao cho hy vọng – một
niềm hy vọng đáng tin cậy, qua đó, chúng ta có thể đối diện với thực tại của
chúng ta: thực tại mà cho dù là cam go đi nữa cũng có thể sống được và chấp
nhận được nếu nó dẫn đến một mục đích, nếu chúng ta có thể được bảo đảm về
mục đích này, và nếu mục đích này cao cả đến mức biện minh được cho nỗ lực
cam go của cuộc hành tŕnh. Giờ đây, một câu hỏi được đặt ra là: niềm hy
vọng nào có thể biện minh được cho khẳng định là, trên cơ sở của niềm hy
vọng đó và chỉ v́ niềm hy vọng đó tồn tại, mà chúng ta được cứu chuộc? Và ở
đây mức độ chắc chắn là bao nhiêu?
Đức Tin là Hy Vọng
2. Trước khi hướng đến những câu hỏi thời sự này,
chúng ta cần lắng nghe gần hơn một chút với chứng tá của Thánh Kinh về hy
vọng. “Hy vọng”, thực ra, là một từ chủ yếu trong Thánh Kinh – đến mức trong
nhiều đoạn những từ “đức tin” và “hy vọng” dường như có thể hoán chuyển cho
nhau. V́ thế Thư Do Thái liên kết chặt chẽ “sự viên măn của đức tin”
(10:22) với “sự tuyên xưng cách quả quyết niềm hy vọng của chúng ta”
(10:23). Cũng thế, trong thư Thứ Nhất, khi Thánh Phêrô khích lệ các Kitô hữu
hăy luôn luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời liên quan đến logos – ư
nghĩa và lư do –cho niềm hy vọng của họ (x. 3:15), th́ từ “hy vọng” là tương
đương với từ “đức tin”. Chúng ta thấy sự hiểu biết về chính ḿnh của các tín
hữu Kitô sơ khai đă được h́nh thành mạnh mẽ đến mức nào khi họ nhận được
hồng ân của một niềm hy vọng đáng tin cậy, hay khi chúng ta so sánh cuộc
sống Kitô với cuộc sống trước khi có đức tin, hay với t́nh trạng của các tín
hữu thuộc các tôn giáo khác. Thánh Phaolô nhắc nhở dân thành Êphêsô rằng
trưóc khi gặp gỡ Chúa Kitô, họ sống “không hy vọng và không có Thiên Chúa
trên đời” (Eph 2:12). Dĩ nhiên, thánh nhân biết rơ họ đă từng có
những thần minh, ngài biết là họ đă từng có tín ngưỡng, nhưng những thần
minh của họ đă cho thấy là đáng ngờ vực, và chẳng có tia hy vọng nào loé lên
từ những huyền thoại đối kháng nhau.
Dù có bao nhiêu thần minh đi nữa, họ sống “không có
Thiên Chúa” và hệ quả là họ thấy ḿnh sống trong một thế giới tối tăm, đối
diện với tương lai mịt mù. Một điếu văn trong thời kỳ này có đoạn viết:
In nihil ab nihilo quam cito recidimus (Chúng ta nhanh chóng rơi từ hư
vô này đến hư vô khác) 1. Trong câu này, chúng ta thấy những khía
cạnh bất định mà Thánh Phaolô đă chỉ ra. Cũng thế, ngài nói với dân thành
Thêsalônia: anh em “đừng buồn sầu như những kẻ không có niềm hy vọng” (1
Th 4:13). Ở đây, chúng ta thấy một dấu chỉ nổi bật của những tín hữu
Kitô: họ có tương lai, không phải là họ biết tường tận chi tiết về những ǵ
đang chờ đợi họ, nhưng họ biết cách tổng quát là cuộc sống của họ không kết
thúc trong hư không. Khi tương lai được bảo đảm như một thực tại tích cực
th́ lúc đó hiện tại trở nên có thể sống được. V́ thế, giờ đây chúng ta có
thể nói rằng: Kitô Giáo không chỉ là một “tin mừng” – theo nghĩa là một
thông điệp về một điều chưa từng được biết. Trong ngôn ngữ thời nay, chúng
ta có thể nói: thông điệp Kitô Giáo không chỉ là có tính “thông tin”
(“informative”) nhưng c̣n có tính “tác động” (“performative”). Nghĩa là: Tin
Mừng không chỉ là một thông truyền về những sự việc có thể thông biết –
nhưng là một điều khiến các sự kiện xảy ra và thay đổi cuộc sống. Cánh cửa
mịt mù tăm tối của thời gian, của tương lai, đă được mở toang. Ai có niềm hy
vọng th́ sống khác biệt hẳn; v́ người có niềm hy vọng đă được ban cho cho
hồng ân một cuộc sống mới.
3, Nhưng, ở đây lại nảy sinh một câu hỏi khác: niềm
hy vọng này chứa đựng điều ǵ khi được coi là niềm hy vọng “giải thoát”? Cốt
lơi của câu trả lời được chỉ ra trong một câu từ Thư gởi các tín hữu
thành Êphêsô được trích dẫn bên trên: các tín hữu thành Êphêsô trước khi
gặp gỡ Chúa Kitô đă sống không có niềm hy vọng v́ họ sống “không có Chúa
trong đời”. Nhận biết Thiên Chúa - Thiên Chúa thật – nghĩa là nhận lấy hy
vọng. Chúng ta, những người đă từng luôn sống với khái niệm Kitô Giáo về
Thiên Chúa, và đă trở nên quen thuộc với khái niệm này, dường như đă ngừng
chú ư rằng chúng ta mang trong ḿnh một niềm hy vọng nảy sinh từ cuộc gặp gỡ
với vị Thiên Chúa này. Gương của một vị thánh trong thời đại chúng ta, ở một
mức độ nào đó, có thể giúp hiểu được ư nghĩa của cuộc gặp gỡ thực sự lần đầu
tiên với vị Thiên Chúa đó. Tôi nghĩ đến thánh nữ Josephine Bakhita người Phi
Châu, đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh. Ngài sinh
tại Darfur bên Sudan khoảng 1869 – chính ngài không biết ngày sinh chính xác
của ḿnh là ngày nào. Khi lên 9, ngài bị bắt cóc bởi những kẻ buôn bán nô lệ,
bị đánh đập đổ máu, và bị bán đi bán lại đến 5 lần trong các chợ buôn nô lệ
tại Sudan. Cuối cùng, ngài sống như nô lệ trong nhà thân mẫu và phu nhân của
một vị tướng, và ở đó, hàng ngày ngài bị đánh đập toé máu; và hệ quả là ngài
phải mang trong người 144 vết thẹo đến hết cuộc đời. Cuối cùng, năm 1882,
một thương gia người Ư đă mua ngài cho viên lănh sự Ư Callisto Legnani,
người đă trở về Italia khi quân Mahdists nổi dậy. Ở đó, sau “những ông chủ”
đáng sợ, những người đă làm chủ ngài cho đến lúc đó, Bakhita đă biết đến một
“tôn chủ” hoàn toàn khác hẳn, một tôn chủ mà ngài đă dùng từ “Paron”
trong phương ngữ Vênêtia, thứ tiếng ngài đang học, để nói về Thiên Chúa hằng
sống, về Chúa Giêsu Kitô. Cho đến khi đó, ngài chỉ biết đến những ông chủ
khinh miệt và đối xử tàn tệ với ngài, hay cùng lắm là coi ngài như một con
nô lệ hữu dụng. Tuy nhiên, giờ đây, ngài nghe nói đến một “Paron”
vượt lên mọi ông chủ, Chúa của các chúa, và vị Thiên Chúa đó thiện hảo, một
sự thiện hảo tự trong bản tính. Ngài nhận ra rằng Thiên Chúa thậm chí c̣n
biết đến ngài, và Người đă tạo ra ngài, và yêu thương ngài thật sự. Bakhita
cũng đă được yêu thương, không phải bởi ai khác hơn là vị “Paron” tối
cao này, Đấng mà trước mặt Người mọi thứ ông chủ khác, chính họ, không hơn
ǵ những tôi tớ thấp hèn. Bakhita thấy ḿnh được biết đến, được yêu thương,
và được chờ đón. Hơn thế nữa, chính vị tôn chủ này cũng đă từng chấp nhận số
phận bị đánh đ̣n và giờ đây Ngài đang chờ Bakhita ở “bên hữu Chúa Cha”. Giờ
đây Bakhita có “hy vọng” – không phải cái hy vọng khiêm nhường là t́m được
một ông chủ ít tàn nhẫn nhất nhưng là một niềm hy vọng lớn lao: “Tôi nhất
định được yêu thương và dù điều ǵ xảy đến cho tôi – tôi vẫn đang được chờ
đón bởi T́nh Yêu này. Và v́ thế đời tôi thật là đẹp”. Nhờ nhận biết niềm hy
vọng này, ngài được “giải thoát”, không c̣n là một nô lệ nữa nhưng là một
con cái tự do của Thiên Chúa. Bakhita hiểu được điều mà Thánh Phaolô đă nhắc
nhở dân thành Êphêsô là trước đây họ sống vô vọng và không có Thiên Chúa
trong đời – không có hy vọng v́ không có Thiên Chúa. Thành thử, khi
sắp được đưa trở lại Sudan, Bakhita đă từ khước; ngài không muốn bị tách
biệt lần nữa khỏi “Paron” của ḿnh. Ngày 9 tháng Giêng năm 1890, ngài
được rửa tội, được chịu phép thêm sức và được rước Ḿnh Thánh Chúa lần đầu
từ tay vị Thượng Phụ thành Venice. Ngày 8 tháng Mười Hai năm 1896, tại
Verona, ngài được tuyên khấn trong Cộng Đoàn các Nữ Tu ḍng Canossia và từ
đó bên cạnh công việc trong pḥng thánh và trong nhà trực cửa tại tu viện,
ngài đă thực hiện nhiều chuyến du hành ṿng quanh Italia nhằm đề cao việc
truyền giáo: Ngài thấy rằng ơn giải thoát mà ngài đă nhận được qua sự gặp gỡ
với Chúa Kitô cần phải được mở rộng, cần phải được trao cho những người khác,
đông hết sức có thể. Niềm hy vọng đă hạ sinh trong ngài, đă “giải thoát”
ngài, không thể chỉ giữ cho riêng ḿnh; niềm hy vọng đó phải được lan tỏa
đến nhiều người, đến mọi người.
Khái niệm về niềm hy vọng trên cơ sở đức tin
trong Tân Ước và trong Giáo Hội sơ khai
4. Chúng ta đă nêu lên câu hỏi là liệu cuộc gặp gỡ
với Thiên Chúa - Đấng mà nơi Chúa Kitô đă tỏ lộ cho chúng ta thấy thiên nhan
của Ngài, và mở ḷng Ngài ra cho chúng ta - có thể không chỉ có tính “thông
tin” mà c̣n có tính “tác động” – nghĩa là cuộc gặp gỡ đó có thể thay đổi
cuộc đời ta để ta nhận ra là ḿnh đă được giải thoát qua niềm hy vọng thể
hiện nơi cuộc gặp gỡ này hay không? Trước khi cố gắng trả lời câu hỏi này,
chúng ta hăy trở lại lần nữa với Giáo Hội sơ khai. Không khó để nhận ra rằng
kinh nghiệm của thiếu nữ nô lệ Phi Châu Bakhita cũng là kinh nghiệm trong
thời kỳ h́nh thành Kitô Giáo của nhiều người, những người đă bị đánh đập và
bị kết án làm nô lệ. Kitô Giáo không mang lại một sứ điệp cách mạng xă hội
kiểu như cuộc cách mạng bất hạnh của Spartacus, người mà cuộc tranh đấu đă
dẫn đến đổ máu nhiều hơn nữa. Chúa Giêsu không phải là Spartacus, Ngài không
dấn thân trong một cuộc chiến giải phóng chính trị như Barabbas hay Bar-
Kochba. Chúa Giêsu, chính Ngài, đă chịu chết trên Thánh Giá, mang lại cho
chúng ta những ǵ hoàn toàn khác: một cuộc gặp gỡ với Chúa của các chúa, một
cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, và qua đó gặp gỡ một niềm hy vọng c̣n
mạnh hơn những cơ cực của kiếp nô lệ, một niềm hy vọng, do đó, thay đổi cuộc
sống và thế giới tự bản chất bên trong. Cái mới ở đây có thể được nh́n thấy
với một sự minh bạch nhất trong Thư gởi Philêmôn của Thánh Phaolô.
Đây là một lá thư rất riêng tư, mà Thánh Phaolô đă viết từ trong tù và được
trao cho người nô lệ chạy trốn Ônêsimô để trao cho chủ là Philêmôn. Thật thế,
Thánh Phaolô đă gởi người nô lệ này lại cho ông chủ mà anh ta đă bỏ trốn
“Tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đă sinh ra trong cảnh
xiềng xích.. tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hăy đón nhận nó như người
ruột thịt của tôi… Nó đă xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được
lại nó vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay v́ một
người nô lệ, th́ được một người anh em rất thân mến..” (Plm 1:10-16).
Xét về vị thế dân sự mà nói, con người có thể là tôn chủ hay nô lệ. Nhưng họ
đă trở nên anh chị em với nhau v́ họ đều là thành viên của một Giáo Hội duy
nhất – đó chính là cách thế những Kitô hữu đối xử với nhau. Qua phép Rửa Tội
họ được tái sinh, họ được uống cùng một Thần Khí và cùng nhau lănh nhận Ḿnh
Thánh Chúa. Cho dù cấu trúc bên ngoài vẫn giữ nguyên, điều này đă thay đổi
xă hội trần thế từ bên trong. Khi Thư gởi các tín hữu Do Thái nói
rằng những Kitô hữu trên trần gian này không có một quê hương vĩnh cửu,
nhưng t́m kiếm một quê hương trong tương lai (x Dt 11:13-16; Phil
3:20), th́ điều này không có nghĩa là họ chỉ sống cho tương lai: người Kitô
hữu xem xă hội hiện tại như một nơi tha hương; họ thuộc về một xă hội mới là
mục đích của cuộc lữ hành trần thế, và là điều luôn được trông mong trong
suốt cuộc lữ hành này.
5. Chúng ta cần thêm vào một nhận định nữa. Thư
Thứ Nhất gởi các tín hữu thành Côrintô (1:18-31) nói với chúng ta rằng
đa số các tín hữu Kitô tiên khởi thuộc về tầng lớp xă hội thấp, và chính v́
thế họ sẵn sàng đón nhận niềm hy vọng mới, như chúng ta thấy trong trường
hợp của thánh nữ Bakhita. Nhưng ngay từ buổi đầu cũng đă có nhiều cuộc cải
đạo trong hàng quư tộc và giới trí thức, v́ chính họ cũng đang sống “vô vọng
và không có Chúa trong đời”. Huyền thoại đă mất đi tính khả tín của nó; tôn
giáo của Đế Chế La Mă đă suy thoái thành một thứ nghi lễ đơn thuần được cử
hành thận trọng nhưng không ǵ khác hơn là một “tôn giáo chính trị”. Triết
học duy lư đă giới hạn những thần minh bên trong phạm trù của những ǵ không
thực. Tuy người ta có thể cảm nhận được Thần Thánh trong những cách thế khác
nhau nơi những lực của vũ trụ, nhưng một Thiên Chúa mà người ta có thể cầu
nguyện với Ngài th́ không hiện hữu. Thánh Phaolô đă minh họa khá chính xác
vấn nạn then chốt của tôn giáo trong thời kỳ này khi ngài tương phản cuộc
sống “theo Chúa Kitô” với cuộc sống dưới sự khống chế của “các lực vũ trụ” (Cl
2:8). Về phương diện này, một đoạn văn của Thánh Grêgôriô thành Nazianzen có
thể giúp soi sáng. Ngài nói rằng chính khi Ba Nhà Đạo Sĩ, được hướng dẫn bởi
v́ sao, thờ lạy Chúa Kitô vị Tân Vương, th́ khoa chiêm tinh đă đến hồi kết
thúc, v́ các v́ sao giờ đây di chuyển trong một quỹ đạo được xác định bởi
Chúa Kitô. 2 Cảnh tượng này thực ra lật ngược thế giới quan của
thời đó, một thế giới quan trong một cách thế khác đă trở nên thịnh hành một
lần nữa trong thời đại hôm nay. Không phải những lực lượng trong vũ trụ,
những luật vật chất, chi phối tối hậu thế giới và nhân loại, nhưng chính
Thiên Chúa cai quản các v́ sao, nghĩa là vũ trụ; không phải những định luật
về vật chất và tiến hóa có tiếng nói sau cùng nhưng là lư trí, ư chí, t́nh
yêu – một Ngôi Vị. Và chúng ta biết Ngôi Vị này, và Ngài cũng biết đến chúng
ta, thành ra, thực sự là thế lực mù quáng của các yếu tố vật chất không c̣n
tiếng nói sau cùng; chúng ta không phải là những nô lệ của vũ trụ và các
định luật của nó, chúng ta là những người tự do. Trong những thời cổ đại, sự
suy xét lư trí cách thành thực cũng nhận ra điều này. Thiên đàng không phải
là hư vô. Đời sống không chỉ là hệ quả của những định luật và sự ngẫu nhiên,
nhưng bên trong mọi thứ và cùng lúc vượt lên mọi thứ là một ư chí, một Thần
Khí mà qua Đức Giêsu đă tỏ lộ chính Ngài cho chúng ta như một T́nh Yêu.
3
6. Những mộ đá thời Kitô giáo tiên khởi đă minh họa ư
niệm này một cách hữu h́nh – trong bối cảnh của cái chết, khi phải đối diện
với câu hỏi không thể nào né tránh được liên quan tới ư nghĩa cuộc sống.
H́nh ảnh Đức Kitô được diễn giải trên các mộ đá gồm hai h́nh ảnh chính: đó
là h́nh ảnh triết gia và h́nh ảnh người chăn chiên. Triết học vào thời kỳ đó
thường không được coi là một ngành học bài bản khó hiểu, như ta thấy ngày
nay. Trái lại, triết gia là người biết cách dạy nghệ thuật thiết yếu này: là
thuật làm người một cách chính danh – nghệ thuật sống và chết. Chắc chắn là
từ lâu người ta đă nhận ra là có nhiều người đi đây đó khoác vào ḿnh bộ áo
triết gia, hoặc giả làm thầy dạy đời, nhưng thực chất chỉ là những kẻ lừa
đảo, kiếm tiền bằng môi miệng với lời nói phỉnh lừa, trong khi không có ǵ
để nói về cuộc sống thật. Thành ra, vị triết gia chân chính, người chỉ ra
được nẻo đường sự sống, th́ măi măi vẫn luôn được tôn kính và được người đời
t́m đến. Cho tới cuối thế kỉ thứ III, trên mộ phần của một em bé ở Rôma, lần
đầu tiên chúng ta t́m được, dưới nhăn kiến sự sống lại của Lazarô, h́nh ảnh
Đức Kitô như là triết gia chân thật, một tay Ngài cầm cuốn Phúc Âm, tay khác
cầm gậy lữ hành của triết gia. Với chiếc gậy của ḿnh, Ngài đă chiến thắng
sự chết; sách Phúc Âm mang lại chân lư mà các triết gia trước đó đă đi t́m
kiếm trong vô vọng. Nơi h́nh ảnh này, h́nh ảnh đă trở thành một nét chung
trong nghệ thuật bia mộ trong một thời gian dài, chúng ta thấy rơ điều mà cả
người học thức lẫn người b́nh dân đều có thể t́m thấy nơi Đức Kitô: Người
nói cho chúng ta biết con người thực sự là ai và con người phải làm ǵ để
trở thành nhân bản thực sự. Người chỉ cho chúng ta con đường, và con đường
này là sự thật. Chính Người vừa là Đường và là Sự Thật, và v́ thế Người cũng
là Sự Sống mà tất cả chúng ta đang t́m kiếm. Người cũng chỉ cho chúng ta con
đường sau cái chết; chỉ có ai làm được điều này mới thật sự là thầy dạy của
sự sống. Điều này cũng trở nên tỏ tường nơi h́nh ảnh người chăn chiên. Cũng
như h́nh ảnh triết gia, qua h́nh ảnh người chăn chiên, Giáo Hội sơ khai đă
có thể nói lên căn tính của ḿnh với những kiểu mẫu nghệ thuật La Mă hiện
hành. Ở đó, người chăn chiên thường được coi là một diễn đạt chung về ước mơ
một cuộc sống thanh b́nh và đơn sơ, mà thị dân của những thành thị lớn luôn
ngưỡng vọng đến giữa những băn khoăn của cuộc sống. Giờ đây, h́nh ảnh đó
được đọc lên như một phần của một bối cảnh mới, mang đến cho nó một ư niệm
sâu xa hơn: “Chúa là Đấng Chăn Chiên của tôi: tôi không thiếu ǵ... dù tôi
bước qua thung lũng tối tăm sự chết, tôi không sợ sự dữ nào, bởi v́ Chúa ở
cùng tôi... ” (Tv 23 [22]:1, 4). Người chăn chiên thực là người biết cả đến
những nẽo đường băng qua thung lũng sự chết; người mà bước đi với tôi dẫu là
nẻo đường cuối cùng của hiu quạnh, nơi mà không ai có thể bước với tôi,
hướng đạo cho tôi đi qua: th́ chính Người đă bước qua nẻo đường đó, Người đă
xuống tận cơi chết, đă chiến thắng sự chết, và giờ đây đă trở về để dẫn đưa
chúng ta và cho chúng ta niềm xác tín rằng, cùng với Người, chúng ta t́m ra
một con đường đi qua được. Sự nhận thức rằng c̣n có Một Đấng dù trong sự
chết vẫn bước theo tôi, và với “cây roi và cây trượng của Người an ủi phấn
chấn tôi, do đó “tôi không c̣n sợ chi” (cf. Tv 23 [22]:4) — Đó chính là “hy
vọng” mới đă phát sinh trên cuộc sống của các tín hữu.
7. Chúng ta cần phải quay lại Tân Ước một lần nữa.
Trong chương 11 của Thư Do Thái (câu 1) chúng ta t́m thấy một dạng
định nghĩa về đức tin trong đó liên kết chặt chẽ nhân đức này với đức cậy.
Từ thời Phục Hưng đă có những tranh căi giữa những nhà chú giải Thánh Kinh
trên từ trọng tâm của câu này, nhưng ngày nay một cách thế hướng đến sự diễn
dịch đại kết dường như đang khơi gợi lại vấn đề một lần nữa. Tạm thời, tôi
sẽ giữ nguyên không dịch từ trọng tâm này. Thành ra, câu đó sẽ được đọc như
sau: “Đức tin là hypostasis cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng
cho những điều ta không thấy”. Đối với các Nghị Phụ và các nhà thần học thời
Trung Cổ, từ Hy Lạp hypostasis đă được giữ lại trong tiếng La Tinh
bằng thuật ngữ substantia. Thành ra, bản dịch La Tinh của đoạn văn
vào thời Giáo Hội sơ khai được đọc là: Est autem fides sperandarum
substantia rerum, argumentum non apparentium “Đức tin là bản chất
của những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”.
Thánh Tôma Aquinas, 4 khi dùng thuật ngữ này của triết học truyền
thống mà ngài thuộc về, đă giải thích điều đó như sau: đức tin là một
habitus, nghĩa là, một xu hướng ổn định tinh thần, qua đó cuộc sống vĩnh cửu
đâm rễ trong chúng ta và lư trí được dẫn dắt đến chỗ tán thành điều nó không
thấy được. Khái niệm “bản chất”, do đó, được thay đổi theo nghĩa là qua đức
tin, từ lúc phôi thai, hay có thể nói là khi “c̣n trong trứng nước” - và như
thế là theo “bản chất” – đă hiện diện trong ta những điều chúng ta hy vọng:
đó là cuộc sống tổng thể, và chân thật. Và v́ chính điều này đă hiện diện,
sự hiện hữu này của điều sẽ xảy đến cũng tạo ta sự chắc chắn: “điều” chắc
chắn phải xảy đến này tuy chưa hữu h́nh với thế giới bên ngoài (nó không
“xuất hiện”), nhưng v́ sự kiện là chúng ta mang nó bên trong ta như một thực
tại sơ khởi và năng động, một cảm nhận nào đó về nó cũng tồn tại ngay lúc
này. Đối với Luther, người đặc biệt không thích Thư Do Thái, khái
niệm “chất liệu”, trong bối cảnh quan điểm về đức tin của ông ta, chẳng có
nghĩa ǵ. V́ thế, ông ta hiểu thuật ngữ hypostasis/substance không
theo nghĩa khách quan (như một thực tại hiện diện bên trong ta), nhưng theo
nghĩa chủ quan, như là một thái độ nội tâm, và v́ thế đương nhiên ông phải
hiểu từ argumentum như một xu hướng của chủ thể. Trong thế kỷ 20, sự
diễn dịch này rất thịnh hành – ít nhất là tại Đức – cả nơi những nhà chú
giải Thánh Kinh Công Giáo, đến mức bản dịch đại kết cuốn Tân Ước bằng tiếng
Đức, được các Đức Giám Mục phê chuẩn, đă dịch như sau: Glaube aber ist:
Feststehen in dem, was man erhofft, berzeugtsein von dem, was man nicht
sieht (Đức tin là kiên định trong những điều ta hy vọng, là tin
tưởng nơi những điều ta không thấy). Điều này tự nó không phải là sai, nhưng
đó không phải là ư nghĩa của đoạn văn, v́ bản tiếng Hy Lạp dùng từ
elenchos là từ không có nghĩa chủ thể của từ “tin tưởng” nhưng có một
nghĩa như đối tượng của từ “bằng chứng”. Do đó, gần đây các nhà chú giải
Thánh Kinh Tin Lành đă đạt đến một diễn dịch khác: “Tuy chưa phải là một vấn
nạn nhưng hiểu biết cổ điển của Tin Lành là không thể đứng vững được” 5.
Đức tin không chỉ đơn thuần là sự vươn tới của cá nhân hướng về những điều
sẽ xảy đến nhưng đến nay vẫn hoàn toàn vắng bóng: đức tin c̣n đem lại cho
chúng ta điều ǵ đó. Đức tin đem đến cho ta ngay cả lúc này đây những phần
của thực tại chúng ta đang trông chờ, và thực tại này đem đến cho chúng ta
một “bằng chứng” về những điều c̣n chưa thấy. Đức tin kéo tương lai về với
hiện tại đến mức tương lai không c̣n đơn thuần là một điều ǵ đó “chưa đến”.
Sự kiện là tương lai đang hiện hữu thay đổi hiện tại; hiện tại này được thực
tại trong tương lai tác động đến, và v́ thế những ǵ của tương lai tuôn trào
vào những ǵ của hiện tại và những ǵ của hiện tại tuôn trào vào những ǵ
của tương lai.
8. Lối giải thích này càng được củng cố và liên hệ
với đời sống hàng ngày hơn nữa nếu chúng ta xét đến câu 34 trong Thư Do
Thái, được liên kết qua từ vựng và nội dung với định nghĩa về
đức-tin-chất-chứa-hy-vọng và lót đường cho định nghĩa đó. Ở đây, tác giả đề
cập với các tín hữu, những người đă phải trải qua kinh nghiệm của bách hại
và ngài nói với họ “anh em đă thông phần đau khổ với những người bị tù tội,
và đă vui mừng để cho người ta tước đoạt của cải (hyparchonton —Vg.
bonorum), bởi biết rằng ḿnh có những của (hyparxin —Vg.
substantiam) vừa quư giá hơn lại vừa bền vững”. Hyparchonta chỉ
về tài sản, là điều góp phần tạo nên phương tiện nâng đỡ trên trần thế, thực
ra là cơ sở, là “chất liệu” cho cuộc sống mà chúng ta phải phụ thuộc. “Chất
liệu” này, nguồn bảo đảm cuộc sống b́nh thường, đă bị tước đi khỏi các Kitô
hữu khi họ bị bắt bớ. Dù vậy, họ đă đứng vững, bởi họ xem chất liệu vật chất
này nhẹ như lông hồng. Họ có thể từ bỏ nó v́ họ t́m thấy một “cơ sở” tốt hơn
cho sự hiện hữu của ḿnh – một cơ sở trường tồn, mà không ai tước mất đi
được. Chúng ta không thể bỏ qua sự liên kết giữa hai dạng “chất liệu”, giữa
phương tiện nâng đỡ hay cơ sở vật chất và đức tin như một “cơ sở”, một “chất
liệu” bền vững. Đức tin tạo cho cuộc sống một cơ sở mới, một nền tảng giúp
chúng ta đứng vững, một nền tảng làm tương đối hóa cái nền tảng thông thường
là sự phụ thuộc vào thu nhập vật chất. Một h́nh thái tự do mới nảy sinh liên
quan đến nền tảng thông thường của cuộc sống, là điều dường như chỉ có thể
đưa ra sự nâng đỡ, mặc dù hiển nhiên là ta không thể phủ nhận ư nghĩa thông
thường của nó. H́nh thái tự do mới này, sự nhận thức về “chất liệu” mới mà
chúng ta đă được ban cho, được diễn tả không chỉ riêng trong việc tử đạo,
khi con người chống lại cường quyền của ư thức hệ và các cơ cấu chính trị,
và qua cái chết của ḿnh, canh tân thế giới. Trên tất cả, sự tự do đó được
nh́n thấy nơi những hành vi từ bỏ ḿnh, từ các tu sĩ thời xa xưa tới Thánh
Phanxicô thành Assisi và những vị trong thời đại chúng ta đă bước vào những
ḍng tu và những phong trào hiện đại, bỏ lại sau lưng tất cả v́ t́nh yêu
dành cho Chúa Kitô, và để giúp những ai đang đau khổ trong thân xác và tâm
hồn. Trong trường hợp của họ, “chất liệu” mới được chứng minh là “chất liệu”
thật; từ hy vọng của những vị này, những người đă rung động v́ Đức Kitô, hy
vọng vươn lên cho những ai đang sống trong tăm tối và vô vọng. Trường hợp
của các vị này cho thấy cuộc sống mới thực sự làm chủ và là “chất liệu” đem
đến cuộc sống cho tha nhân. Với chúng ta, những người đang chiêm ngắm những
h́nh ảnh này, cách thức hành động và sống của họ là một “bằng chứng” thực
sự cho thấy những ǵ sẽ xảy đến, lời hứa của Chúa Kitô, không chỉ là một
thực tại mà chúng ta chờ đón, nhưng là một thực tại hiện hữu: Ngài thật là
một “triết gia” và một “mục tử” Đấng chỉ ra cho chúng ta sự sống là ǵ và có
thể t́m thấy nó nơi đâu.
9. Để hiểu sâu xa hơn suy tư về hai dạng chất liệu
này - hypostasis và hyparchonta - và về hai lựa chọn trong
cuộc sống thể hiện nơi những thuật ngữ này, chúng ta cần tiếp tục với một
suy tư ngắn về hai từ có liên quan đến cuộc tranh luận được t́m thấy nơi
chương thứ Mười của Thư Do Thái. Tôi muốn đề cập đến hai từ
hypomone (10:36) và hypostole (10:39). Hypo- mone thường
được dịch là “nhẫn nại” – bền đỗ, kiên định. Biết cách chờ đợi như thế nào,
trong khi nhẫn nại chịu đựng thử thách, là điều cần thiết cho các tín hữu để
“nhận được điều đă hứa” (10:36). Trong bối cảnh tôn giáo của Do Thái Giáo cổ,
từ này được dùng để thể hiện cho ḷng kỳ vọng Thiên Chúa, Đấng được coi là
biểu tượng của Israel, cũng như cho sự trung tín kiên định với Thiên Chúa
trên cơ sở vững tin vào Giao Ước trong một thế giới thù địch với Ngài. V́
thế, từ này chỉ một hy vọng sống động, một cuộc sống dựa trên sự chắc chắn
của niềm hy vọng. Trong Tân Ước, ḷng kỳ vọng Thiên Chúa, thái độ vững tin
nơi Thiên Chúa này, có một ư nghĩa mới: trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đă mạc
khải chính ḿnh. Ngài đă thông truyền cho chúng ta “chất liệu” của những ǵ
đang đến, và v́ thế ḷng trông mong Thiên Chúa đạt đến một sự chắc chắn mới.
Đó là ḷng trông đợi những ǵ sẽ đến từ viễn ảnh của một hồng ân đă được
trao ban. Đó là sự trông đợi- hướng về phía trước từ sự hiện diện của Chúa
Kitô, với Đức Kitô, Đấng đang hiện diện, mà hướng đến sự hoàn hảo của Nhiệm
Thể Ngài, hướng đến sự quang lâm chắc chắn của Ngài. Từ hypostole,
ngược lại, có nghĩa là thu ḿnh lại do thiếu can đảm nói công khai và thẳng
thắn một sự thật có thể đem đến hiểm nguy. Ẩn dấu do sự khiếp sợ dẫn tới “hư
vong” (Dt 10:39). Trái lại, “Thiên Chúa đă chẳng ban cho chúng ta một
thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến
chúng ta được đầy sức mạnh, t́nh thương, và biết tự chủ” là cách thế tuyệt
đẹp mà Thư Thứ Hai gởi Timôthêô (2 Tm 1:7) đă diễn tả về thái
độ căn bản của người Kitô hữu.
Sự sống đời đời – Điều này là ǵ vậy?
10. Đến nay chúng ta đă đề cập đến đức tin và niềm hy
vọng trong Tân Ước và trong thời kỳ Kitô Giáo tiên khởi; nhưng luôn luôn rơ
là chúng ta đang đề cập đến không chỉ quá khứ mà thôi. Thật vậy, toàn bộ suy
tư này liên quan đến sống và chết cách đại cương, và do đó, nó cũng liên
quan đến chúng ta nơi đây và hiện nay. V́ thế, chúng ta phải thẳng thắn đặt
câu hỏi: liệu đức tin Kitô Giáo cũng dành cho chúng ta ngày nay một niềm hy
vọng đổi-đời và nâng đỡ-cuộc-sống hay không?
Liệu niềm hy vọng đó có tính chất “tác động” với
chúng ta – đó có phải là một sứ điệp nhào nặn cuộc đời ta trong một cách thế
mới, hay nó chỉ mang tính chất “thông tin” mà, lúc này đây, chúng ta gác qua
một bên, và thông tin đó đối với chúng ta giờ đây dường như đang bị đè bẹp
bởi những thông tin khác mới mẻ hơn? Để t́m ra câu trả lời, tôi muốn bắt đầu
với h́nh thức đối thoại cổ điển trong nghi thức Rửa Tội được cử hành khi
tiếp rước một hài nhi sơ sinh vào trong cộng đoàn các tín hữu và chào đón ơn
tái sinh của hài nhi trong Chúa Kitô. Đầu tiên, vị linh mục hỏi cha mẹ xem
ông bà đặt tên cho con trẻ là ǵ, và ngài tiếp tục với câu hỏi: “Ông bà anh
chị em xin điều ǵ nơi Giáo Hội?” Thưa: “Đức tin”. “Đức tin đó đem lại cho
ông bà anh chị em điều ǵ?” “Sự sống đời đời”. Theo đoạn đối thoại này, các
bậc cha mẹ đang t́m kiếm đức tin cho con cái họ, và sự hiệp thông với các
tín hữu, v́ họ thấy nơi đức tin ch́a khóa dẫn đến “sự sống đời đời”.
Ngày nay cũng như trong quá khứ, đó là toàn bộ ư
nghĩa của việc được rửa tội, được trở nên Kitô hữu: đó không phải chỉ là một
hành động xă giao trong cộng đoàn, không đơn thuần là một sự tiếp đón vào
Giáo Hội. Các bậc cha mẹ trông đợi nhiều hơn cho con trẻ được rửa tội: họ
mong rằng đức tin, bao gồm cả bản tính trần thế của Giáo Hội và các phép bí
tích sẽ đem lại sự sống cho đứa trẻ - một sự sống đời đời. Đức tin là chất
liệu của hy vọng. Nhưng, một câu hỏi được đặt ra: liệu chúng ta có thực sự
mong muốn điều này – là được sống đời đời không? Có lẽ nhiều người ngày nay
từ khước đức tin chỉ v́ họ không thấy hứng thú nơi viễn ảnh của cuộc sống
đời đời. Điều họ muốn không phải là sự sống đời đời một chút nào, nhưng là
cuộc sống hiện nay, cuộc sống mà đức tin vào sự sống đời đời dường như trở
nên một điều ǵ đó gây ngăn trở. Tiếp tục sống đời đời – không chấm dứt –
dường như là một lời nguyền hơn là một ân sủng. Sự chết, phải thừa nhận, là
ta muốn tŕ hoăn nó bao lâu có thể. Nhưng sống hoài, không dứt – điều này,
xét cho cùng, có thể là ngao ngán và tối hậu là không thể chịu đựng nổi. Đây
chính là một luận điểm được đưa ra, chẳng hạn, bởi Thánh Ambrose, một trong
các Giáo Phụ của Giáo Hội, trong bài điếu văn cho người anh em quá cố của
ngài là Satyrus: “Sự Chết không phải là một phần của tự nhiên, nhưng đă trở
nên tự nhiên. Tự thuở ban đầu Thiên Chúa đă không truyền án phạt phải chết;
Ngài phải đề ra nó như một phương dược. Cuộc sống con người, v́ tội lỗi.. đă
bắt đầu cảm nhận gánh nặng của sự bơ phờ trong lao động không ngơi và trong
buồn sầu không thể chịu nổi. Cần phải có giới hạn cho những đau khổ của cuộc
sống; cái chết phải phục hồi lại điều sự sống đă tước mất. Không có sự trợ
giúp của ơn sủng, bất tử trở thành một gánh nặng nhiều hơn là một ơn phúc”
6. Trước đó ít lâu, Thánh Ambrose đă nói: “Cái chết, do đó, không
phải là duyên cớ để khóc lóc, v́ nó là căn cớ cho ơn cứu độ của nhân loại”.7
11. Dù chính xác là Thánh Ambrose muốn nói ǵ qua
những lời này đi chăng nữa, thật đúng là việc loại trừ sự chết hay tŕ hoăn
nó dù đến vô hạn hay không đều đặt trái đất và nhân loại trong một t́nh
huống không thể được, và ngay cả cá nhân cũng không được lợi ǵ. Hiển nhiên
có một mâu thuẫn trong thái độ chúng ta, là điều cho thấy một mâu thuẫn nội
tại sâu xa trong chính sự hiện hữu của chúng ta. Một mặt chúng ta không muốn
chết; trước tiên là v́ những người thân của chúng ta không muốn chúng ta
chết. Nhưng mặt khác, chúng ta chẳng muốn tiếp tục sống vô hạn và trái đất
cũng chẳng được tạo thành theo quan điểm đó. Chúng ta thật sự muốn cái ǵ
đây? Thái độ bất nhất của chúng ta dẫn tới một câu hỏi sâu xa hơn: thực ra
sự sống là ǵ? Và “đời đời” nghĩa là sao? Có những lúc nào đó đột nhiên
chúng ta thấy dường như là rơ ràng: vâng, “sự sống” thật là đây - đây chính
là điều mà sự sống phải là. Bên cạnh đó, điều mà chúng ta gọi là “sự sống”
trong ngôn ngữ hàng ngày chẳng phải là “sự sống” thật chút nào. Thánh
Augustinô, trong một lá thư ngỏ về cầu nguyện mà ngài gởi cho bà Proba, một
mệnh phụ phu nhân góa và là thân mẫu của ba viên lănh sự, có lần đă viết:
tối hậu là chúng ta chỉ muốn điều này – một “cuộc sống đầy ơn phúc”, một
cuộc sống đơn giản, một “hạnh phúc” đơn sơ. Trong phân tích cuối cùng, chúng
ta không xin ǵ khác hơn trong kinh nguyện của chúng ta. Cuộc lữ hành trần
thế của chúng ta không có mục tiêu nào khác – tất cả chỉ nhằm mục đích đó.
Nhưng khi đó, Thánh Augustinô cũng nói: khi nh́n kỹ hơn, chúng ta không biết
tối hậu điều chúng ta ao ước là ǵ, thực ra chúng ta mong muốn cái ǵ. Chúng
ta chẳng biết ǵ về thực tại này; ngay cả trong những thời điểm chúng ta
nghĩ là có thể vươn tới và động chạm đến nó, nó vượt khỏi chúng ta. “Chúng
ta không biết điều mà chúng ta nên cầu xin như chúng ta phải làm”, ngài nói
thế khi trích dẫn Thánh Phaolô Tông Đồ (Rom 8:26). Tất cả điều chúng
ta biết là điều đó không phải như thế này, thế nọ. Dù không biết tường tận,
chúng ta cũng biết là thực tại này phải tồn tại. Ngài viết: “Thành ra, trong
chúng ta có một mức độ ngu dốt có ư thức (docta ignorantia ) nào đó,
có thể nói như thế”. Chúng ta không biết điều chúng ta thực sự muốn; chúng
ta không biết “sự sống” thật này; nhưng chúng ta biết rằng chắc chắn có một
điều chúng ta không biết mà chúng ta vẫn cảm thấy bị lôi cuốn về đó. 8
12. Tôi nghĩ là trong cách thế rất chính xác luôn có
giá trị này, Thánh Augustinô đang diễn tả t́nh trạng thiết yếu của con người,
một t́nh trạng đưa đến tất cả những nghịch lư và hy vọng của anh ta. Một mặt,
chúng ta muốn chính sự sống, sự sống thật, không bị động chạm đến ngay cả
bởi cái chết; nhưng một mặt chúng ta lại không biết về điều chúng ta cảm
thấy bị lôi cuốn hướng đến. Chúng ta không thể ngừng vươn tới để đạt được nó,
nhưng chúng ta lại biết là tất cả những ǵ chúng ta có thể vươn tới hay đạt
được lại không phải là điều chúng ta ước vọng. “Cái” chưa biết này là “hy
vọng” thực sự thúc đẩy chúng ta, và đồng thời sự kiện là nó chưa tường minh
là căn cớ cho mọi h́nh thái thất vọng, và cả cho tất cả những nỗ lực, dù
tích cực hay hủy hoại, hướng đến sự chân thật trần thế hay nhân loại. Thuật
ngữ “sự sống đời đời” đă được đưa ra để đặt tên cho “cái biết là không biết”
này. Dĩ nhiên, không thể tránh khỏi, thuật ngữ không đầy đủ này đă tạo ra
ngộ nhận. Thật vậy, “Đời đời” gợi cho chúng ta ư tưởng về điều ǵ đó không
chấm dứt, và điều đó làm chúng ta lo sợ; “sự sống” khiến chúng ta nghĩ đến
cuộc sống mà chúng ta biết và yêu mến nó, cũng như không muốn đánh mất đi,
dù rằng thường khi nó mang lại nhiều phiền nhiễu hơn là thỏa măn, đến mức
một mặt chúng ta muốn, một mặt chúng ta lại không muốn cuộc sống đó. Hăy
tưởng tượng chúng ta đang được đứng bên ngoài cơi tạm đang giam cầm chúng ta
và ở một mức nào đó cảm thấy được rằng đời đời không phải là một chuỗi vô
hạn những ngày tháng kế tiếp nhau của thời gian, nhưng là điều ǵ đó giống
giây phút tột cùng của thỏa măn hơn, trong đó tổng thể ôm lấy chúng ta và
chúng ta ôm lấy tổng thể - chúng ta chỉ có thể thử nghĩ như vậy. Nó giống
như là nhào vào đại dương của t́nh yêu vô hạn, một thời khắc trong đó thời
gian – trước và sau - không c̣n hiện hữu nữa. Chúng ta chỉ có thể nắm bắt ư
tưởng là một thời khắc như vậy là cuộc sống đầy đủ ư nghĩa, một sự nhận ch́m
mới mẻ chưa từng có vào trong cơi bao la của nhân sinh, trong đó chúng ta
ngập tràn niềm vui. Đó chính là cách Chúa Giêsu đă diễn tả trong Tin Mừng
theo Thánh Gioan: “Thầy sẽ gặp lại anh em, ḷng anh em sẽ vui mừng; và niềm
vui của anh em, không ai lấy mất được” (Ga 16:22). Chúng ta cần suy
tư theo những ḍng này nếu chúng ta muốn hiểu đối tượng của niềm hy vọng
Kitô Giáo, muốn hiểu về điều mà đức tin của chúng ta, chất Kitô hữu của
chúng ta, khiến chúng ta trông mong.9
Niềm hy vọng Kitô Giáo có phải là một niềm hy
vọng cá nhân?
13. Theo ḍng lịch sử, các Kitô hữu đă cố gắng diễn
tả điều “biết là không biết” này qua phương tiện những h́nh ảnh thể hiện ra
được, và họ đă phát triển h́nh ảnh về “Thiên Đàng” c̣n rất xa với điều mà,
nói cho cùng, chỉ có thể biết đến một cách rất tiêu cực, v́ không biết. Tất
cả những cố gắng diễn tả hy vọng này đă đem đến cho nhiều người, qua các thế
kỷ, một linh hứng để sống theo đức tin và do đó từ bỏ hyparchonta – cơ sở
vật chất cho cuộc sống của họ. Tác giả của Thư Do Thái, trong chương
thứ Mười Một, đă tổng kết một h́nh thức lịch sử về những ai sống trong hy
vọng, và về cuộc hành tŕnh của họ, một lịch sử kéo dài từ thời Abel cho tới
thời của tác giả. H́nh thái hy vọng này đă là đối tượng cho một thứ chỉ
trích ngày càng gay gắt trong thời buổi hiện nay: nó bị coi là một niềm hy
vọng duy cá nhân, một cách thế chối bỏ thế giới với những đau khổ của nó và
t́m nương náu nơi một h́nh thái giải thoát vĩnh cửu có tính cách riêng tư.
Henri de Lubac, trong lời phi lộ của cuốn sách có thế giá Catholicisme.
Aspects sociaux du dogme (Giáo lư Công Giáo – Những khía cạnh xă hội của tín
lư) đă tổng hợp một số những phát biểu đặc trưng của quan điểm này, một
trong số đó đáng để trích ra nơi đây: “Tôi đă t́m thấy niềm vui chăng? Không
…chỉ là niềm vui của tôi, và đó là điều thật khác biệt.. Niềm vui của
Chúa Giêsu có thể là riêng tư. Nó chỉ thuộc về một con người đơn độc và Ngài
được giải thoát. Ngài được an b́nh.. bây giờ và măi măi, nhưng Ngài cô đơn.
Tính chất cô lập của niềm vui này không làm Ngài khó chịu. Trái lại, v́ Ngài
là người được chọn! Trong ơn phúc của Ngài, Ngài bước qua những băi chiến
trường với một bông hồng trên tay”10
14. Chống lại quan điểm này, khi trưng ra hàng loạt
những luận điểm thần học của các Giáo Phụ, de Lubac đă có thể chứng minh
rằng ơn cứu độ luôn được xem là một thực tại “xă hội”. Thật vậy, Thư Do
Thái đề cập đến một “thành phố” (x 11:10, 16; 12:22; 13:14) và do đó về
ơn cứu độ tập thể. Nhất quán với quan điểm này, các Giáo Phụ luôn coi tội
lỗi là sự huỷ hoại sự hiệp nhất của nhân loại, là sự đổ vỡ và chia rẽ. Tháp
Babel, nơi các ngôn ngữ rối loạn, nơi của phân ly, được coi như một biểu
tượng cho thấy tội lỗi về căn bản nghĩa là ǵ. Do đó, “ơn cứu chuộc” xuất
hiện như sự phục hồi t́nh hiệp nhất, trong đó chúng ta lại cùng đến với nhau
trong sự hiệp thông được bắt đầu h́nh thành nơi cộng đoàn các tín hữu. Chúng
ta không cần quan tâm đến tất cả mọi văn bản trong đó nói lên tính chất xă
hội của niềm hy vọng Kitô Giáo. Ở đây, chúng ta hăy chú tâm đến Thư gởi
cho Proba trong đó Thánh Augustinô cố gắng minh họa ở một mức độ nào đó
điều “biết là không biết” mà chúng ta đang t́m kiếm. Khởi điểm của ngài đơn
giản là thành ngữ “cuộc sống đầy ơn phúc”. Sau đó, ngài trích dẫn Thánh
Vịnh 144 [143]:15 “Hạnh phúc thay dân nào được Thiên Chúa là Chúa”. Và
ngài tiếp tục: “Để có thể được kể trong hàng dân tộc này và đạt được …sự
sống đời đời với Thiên Chúa, ‘Lệnh truyền đó tối hậu phải đưa tới đức mến
phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả
h́nh’ (1 Tm 1:5) 11. Sự sống thật mà chúng ta hằng vươn
tới được liên kết với một sự hiệp thông sống động với một “dân tộc”, và với
mỗi cá nhân, sự sống ấy chỉ có thể đạt được trong cái “chúng tôi” này. Điều
này giả định rằng chúng ta phải thoát ra được tù ngục là “cái tôi” của ḿnh,
v́ chỉ trong sự cởi mở của chủ thể vũ trụ này, chúng ta mới có thể hướng
nh́n đến nguồn mạch của niềm vui, đến chính t́nh yêu – nghĩa là đến Thiên
Chúa.
15. Trong khi viễn kiến hướng đến cộng đoàn của “cuộc
sống đầy ơn phúc” chắc chắn là vượt lên thế giới hiện nay, viễn kiến này
cũng liên quan đến việc xây đắp thế giới trước mắt – trong những cách thức
đa dạng, tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử và những khả năng được trao cho hay
bị tước mất đi. Trong thời của Thánh Augustinô, những cuộc xâm nhập của các
dân tộc mới đe dọa tính chất mạch lạc của thế giới, thành ra cần phải có một
sự bảo đảm nào đó về luật pháp và cuộc sống trong một xă hội trật tự pháp
quyền; nên vào lúc đó, vấn đề là phải tăng cường các nền tảng căn bản cho sự
cộng sinh trong ḥa b́nh, ngơ hầu có thể tồn tại được trong một thế giới
đang chuyển biến. Giờ đây, chúng ta hăy xem xét một vài giai đoạn được chọn
ngẫu nhiên ở mức nào đó trong thời Trung Cổ, nhằm minh họa một vài khía cạnh
về điều chúng ta đang đề cập. Thông thường, người ta cho rằng các ḍng tu là
những nơi trốn tránh thế giới (contemptus mundi ) và những nơi trốn
chạy trách nhiệm với thế giới, nhằm t́m cho ḿnh ơn giải thoát cá vị. Thánh
Bernard thành Clairvaux, người đă linh hướng đông đảo những thanh niên bước
vào những tu viện thuộc ḍng cải cách của ngài, có một cái nh́n khác xa về
điều này. Theo quan điểm của ngài, các tu sĩ thực thi một công việc cho toàn
thể Giáo Hội và do đó, cho toàn thế giới. Ngài đă dùng nhiều h́nh ảnh để
minh họa cho bổn phận mà các tu sĩ phải gánh vác trước toàn thể Giáo Hội, và
đương nhiên là trước nhân loại; ngài áp dụng cho họ những lời của Pseudo-Rufinus:
“Nhân loại sống nhờ vào một vài người; nếu không có họ, thế giới sẽ bị hủy
diệt…”12. Ngài cho biết các tu sĩ chiêm niệm - contemplantes
- phải trở thành những người lao động nông nghiệp - laborantes. Tính
chất cao thượng của lao động, mà Kitô Giáo kế thừa từ Do Thái Giáo, đă được
thể hiện trong những luật ḍng Augustinô và ḍng Biển Đức. Thánh Bernard đă
lấy lại ư tưởng này lần nữa. Những thanh niên cao thượng tuôn đến những tu
viện của ngài đă phải tham gia vào những việc lao động chân tay. Thật ra,
Thánh Bernard đă minh nhiên khẳng định rằng tu viện không chỉ phục hồi Vườn
Địa Đàng, nhưng ngài nhấn mạnh rằng, như một nơi “cầy tung sỏi đá” cách thực
tiễn và thiêng liêng, tu viện phải chuẩn bị cho Vườn Địa Đàng mới. Một lô
đất hoang trong rừng được khai phá mầu mỡ - và trong tiến tŕnh đó, những
cây kiêu ngạo bị đổ xuống, bất cứ nơi nào cỏ lùng đâm rễ trong tâm hồn đều
được nhổ sạch, và miếng đất, do đó, được chuẩn bị cho bánh ḿ của thân xác
và linh hồn có thể trổ sinh hoa trái. 13 Không lẽ chúng ta không
nh́n thấy lần nữa, trong ánh sáng của lịch sử hiện nay, là không có một trật
tự thế giới tích cực nào có thể vươn lên nơi những tâm hồn đă quá chai đá?
Sự biến hóa của đức tin-hy vọng Kitô trong thời
đại tân tiến
16. V́ đâu mà lại nảy sinh ra cái ư tưởng cho rằng
thông điệp của Chúa Giêsu chỉ hạn hẹp trong chiều kích riêng tư và chỉ nhắm
vào từng cá nhân đơn lẻ? Làm sao chúng ta lại đi đến diễn dịch coi “ơn cứu
độ linh hồn” như là cuộc trốn chạy toàn bộ trách nhiệm, và cớ sự nào lại ra
nông nỗi coi dự án Kitô Giáo như một cuộc t́m kiếm ích kỷ ơn cứu độ, trong
đó khước từ ư tưởng phục vụ tha nhân. Để t́m ra một câu trả lời, chúng ta
phải nh́n vào những nền tảng của thời đại tân tiến. Những nền tảng này hiện
rơ cách đặc biệt trong ư tưởng của Francis Bacon. Không thể phủ nhận rằng
một thời kỳ mới đă xuất hiện thông qua việc khám phá ra Châu Mỹ, và những
thành tựu kỹ thuật đă làm cho sự phát triển thời kỳ mới này trở nên khả thi.
Nhưng cơ sở của thời đại mới này là ǵ? Đó là sự tương quan mới giữa thực
nghiệm và phương pháp luận cho phép con người đạt đến một diễn dịch về thiên
nhiên dựa theo những định luật của nó và chung cuộc là đạt đến “sự toàn
thắng của nghệ thuật trên tự nhiên” (victoria cursus artis super naturam).14
Cái mới - theo cách nh́n của Bacon – nằm nơi mối tương quan giữa khoa học và
ứng dụng [bản tiếng Anh: science and praxi - bản tiếng Ư: scienza e prassi –
Chú thích của người dịch: Triết gia Aristotle chia các hoạt động con người
thành 3 loại căn bản theoria (tư duy lư thuyết), poiesis (sản xuất) và
praxis (hành động)]. Điều này cũng dẫn đến một hệ quả thần học: mối tương
quan mới giữa khoa học và ứng dụng sẽ có nghĩa là quyền năng thống trị trên
tạo vật - được Chúa ban cho nhân loại và bị mất đi v́ tội nguyên tội – sẽ
được phục hồi. 15
17. Bất cứ ai đọc và suy tư những khẳng định này một
cách kỹ càng đều nhận ra là một bước đáng kinh sợ đă xảy ra: cho đến lúc đó,
việc phục hồi lại cái mà con người đă đánh mất khi bị trục xuất khỏi Vườn
Địa Đàng vẫn trông cậy nơi đức tin vào Chúa Giêsu Kitô: nơi đặt để “ơn cứu
độ”. Nhưng, giờ đây, ơn cứu độ này, việc phục hồi lại “Vườn Địa Đàng” đă mất,
không c̣n cần đến đức tin nữa, nhưng sẽ nhờ vào cái liên kết mới được khám
phá giữa khoa học và ứng dụng. Chẳng phải là đức tin sẽ bị thẳng thừng từ bỏ;
nhưng nó bị đặt sang một lănh vực khác – lănh vực của những chuyện thuần tuư
riêng tư và thuộc về một thế giới khác – và đồng thời đức tin trở nên một
điều ǵ đó không ăn chung ǵ với thế giới này. Quan điểm máy móc này đă vạch
ra con đường của thời đại mới và cũng h́nh thành nên cuộc khủng hoảng đức
tin ngày nay, một cuộc khủng hoảng về cơ bản là cuộc khủng hoảng hy vọng
Kitô Giáo. V́ thế, theo Bacon, hy vọng cũng khoác lên ḿnh một h́nh thái mới.
Giờ đây, nó được gọi là: niềm tin vào tiến bộ. Đối với Bacon, rơ ràng
là làn sóng những khám phá và phát minh chỉ mới là khởi đầu; thông qua tác
động hỗ tương giữa khoa học và ứng dụng, những khám phá hoàn toàn mới mẻ sẽ
diễn ra, một thế giới hoàn toàn mới sẽ xuất hiện, đó là vương quốc loài
người. 16 Bacon c̣n đưa ra một viễn kiến với những phát minh có
thể thấy trước được – bao gồm máy bay và tầu ngầm. Khi ư thức hệ về tiến bộ
tiến xa hơn nữa, niềm hân hoan phấn khích trước những bước tiến nh́n thấy
được của tiềm năng nhân loại sẽ tiếp tục tăng cường một niềm tin vào tiến
bộ như thế.
18. Đồng thời, có hai phạm trù ngày càng trở nên
trung tâm của lư thuyết tiến bộ: đó là lư trí và tự do. Tiến bộ được gắn chủ
yếu với sự thống trị ngày càng mạnh của lư trí, và lư trí này được công
nhiên xem là một lực thiện và một lực cho điều thiện. Tiến bộ là vượt lên
mọi h́nh thái của lệ thuộc – đó là một tiến tŕnh hướng đến tự do hoàn toàn.
Cũng thế, tự do được xem thuần tuư như một lời hứa, trong đó con người trở
nên càng ngày càng hoàn toàn là chính ḿnh. Trong cả hai khái niệm đó – tự
do và lư trí – có một khía cạnh chính trị. Thực ra, vương quốc của lư trí
được trông đợi như một t́nh trạng mới của nhân loại một khi nó đạt được tự
do hoàn toàn. Tuy vậy, những điều kiện chính trị của một vương quốc lư trí
và tự do như thế thoạt nh́n đă thấy ngay là một điều ǵ đó được định nghĩa
bệnh hoạn. Lư trí và tự do dường như có thể tự ḿnh, do bởi bản thiện nội
tại của chúng, bảo đảm cho một cộng đồng nhân loại mới và hoàn thiện. Nhưng
hai cái khái niệm then chốt là “lư trí” và “tự do” này đă được hiểu ngầm là
xung khắc với những trói buộc của đức tin và của Giáo Hội, cũng như của
những cơ cấu chính trị đương đại. Thành thử, cả hai khái niệm đó đều chứa
đựng một tiềm năng cách mạng của một lực bùng nổ quy mô.
19. Chúng ta cần nh́n qua hai giai đoạn thiết yếu
trong việc hiện thực hóa chính trị niềm hy vọng này, v́ chúng có tầm quan
trọng to lớn trên sự phát triển của niềm hy vọng Kitô, để rồi chúng ta có
thể hiểu đúng về niềm hy vọng đó và về những lư do cho sự dai dẳng của nó.
Trước hết, đó là cuộc cách mạng Pháp – một cố gắng để thiết lập luật lư trí
và tự do như một thực tại chính trị. Thoạt đầu, châu Âu của thời Khai Sáng
nh́n những biến cố này rất hào hứng, nhưng rồi, trong tiến tŕnh của chúng,
chúng đă khiến người ta phải suy tư một cách mới mẻ hơn về lư trí và tự do.
Một minh họa tốt cho hai giai đoạn trong việc đón nhận những biến cố này tại
Pháp được t́m thấy trong hai bài luận văn của Immanuel Kant trong đó ông suy
tư về những ǵ đă xảy ra. Năm 1792, ông viết cuốn Der Sieg des guten
Prinzips ber das bưse und die Grndung eines Reiches Gottes auf Erden (“Chiến
thắng của Sự Thiện trên Nguyên Tắc Tàn Ác và Việc H́nh Thành một Nước Trời
trên Trần Gian”). Trong bản văn đó, ông viết như sau: “Việc chuyển dần niềm
tin giáo hội sang sự thống trị độc quyền của niềm tin thuần tuư tôn giáo là
sự quang lâm của Nước Trời”17. Ông c̣n nói với chúng ta rằng các
cuộc cách mạng có thể gia tốc tiến tŕnh chuyển từ niềm tin giáo hội đến
niềm tin lư trí. “Nước Trời” được Chúa Giêsu công bố giờ đây được khoác cho
một định nghĩa mới và một dạng thức hiện diện mới; một “kỳ vọng tức khắc”
mới, có thể nói như thế; và “Nước Trời” ấy đang đến: “Nước Trời” đến khi
“niềm tin giáo hội” bị đánh bại và bị đè bẹp bởi “niềm tin tôn giáo”, nghĩa
là, bởi một thứ đức tin thuần lư. Năm 1795, trong cuốn Das Ende aller
Dinge (“Cáo chung của tất cả mọi thứ’”) một h́nh ảnh khác hẳn đă xuất
hiện. Giờ đây, Kant xem xét khả năng là bên cạnh kết thúc tự nhiên của mọi
thứ có thể có một thứ khác không tự nhiên, với một kết cục quái lạ. Ông ta
viết về điểm này như sau: “Nếu có một ngày nào đó Kitô Giáo ngừng không đáng
được ưa chuộng nữa.. th́ lúc đó tâm tư thịnh hành trong nhân loại sẽ là từ
chối và chống lại nó; và tên Chống Chúa.. sẽ bắt đầu triều đại - dù chóng
qua - của hắn ( được giả định đặt cơ sở trên sợ hăi và ích kỷ); nhưng khi đó,
v́ Kitô Giáo dù đă được định là tôn giáo thế giới, trong thực tế lại không
được ưa chuộng như đă định, th́ trên phương diện luân lư mà nói, điều này sẽ
dẫn đến một sự cáo chung (quái lạ) cho tất cả mọi thứ” 18
20. Thế kỷ 19 gia tăng niềm tin nơi tiến bộ như một
h́nh thái hy vọng nhân loại mới, và nó tiếp tục coi lư trí và tự do như
những ngôi sao hướng dẫn trên nẻo đường hy vọng. Dẫu sao, sự tiến bộ nhanh
chóng của phát triển kỹ thuật và hiện tượng kỹ nghệ hóa gắn liền với nó
nhanh chóng đưa tới một t́nh trạng xă hội hoàn toàn mới: xuất hiện một tầng
lớp những người thợ công nghiệp và cái gọi là “giai cấp vô sản”, những người
mà các điều kiện sống thê thảm của họ đă được Friedrich Engels mô tả một
cách đáng báo động vào năm 1845. Với những độc giả của ông ta, câu kết luận
là rất rơ: điều này không thể tiếp tục; một sự thay đổi là cần thiết. Tuy
nhiên, sự thay đổi này sẽ lật nhào toàn bộ cấu trúc của xă hội tư sản. Sau
cuộc cách mạng tư sản năm 1789, giờ đă điểm cho một cuộc cách mạng mới, cách
mạng vô sản: tiến bộ không thể tiếp tục với những bước nhỏ và tiệm tiến. Một
sự nhảy vọt có tính chất cách mạng là điều cần thiết. Karl Marx đón lấy khát
vọng của quần chúng, và áp dụng thứ ngôn ngữ kích động và khôn ngoan vào
trong công tác phát động một bước tiến mới mẻ to lớn và, như ông ta nghĩ, là
bước quyết định trong lịch sử hướng về ơn cứu độ - hướng về điều mà Kant mô
tả là “Nước Trời”. Một khi chân lư về đời sau bị phủ nhận, th́ vấn đề đặt ra
là thiết lập chân lư ngay đây và ngay bây giờ. Phê phán về Thiên Đàng được
chuyển thành phê phán về trần thế, chỉ trích thần học giờ đây trở thành chỉ
trích chính trị. Tiến bộ hướng về điều tốt hơn, về một thế giới thực sự là
tốt, không c̣n đến từ khoa học nữa nhưng từ chính trị - từ một thứ chính trị
mang mầu sắc khoa học trong đó xem xét cấu trúc của lịch sử và xă hội và từ
đó chỉ ra con đường hướng đến cách mạng, hướng đến một sự thay đổi tổng thể.
Marx đă mô tả khá chính xác t́nh trạng trong thời ông ta, dầu là với sự lệch
lạc một chiều nhất định, và với kỹ năng phân tích sắc xảo, ông ta đă nêu ra
những con đường dẫn đến cách mạng – và không chỉ lư thuyết mà thôi: qua
phương tiện cụ thể là Đảng Cộng Sản xuất hiện từ Cương Lĩnh Cộng Sản năm
1848, ông ta đă khởi động cuộc cách mạng này. Lời hứa hẹn, cộng thêm với sự
sắc xảo trong phân tích của ông cũng như chỉ dẫn tường tận về phương tiện để
tạo ra thay đổi cấp tiến này, đă và tiếp tục là một nguồn phấn khích bất tận.
Cách mạng thực sự đă nổ ra trong cách thế triệt để nhất tại Nga.
21. Dù thế, cùng với thắng lợi của cách mạng, sai lầm
căn bản của Marx cũng bộc lộ hiển nhiên. Ông ta chỉ ra chính xác cách thức
lật đổ trật tự hiện nay, nhưng lờ đi không nói ǵ về cách thế tiến hành sau
đó. Ông ta đơn giản giả định rằng với sự tước đoạt tài sản của giai cấp cầm
quyền, với sự sụp đổ quyền lực chính trị và xă hội hoá các phương tiện sản
xuất, một thành Giêrusalem mới sẽ thành hiện thực. Khi đó, cố nhiên, mọi mâu
thuẫn sẽ được giải quyết, con người và thế giới cuối cùng tự ḿnh cũng t́m
ra được giải pháp. Khi đó mọi thứ sẽ tự thân vận động theo đúng đường lối,
v́ mọi thứ sẽ thuộc về mọi người và ai cũng mong điều tốt nhất cho nhau.
Thành ra, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng,
Lênin mới nhận thức ra là những tác phẩm của ông thầy chẳng hề chỉ ra bước
kế tiếp là phải làm sao. Đúng thật là Marx có đề cập đến thời kỳ chuyên chế
vô sản quá độ như một điều cần thiết mà đến ngày đến giờ th́ nó sẽ tự động
không c̣n cần thiết nữa. Nhưng tất cả chúng ta đều biết quá rơ cái “thời kỳ
quá độ” này, và chúng ta cũng biết là nó đă được phát triển sau đó ra sao,
không thúc đẩy một thế giới hoàn thiện hơn, nhưng bỏ lại đàng sau một loạt
những hủy diệt kinh hoàng. Marx lờ đi không chỉ ra cách thức làm sao tổ chức
thế giới mới này - điều mà, dĩ nhiên, được cho là không cần thiết. Sự yên
lặng của ông ta về vấn đề này diễn ra phù hợp với lựa chọn ban đầu. Sai lầm
của ông càng sâu nặng hơn nữa. Ông ta quên rằng con người luôn là con người.
Ông ta quên đi con người và quên luôn tự do của con người. Ông ta quên rằng
tự do vẫn luôn luôn c̣n là tự do để làm điều ác. Ông ta nghĩ rằng khi nền
kinh tế đă được điều chỉnh đúng, mọi sự sẽ tự nhiên ổn thoả hết. Sai lầm
thật sự của ông ta là chủ nghĩa duy vật: con người thực ra không phải chỉ là
thành quả của các điều kiện kinh tế, và không thể giải thoát con người chỉ
từ bên ngoài bằng cách tạo ra một môi trường kinh tế thuận lợi.
22. Chúng ta lại thấy ḿnh đối diện với câu hỏi: như
vậy liệu chúng ta có thể hy vọng điều ǵ? Một thái độ tự phê b́nh của thuyết
hiện đại là cần thiết trong cuộc đối thoại với Kitô Giáo và với niềm hy vọng
Kitô. Trong cuộc đối thoại này, cả người Kitô hữu, trong bối cảnh kiến thức
và kinh nghiệm của ḿnh, cũng phải canh tân nhận thức là niềm hy vọng của
ḿnh thực sự chứa đựng điều ǵ, họ phải đem lại những ǵ cho thế giới và
những ǵ họ không thể đem lại. Ḥa với thái độ tự phê này của thời hiện đại
cũng phải có một thái độ tự phê của Kitô Giáo hiện đại, trong đó chúng ta
phải thường xuyên canh tân nhận thức về chính ḿnh khởi đi từ cội rễ. Về đề
tài này, tất cả những ǵ chúng ta có thể cố gắng ở đây là một vài quan sát
ngắn gọn. Đầu tiên chúng ta phải tự hỏi: “tiến bộ” thực ra có nghĩa là ǵ;
nó hứa hẹn những ǵ và nó không hứa hẹn những ǵ? Trong thế kỷ 19, niềm tin
vào tiến bộ đă là đối tượng bị phê phán. Trong thế kỷ 20, Theodor W. Adorno
đă đúc kết vấn đề niềm tin vào tiến bộ một cách kiệt xuất: ông nói rằng tiến
bộ, nh́n cho chính xác, là tiến bộ từ cái ná tới bom nguyên tử. Đây là một
khía cạnh của tiến bộ mà không được phép che đậy. Nói khác đi: tính chất mơ
hồ của của tiến bộ đă trở nên hiển nhiên. Không nghi ngờ ǵ, tiến bộ đem đến
nhiều triển vọng cho điều tốt, nhưng nó cũng mở ra những triển vọng đáng
kinh sợ cho sự dữ - những triển vọng mà trước đó không hề tồn tại. Chúng ta
tất cả đă chứng kiến cách thế trong đó tiến bộ, trong bàn tay sai trái, có
thể trở thành và thực sự đă trở thành một tiến bộ kinh hoàng trong sự ác.
Nếu tiến bộ kỹ thuật không đi kèm với tiến bộ tương ứng trong việc h́nh
thành luân lư con người, trong sự tăng trưởng nội tâm (x Eph 3:16;
2 Cor 4:16), th́ nó chẳng là tiến bộ ǵ cả, nhưng là một mối đe dọa cho
con người và cho thế giới.
23. Đối với hai chủ đề lớn là “lư trí” và “tự do”, ở
đây chúng ta chỉ có thể đề cập đến những vấn nạn gắn liền với chúng. Thật ra,
lư trí là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người, và sự chiến thắng của lư trí
trên những điều không hợp lư cũng là một mục tiêu của đời sống Kitô. Nhưng
khi nào th́ lư trí thực sự vinh thắng? Khi nó được tách ra khỏi Thiên Chúa
chăng? Khi nó trở nên mù ḷa trước Thiên Chúa chăng? Có phải toàn bộ lư trí
chỉ là lư trí của sức mạnh và của khả năng hành động? Nếu tiến bộ, để thực
sự là tiến bộ, cần đến sự tăng trưởng luân lư về phía nhân loại, th́ lư trí
đứng sau sức mạnh và khả năng hành động cũng cấp thiết cần đến một sự hội
nhập với khả năng phân biệt được thiện ác thông qua sự cởi mở của lư trí với
những lực giải thoát của đức tin. Chỉ có như thế lư trí mới trở nên thực sự
nhân bản. Nó chỉ trở nên nhân bản khi nó có thể hướng dẫn ư chí theo nẻo
chính, và nó chỉ có thể làm được điều đó nếu nó biết nh́n xa hơn chính ḿnh.
Nếu không, t́nh trạng con người, trong bối cảnh của sự mất quân b́nh giữa
khả năng vật chất và t́nh trạng mất đi sự phán đoán nơi con tim, sẽ trở nên
một mối họa cho con người và cho tạo vật. Thành ra, nơi đâu tự do được đề
cập đến, ở đó chúng ta phải nhớ rằng tự do con người luôn đ̣i hỏi một sự hội
tụ các h́nh thái tự do khác nhau. Nhưng sự hội tụ này không thể thành công
trừ phi nó được khẳng định bởi một tiêu chuẩn đo lường nội tại chung, đó
chính là căn bản và mục tiêu của tự do chúng ta. Chúng ta hăy tóm lại đơn
giản như thế này: con người cần đến Thiên Chúa, nếu không c̣n người vẫn là
vô vọng. Trước những phát triển của thời đại tân tiến, câu trích dẫn từ
Thánh Phaolô mà tôi đă dùng để khởi đầu (Eph 2:12), được chứng minh
thật là thực tế và quá đúng. Do đó, không nghi ngờ ǵ, một “Nước Trời” đạt
được mà không có Thiên Chúa –một vương quốc loài người mà thôi- sẽ không
tránh khỏi cáo chung như “một kết thúc quái lạ” của mọi sự như đă được mô tả
bởi Kant: chúng ta đă từng thấy, và chúng ta thấy đi thấy lại điều đó.
Dung mạo đích thực của niềm hy vọng Kitô Giáo
24. Chúng ta hăy hỏi lại lần nữa: chúng ta có thể hy
vọng điều ǵ? Và chúng ta không được hy vọng điều ǵ? Trước hết, chúng ta
cần nh́n nhận rằng những tiến bộ có tính chất lũy tiến [incremental progress
– tiến bộ có tính chất tích lũy, cái sau dựa trên thành quả của cái trước –
chú thích của người dịch] chỉ có thể diễn ra trong lănh vực vật chất. Ở đây,
giữa kiến thức ngày càng gia tăng của chúng ta về cấu trúc của vật chất và
dưới ánh sáng của những tiến bộ mạnh mẽ hơn lúc nào, chúng ta thấy rơ hơn
bao giờ sự tiến bộ liên tục hướng đến khả năng làm chủ thiên nhiên cho bằng
được. Tuy nhiên, trong lănh vực nhận thức đạo đức và đưa ra quyết định luân
lư, người ta không có một khả năng tích lũy tương tự như thế v́ lư do đơn
giản là tự do con người luôn luôn mới và con người luôn phải đưa ra những
quyết định mới mẻ. Những quyết định này không thể đơn giản là làm sẵn trước
cho chúng ta bởi những người khác – nếu như vậy, chúng ta không c̣n tự do
nữa. Tự do giả định là trong những quyết định cơ bản, mỗi người và mỗi thế
hệ đều là một sự khởi đầu mới. Đương nhiên, những thế hệ mới có thể xây dựng
trên kiến thức và kinh nghiệm của những người đi trước, và họ có thể kín múc
kho tàng đạo lư của toàn thể nhân loại. Nhưng họ cũng có thể từ khước nó, v́
nó chẳng bao giờ có thể tự ḿnh được coi là đương nhiên như trong trường hợp
của những phát minh vật chất. Kho tàng đạo lư của con người không sẵn sàng
trong tay như những dụng cụ mà chúng ta dùng; nó hiện diện như một lời mời
gọi đối với sự tự do và như một khả năng lựa chọn. Điều này, tuy nhiên, có
nghĩa là:
a ) T́nh trạng tốt đẹp của xă hội loài người, và t́nh
trạng đạo đức của thế giới sẽ không bao giờ được bảo đảm chỉ nhờ vào các cấu
trúc mà thôi, dù chúng có tốt đến đâu đi nữa. Những cấu trúc như thế không
chỉ là quan trọng, nhưng c̣n cần thiết nữa; tuy nhiên, chúng không thể và
không được loại ra ngoài lề tự do của con người. Ngay cả những cấu trúc tốt
nhất cũng chỉ thực hiện được chức năng của chúng khi cộng đồng được linh
hoạt bởi những xác tín có khả năng kích thích con người tán thành một cách
tự do trật tự xă hội. Tự do đ̣i phải có xác tín; xác tín không tự ḿnh tồn
tại, nhưng phải luôn luôn dành được cách mới mẻ bởi cộng đồng.
b ) V́ con người luôn là tự do và v́ tự do luôn luôn
mong manh, vương quốc của thiện chí sẽ không bao giờ có thể được thiết lập
một cách chung cuộc trên thế gian này. Bất cứ ai hứa hẹn một thế giới tốt
hơn được bảo đảm là tồn tại muôn đời chỉ là hứa hăo; người ấy đang bỏ qua
không tính đến tự do của con người. Tự do thường chỉ có thể bị đánh đổi bởi
nguyên cớ chính đáng. Sự tán thành tự nguyện điều tốt chẳng bao giờ tự ḿnh
tồn tại. Nếu như có những cấu trúc bảo đảm một cách không thể đảo ngược được
một t́nh trạng được khẳng định là tốt cho thế giới, th́ lúc đó tự do con
người sẽ bị phủ nhận, và do đó, chúng chẳng phải là những cấu trúc tốt một
chút nào.
25. Điều này nghĩa là mỗi thế hệ đều có nghĩa vụ dự
phần mới mẻ trong cuộc t́m kiếm cam go cho cách thế đúng đắn để thiết lập
trật tự xă hội loài người; nghĩa vụ này chẳng bao giờ có thể hoàn thành cách
đơn giản. Nhưng mỗi thế hệ cũng phải đóng góp sức ḿnh cho việc thiết lập
những cấu trúc đáng thuyết phục của tự do và thiện ích, là điều có ích cho
những thế hệ tiếp theo như một chỉ dẫn làm sao sử dụng đúng đắn tự do nhân
loại; do đó, luôn luôn với những giới hạn của loài người, họ đưa ra một bảo
đảm nào đó cho cả tương lai. Nói cách khác: những cấu trúc tốt có ích, nhưng
chính chúng mà thôi th́ chưa đủ. Con người không thể đơn giản là được cứu
rỗi từ bên ngoài. Francis Bacon, và những ai theo trào lưu hiện đại mà ông
ta thấy hứng khởi, đă phạm sai lầm khi tin rằng con người có thể được cứu
rỗi bởi khoa học. Cái kỳ vọng đó đ̣i hỏi quá đáng nơi khoa học; hy vọng loại
đó thật là hăo huyền. Khoa học có thể đóng góp lớn lao cho việc xây dựng thế
giới và con người nhân bản hơn. Nhưng nó cũng có thể huỷ diệt nhân loại và
thế giới trừ khi nó được hướng dẫn bởi những lực lượng bên ngoài nó. Mặt
khác, chúng ta cũng phải nh́n nhận rằng Kitô Giáo hiện đại, khi đối diện với
những thành công của khoa học trong việc xây dựng thế giới cách tiến bộ,
trên một quy mô lớn, đă hạn chế sự chú ư đến các cá nhân và ơn cứu độ của họ.
Khi làm thế, Kitô Giáo đă giới hạn chiều kích niềm hy vọng của ḿnh và không
nhận ra đầy đủ sự cao cả trong sứ mạng của ḿnh – ngay cả dù cho Kitô Giáo
tiếp tục đạt được những thành tựu lớn lao trong việc đào tạo và chăm sóc cho
những người yếu thế và đau khổ.
26. Không phải là khoa học giải thoát con người: con
người được giải thoát bởi t́nh yêu. Điều này đúng ngay cả đối với thế giới
ngày nay. Khi một người cảm nghiệm được một t́nh yêu cao đẹp trong đời, đó
là giây phút người ấy được “giải thoát”, là giây phút đem đến một ư nghĩa
mới cho cuộc đời. Nhưng chẳng mấy chốc người ấy nhận ra rằng t́nh yêu được
trao ban trên anh ta tự nó không giải quyết được vấn nạn đời ḿnh. Đó chỉ là
một t́nh yêu giữ nguyên tính mong manh của nó. T́nh yêu đó có thể bị huỷ
diệt bởi cái chết. Con người cần đến một t́nh yêu vô điều kiện. Con người
cần đến một sự chắc chắn khiến anh ta nói được: “cho dầu là sự chết hay sự
sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ
sức mạnh nào,trời cao hay vực sâu hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, sẽ
không có ǵ tách được chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi
Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:38-39). Nếu t́nh yêu tuyệt đối
này tồn tại, với sự chắc chắn tuyệt đối của nó, th́ lúc đó – và chỉ khi đó –
con người được “cứu rỗi”, dù cho chuyện ǵ sẽ xảy đến với người ấy trong
những điều kiện cụ thể của anh ta. Điều này nói lên là: Chúa Giêsu Kitô đă
“cứu rỗi” chúng ta. Qua Ngài chúng ta trở nên chắc chắn về Thiên Chúa, một
vị Thiên Chúa không phải là một “căn nguyên” [bản tiếng Anh “first cause” –
bản tiếng La Tinh -“primam causam” chú thích của người dịch] xa xôi của thế
giới, bởi v́ Con một-tự hữu của Ngài đă hóa thành phàm nhân và mọi người có
thể nói về Người: “Tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đă yêu
mến tôi và hiến mạng v́ tôi” (Gl 2:20).
27. Theo nghĩa này, đúng là những ai không biết đến
Thiên Chúa, cho dù người ấy có tràn trề mọi loại hy vọng, th́ tối hậu cũng
chỉ là vô hy vọng, cũng không có một hy vọng cao cả nâng đỡ toàn bộ cuộc đời
(x Eph 2:12). Hy vọng cao cả, thật sự vững vàng của con người ngay cả
trong mọi nỗi tuyệt vọng chỉ có thể là Thiên Chúa – một vị Thiên Chúa đă yêu
thương chúng ta và tiếp tục yêu thương chúng ta “đến cùng”, đến khi mọi sự
“đă hoàn tất” (xGa 13:1 và 19:30). Ai bị rung động bởi t́nh yêu sẽ
bắt đầu cảm nhận được “sự sống” thực sự là ǵ. Người ấy bắt đầu cảm nhận ư
nghĩa của lời hy vọng mà chúng ta đă gặp trong Nghi Thức Rửa Tội: ở nơi đức
tin tôi trông đợi “sự sống đời đời” – sự sống thật trong đó, toàn thể và
chắc chắn, trong trạng thái viên măn nhất, thuần tuư là sự sống. Chúa Giêsu,
Đấng loan báo rằng Ngài đă đến để chúng ta được sống và sống trong viên măn,
sống dồi dào(x Ga 10:10), cũng đă giải thích với chúng ta ư nghĩa của
“sự sống”: “sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân
thật, và nhận biết Đấng Cha đă sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17:3). Sự
sống trong ư nghĩa đích thực của nó không phải là một điều ǵ chúng ta sở
hữu độc quyền hay đến từ chính chúng ta: đó là một quan hệ. Và sự sống trong
tổng thể của nó là một mối quan hệ với Người, Đấng là nguồn mạch của sự sống.
Nếu chúng ta sống trong mối quan hệ với Ngài, Đấng không chết, Đấng chính là
Sự Sống và T́nh Yêu, th́ chúng ta ở trong sự sống. Khi đó chúng ta “sống”.
28. Nhưng một câu hỏi lại được đưa ra: nếu thế th́
không lẽ chúng ta một lần nữa lại rơi ngược vào trong nhận thức cá nhân của
ơn cứu độ, vào niềm hy vọng cho chính ḿnh mà thôi, và như thế không phải hy
vọng thực sự v́ nó quên đi và coi nhẹ tha nhân? Dĩ nhiên là không! Quan hệ
của chúng ta với Thiên Chúa được thiết lập thông qua sự hiệp thông với Chúa
Giêsu - chúng ta không thể đạt được điều đó một ḿnh hay chỉ với tài nguyên
chúng ta mà thôi. Trái lại, quan hệ với Chúa Giêsu là quan hệ với Đấng đă
trao ban chính ḿnh như giá cứu chuộc cho mọi người (x 1 Tm 2:6).
T́nh trạng được hiệp thông với Chúa Giêsu lôi kéo chúng ta đến với tính chất
“sống cho mọi người” của Ngài; nó trở lên lối sống của chúng ta. Ngài thúc
giục chúng ta sống cho tha nhân, nhưng chỉ qua sự hiệp thông với Ngài chúng
ta mới thực sự có thể trở nên cho tha nhân, cách toàn bộ. Về điểm này, tôi
muốn trích dẫn mội vị đại Tiến Sĩ Hội Thánh người Hy Lạp là Thánh Maximô Cha
Giải Tội († 662), người đầu tiên đă hô hào chúng ta đừng yêu chuộng ǵ khác
hơn là kiến thức và t́nh yêu của Thiên Chúa, nhưng ngay sau đó đă đi đến
những điều thực tiễn: “Ai yêu mến Chúa không thể bám chặt vào tiền của nhưng
trái lại phải ban phát hào phóng nó như Thiên Chúa.. theo đúng như đ̣i buộc
của công lư”. 19 Yêu mến Thiên Chúa dẫn đến sự dự phần trong công
lư và trong sự quảng đại của Thiên Chúa đối với tha nhân. Yêu mến Thiên Chúa
đ̣i hỏi một tự do nội tại vượt lên trên tất cả những của cải và mọi thứ vật
chất: t́nh yêu Thiên Chúa được thể hiện ra nơi trách nhiệm của ta đối với
tha nhân.20 Liên hệ tương đồng giữa t́nh yêu Thiên Chúa và trách
nhiệm với tha nhân có thể thấy một cách đánh động trong cuộc đời của Thánh
Augustinô. Sau cuộc trở lại đức tin Công Giáo, ngài đă quyết định cùng với
một số bạn bè cùng chí hướng theo đuổi một cuộc đời tận hiến hoàn toàn cho
Lời Chúa và cho những điều vĩnh cửu. Ư hướng của ngài là thực hành một phiên
bản Kitô của cuộc đời chiêm niệm thể hiện nơi truyền thống cao thượng của
triết học Hy Lạp, và coi đó như chọn “phần tốt hơn” (x Lc 10:42). Tuy
nhiên, mọi sự diễn ra khác đi. Khi dự buổi cử hành phụng vụ Chúa Nhật tại
thành phố cảng Hippo, ngài đă được vị Giám Mục chọn ra từ trong cộng đoàn và
bắt phải nhận việc thụ phong cho sứ vụ linh mục tại thành phố đó. Nh́n lại
giây phút đó, ngài viết trong cuốn Tự Thú: “Sợ hăi v́ tội lỗi và gánh
nặng của quá khứ thê thảm, con đă định trong ḷng, và đă suy đi nghĩ lại
việc lui vào nơi hoang vắng; nhưng Ngài đă cấm con và ban cho con sức mạnh
qua lời này: ‘Chúa Kitô đă chết cho tất cả, để những ai đang sống không c̣n
sống cho chính ḿnh nữa nhưng cho Ngài Đấng v́ phần rỗi của họ đă phải chết’
(x 2 Cr 6:15). 21 Chúa Kitô đă chết cho tất cả. Sống cho
Ngài nghĩa là để cho ḿnh bị lôi cuốn vào trong tính chất sống cho tha
nhân của ngài.
29. Đối với Thánh Augustinô, điều này là một cuộc
sống hoàn toàn mới mẻ. Có lần ngài đă mô tả cuộc sống hàng ngày của ngài như
sau: “Chuyện xáo trộn phải được sửa lại, kẻ thất đảm được vui mừng, người
yếu thế được nâng đỡ; những kẻ chống báng Tin Mừng được sửa sai, những kẻ
thù điêu ngoa của Tin Mừng bị canh chừng; kẻ thất học được dạy dỗ, kẻ biếng
nhác được lôi dậy, tranh căi được kiểm tra; sự tự hào được đặt lại cho đúng
chỗ, kẻ tuyệt vọng được nâng đỡ, những kẻ đôi co được ḥa giải; người quẫn
bách được tương trợ, người chịu áp bức được giải thoát, kẻ thiện tâm được
ngợi khen, kẻ xấu được khoan dung; tất cả phải được yêu thương”.22
“Tin Mừng làm tôi lo lắng”23 nỗi sợ hăi lành mạnh này ngăn cản
chúng ta không được sống cho chính ḿnh mà thôi và thúc bách chúng ta truyền
đạt niềm hy vọng chúng ta có chung với nhau. Giữa những khó khăn nghiêm
trọng mà Đế Quốc La Mă phải đối diện – và cũng đặt ra một đe dọa nghiêm
trọng cho Đế Quốc La Mă Phi Châu, mà thực sự đă đến chỗ bị diệt vong vào
cuối đời Thánh Augustinô – đây là điều mà thánh nhân đă đề ra để hành động:
truyền bá niềm hy vọng, một niềm hy vọng đến với ngài từ đức tin, một niềm
hy vọng, hoàn toàn trái ngược với tính cả thẹn của ngài, đă cho phép ngài dự
phần cả quyết và với tất cả sức lực của ngài trong công tác xây dựng thành
phố. Trong cùng chương đó của cuốn Tự Thú trong đó chúng ta đă ghi
nhận lư do có tính chất quyết định cho sự dấn thân của ngài “v́ mọi người”,
ngài nói rằng Chúa Kitô “cầu bầu cho chúng ta, nếu không tôi đă thất vọng.
Sự yếu đuối của tôi quá nhiều và quá thê thảm, nhiều và thê thảm thật, nhưng
phương dược của Ngài c̣n phong phú bội phần. Chúng con có lẽ sẽ nghĩ rằng
lời Ngài xa cách với con người, và v́ thế chúng con lẽ ra sẽ thất vọng về
chính ḿnh, nếu Lời đă không hóa thành nhục thể và ở giữa chúng con.”24Nhờ
sức mạnh của hy vọng, Thánh Augustinô đă dâng hiến toàn bộ con người của
ḿnh cho những người b́nh dân và cho thành phố của ngài – từ bỏ ư hướng
thiêng liêng cao thượng, ngài đă rao giảng và hành động trong một cách thế
đơn giản cho những con người tầm thường.
30. Chúng ta hăy tổng kết những ǵ đă xuất hiện cho
tới nay trong cuộc suy luận của chúng ta. Ngày qua ngày, con người cảm nhận
được những hy vọng lớn nhỏ, đủ loại tùy theo những thời kỳ khác nhau của đời
ḿnh. Đôi khi một trong những hy vọng này dường như thỏa măn hoàn toàn không
cần đến những hy vọng khác. Người trẻ có thể có hy vọng về một t́nh yêu cao
đẹp và hoàn toàn thỏa măn; hay hy vọng đạt được một vị trí nào đó trong nghề
nghiệp; hay một số những thành công có tính chất quyết định cho cuộc đời c̣n
lại của họ. Tuy nhiên, khi những hy vọng này được viên măn, điều trở nên rơ
ràng là những hy vọng này, trong thực tế, không phải là toàn bộ. T́nh h́nh
trở nên hiển nhiên là con người cần đến một hy vọng vượt xa hơn nữa. Điều
trở nên rơ ràng là chỉ có những ǵ vô hạn mới đầy đủ cho con người, những ǵ
sẽ luôn luôn là nhiều hơn cái mà anh ta có thể vươn tới. Trên phương diện
này, thời đương đại của chúng ta đă phát triển một hy vọng có thể tạo ra
được một thế giới hoàn chỉnh mà, nhờ vào kiến thức khoa học và đường lối
chính trị dựa trên khoa học, dường như là có thể đạt được. V́ thế niềm hy
vọng Thánh Kinh nơi Nước Trời đă bị thay thế bởi niềm hy vọng cho vương quốc
loài người, bởi hy vọng cho một thế giới tốt hơn như là một “Nước Trời” thật
sự. Điều này cuối cùng xem ra là hy vọng lớn nhất và thực tế nhất mà con
người cần đến. Nó có thể động viên- trong một lúc nào đó- tất cả năng lực
của con người. Tuy nhiên, đă trở nên rơ ràng rằng niềm hy vọng này thường
xuyên vụt bay. Trên tất cả mọi sự, điều trở nên hiển nhiên là hy vọng này là
hy vọng cho một thế hệ tương lai, không phải cho tôi.
Và tuy hy vọng “cho mọi người” có thể là một phần của
niềm hy vọng cao cả - v́ tôi không thể hạnh phúc mà không có người khác hay
hạnh phúc của tôi là điều ngược lại với họ - th́ dẫu sao một niềm hy vọng
không liên can ǵ đến tôi một cách cá vị cũng không phải là hy vọng thật. Nó
trở nên rơ ràng là hy vọng này [hy vọng về vương quốc loài người – chú thích
của người dịch] đối kháng với tự do, v́ xă hội loài người phụ thuộc vào mỗi
thế hệ trong những quyết định tự do của những ai liên quan. Nếu tự do này bị
tước đoạt, như là hệ quả của những điều kiện hay cấu trúc nào đó, th́ tối
hậu thế giới này cũng chẳng tốt đẹp, v́ một thế giới mất tự do không có cách
nào là một thế giới tốt đẹp được. Do đó, trong khi chúng ta luôn phải dấn
thân cải thiện thế giới, một thế giới ngày mai tốt đẹp hơn không thể là nội
dung đúng đắn và đầy đủ cho niềm hy vọng của chúng ta. Và về phương diện này,
một loạt câu hỏi luôn được đặt ra: khi nào thế giới “tốt” hơn? Điều nào làm
cho nó tốt? Dựa trên tiêu chuẩn nào chúng ta đánh giá sự thiện hảo của nó?
Đâu là những con đường dẫn “sự thiện hảo” này?
31. Chúng ta hăy lặp lại một lần nữa: chúng ta cần
những hy vọng lớn nhỏ để sống ngày qua ngày. Nhưng những hy vọng này không
đủ nếu thiếu một hy vọng cao cả, một thứ hy vọng phải vượt lên trên mọi thứ
khác. Hy vọng cao cả này chỉ có thể là Thiên Chúa, Đấng bao gồm toàn thể
thực tại và là Đấng ban phát cho chúng ta cái mà chúng ta, tự ḿnh, không
thể đạt được. Sự kiện là chúng ta có được niềm hy vọng này như một hồng ân
Chúa ban cho thực sự đă là một phần của hy vọng. Thiên Chúa là nền tảng của
hy vọng: không phải bất cứ thần minh nào khác, nhưng chính là Thiên Chúa
Đấng có một dung mạo loài người và đă yêu thương chúng ta đến cùng, mỗi
người chúng ta và nhân loại trong tổng thể của nó. Nước Ngài không phải là
một h́nh ảnh tưởng tượng đời sau, tọa lạc đâu đó trong tương lai mà chẳng
bao giờ đến; nhưng Nước Ngài hiện diện bất cứ nơi nào Ngài được yêu thương
và bất cứ khi nào t́nh yêu của Ngài đến được với chúng ta. Chỉ t́nh yêu Ngài
mới ban cho chúng ta khả năng nhẫn nại chịu đựng ngày qua ngày, mà không
ngừng được khích lệ bởi hy vọng, trong một thế giới mà tự chính bản chất là
không hoàn thiện. T́nh yêu của Ngài cũng đồng thời là một bảo đảm cho chúng
ta về sự hiện hữu của điều mà chúng ta chỉ có thể cảm nhận mơ hồ nhưng dù
thế, trong thẳm sâu tâm hồn, chúng ta vẫn trông đợi: đó là một cuộc sống
“thực sự”. Giờ đây, trong phần cuối cùng, chúng ta hăy phát triển chi tiết ư
tưởng này khi chúng ta tập trung chú ư vào một vài “bối cảnh” trong đó chúng
ta có thể học hỏi thực tiễn về hy vọng và hệ quả của nó.
”Bối cảnh” cho học hỏi và thực hành hy vọng
Cầu nguyện là trường học của hy vọng
32. Bối cảnh thiết yếu đầu tiên cho việc học hỏi hy
vọng là cầu nguyện. Khi không c̣n ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi.
Khi tôi không c̣n có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có
thể thưa với Chúa. Khi không c̣n ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu
cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp
tôi 25. Dù tôi bị đắm ch́m ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn...;
nếu tôi cầu nguyện th́ tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi. Đức cố Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận, một người tù trong 13 năm, trong đó có 9 năm bị biệt giam,
đă để lại cho chúng ta cuốn sách nhỏ quí giá: Những Lời Cầu Nguyện của Niềm
Hy Vọng. Trong ṿng 13 năm tù đầy, trong một t́nh trạng hầu như là tuyệt
vọng, sự kiện là ngài có thể lắng nghe và thân thưa với Chúa đă trở nên một
quyền năng hy vọng gia tăng cho ngài, khiến ngài, sau khi ra khỏi tù, đă trở
nên một chứng nhân hy vọng cho dân chúng trên toàn thế giới – chứng nhân của
một niềm hy vọng lớn lao không tàn lụi ngay cả trong những đêm đen của cô
liêu.
33. Thánh Augustinô, trong bài giảng về lá thư thứ
nhất của thánh Gioan, mô tả cách tuyệt hảo nhất về mối tương quan giữa cầu
nguyện và hy vọng. Ngài định nghĩa cầu nguyện là một thao tác của ḷng muốn.
Con người đă được tạo dựng cho sự cao cả—cho chính Thiên Chúa; con người đă
được tạo dựng để được lấp đầy bởi Thiên Chúa. Nhưng tâm hồn con người th́
quá nhỏ so với sự cao cả mà nó đă được trù định trước. Nó cần được nới rộng
ra. “Khi tŕ hoăn [ban ân huệ], Thiên Chúa củng cố ḷng muốn của chúng ta;
qua ḷng muốn Người nới rộng linh hồn chúng ta và khi mở rộng, Người gia
tăng sức chứa của nó [để đón nhận Người]”. Thánh Augustinô quy chiếu về
thánh Phaolô, người đă nói ḿnh ráng sức đạt tới những điều sẽ đến (x. Pl
3,13). Sau đó ngài đă sử dụng một h́nh ảnh rất đẹp để mô tả tiến tŕnh mở
rộng và chuẩn bị tâm hồn con người. “Giả dụ Thiên Chúa muốn lấp đầy tâm hồn
bạn bằng mật ong [một biểu tượng về sự dịu dàng và ḷng tốt của Thiên Chúa];
nhưng nếu ḷng bạn đầy dấm chua, bạn đổ mật ong vào nơi nào?” Cái b́nh, vốn
là tâm hồn chúng ta, trước tiên phải được nới rộng và sau đó rửa sạch, không
c̣n dấm và mùi vị của nó nữa. Điều đó đ̣i phải làm việc cật lực và gây đau
đớn, nhưng chỉ theo cách ấy thôi mà chúng ta trở nên phù hợp với điều mà
chúng ta đă được trù định trước. 26 Cho dù thánh Augustinô chỉ
nói trực tiếp đến khả năng của chúng ta chứa đựng Thiên Chúa, tuy vậy rơ
ràng rằng qua nỗ lực loại bỏ dấm chua và mùi vị của nó, không những chúng ta
nên tự do đối với Thiên Chúa, nhưng c̣n rộng mở với người khác nữa. Chính
khi trở nên con cái của Thiên Chúa, mà chúng ta có thể ở với người Cha chung
của chúng ta. Cầu nguyện không phải là đi ra khỏi lịch sử và rút lui vào góc
hạnh phúc riêng của chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện cách đúng đắn chúng ta
trải qua một tiến tŕnh thanh luyện bên trong, nó mở ḷng chúng ta ra với
Thiên Chúa và theo cách đó cả với đồng loại chúng ta nữa. Trong cầu nguyện
chúng ta phải biết điều chúng ta có thể xin Thiên Chúa—điều xứng đáng với
Thiên Chúa. Chúng ta phải biết rằng chúng ta không thể cầu nguyện chống lại
người khác. Chúng ta phải biết rằng chúng ta không thể cầu xin những điều
nông cạn và những tiện nghi mà chúng ta muốn vào lúc này— v́ niềm hy vọng
nghèo nàn, giả tạo dẫn chúng ta xa ĺa Thiên Chúa. Chúng ta phải biết thanh
luyện ước muốn và khát vọng của chúng ta. Chúng ta phải biết tự giải thoát
khỏi những giả dối ẩn khuất gây thất vọng cho chúng ta. Thiên Chúa thấy rơ
chúng, và khi chúng ta đến trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cũng bị bắt buộc
nhận ra chúng. Vịnh gia đă cầu nguyện: “Nhưng nào ai thấy rơ lầm lỗi ḿnh?
Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay” (Tv 19,12 [18,13]). Thất
bại trong việc nh́n nhận lầm lỗi của ḿnh, ảo tưởng về sự vô tội của ḿnh,
không làm cho tôi nên công chính và không cứu thoát tôi, bởi v́ tôi đáng
khiển trách v́ lương tâm nặng nề và không thể nhận ra sự dữ như nó là trong
con người tôi. Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, có lẽ tôi cần t́m nơi trú ẩn
trong những lọc lừa ấy, bởi v́ không ai có thể tha thứ cho tôi; không ai là
tiêu chuẩn đích thực. Tuy nhiên sự gặp gỡ với Thiên Chúa thức tỉnh lương tâm
của tôi, v́ nó không c̣n nhắm đến sự công chính hoá bản thân, không c̣n là
một suy nghĩ đơn thuần của tôi và của những người đương thời đang uốn nắn
suy nghĩ của tôi, nhưng nó trở thành một khả năng lắng nghe chính sự Thiện.
34. Để lời cầu nguyện phát triển được sức mạnh thanh
tẩy, một đàng lời cầu nguyện ấy phải là cái ǵ đó rất riêng tư, là một cuộc
gặp gỡ giữa thâm sâu của chính tôi với Chúa, Thiên Chúa hằng sống. Đàng khác,
lời cầu ấy phải luôn được hướng dẫn và soi sáng bởi những kinh nguyện quư
giá của Giáo Hội và của các thánh, và bởi lời cầu phụng vụ, trong đó Chúa
dạy đi dạy lại chúng ta làm thế nào cầu nguyện cho xứng hợp. Đức Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận, trong quyển sách của ngài về luyện đàng thiêng liêng, nói
với chúng ta rằng trong cuộc đời ngài, có những thời gian dài ngài đă không
thể cầu nguyện được và ngài đă phải bám lấy những kinh nguyện của Giáo Hội
như kinh Lậy Cha, kinh Kính Mừng và các kinh nguyện phụng vụ 27.
Cầu nguyện phải luôn luôn có sự pha trộn giữa lời cầu nguyện chung và cá
nhân. Đây là cách thế chúng ta có thể thân thưa với Chúa và Chúa nói với
chúng ta. Trong đường lối này, chúng ta trải qua những cuộc thanh tẩy, qua
đó, chúng ta mở ḷng ḿnh ra cho Chúa và sẵn sàng cho việc phục vụ đồng loại.
Chúng ta trở nên có khả năng cho niềm hy vọng vĩ đại, và do đó, trở thành
các thừa tác viên của niềm hy vọng cho kẻ khác. Hy vọng trong ư nghĩa Kitô
giáo luôn luôn cũng là niềm hy vọng cho những người khác. Nó là niềm hy vọng
tích cực, trong đó chúng ta chiến đấu hầu tránh làm cho mọi sự đừng hướng
đến một “chung cuộc quái ác”. Đó cũng là niềm hy vọng tích cực theo nghĩa là
chúng ta giữ cho thế giới này mở ḷng ra cho Thiên Chúa. Chỉ trong đường lối
ấy niềm hy vọng này mới tiếp tục là niềm hy vọng nhân bản đích thật.
II. Hành động và đau khổ như những môi trường
để học biết niềm hy vọng
35. Mọi hành động nghiêm chỉnh và đúng đắn của con
người đều là niềm hy vọng bằng hành động. Trước tiên điều đó có nghĩa là
chúng ta nỗ lực thực hiện các niềm hy vọng của chúng ta, nhỏ bé hay lớn lao
hơn: hoàn thành công việc này hoặc công việc kia vốn quan trọng trong cuộc
hành tŕnh tiến lên của chúng ta, hoặc chúng ta hành động cho một thế giới
tươi đẹp và nhân bản hơn để mở rộng cửa cho tương lai. Tuy nhiên những nỗ
lực hằng ngày trong việc theo đuổi đời sống chúng ta và trong việc hành động
cho tương lai của thế giới làm chúng ta mệt mỏi và biến thành cuồng tín, trừ
phi chúng ta được chiếu sáng bởi vẻ huy hoàng của niềm hy vọng lớn lao vốn
không thể bị huỷ diệt bởi những thất bại trong những việc nhỏ cũng như trong
sự sụp đổ của những vấn đề có tầm quan trọng lịch sử. Nếu chúng ta không thể
hy vọng hơn điều đạt được trong một thời gian nhất định, hay hơn điều được
các nhà cầm quyền chính trị và kinh tế hứa hẹn, cuộc sống của chúng ta sẽ
chẳng mấy chốc không c̣n hy vọng. điều quan trọng là biết rằng tôi luôn có
thể tiếp tục hy vọng, dù cho trong đời sống chúng ta hay giai đoạn lịch sử
mà tôi sống, dường như không có điều ǵ để hy vọng. Chỉ với niềm xác tín lớn
lao của niềm hy vọng mà đời tôi và lịch sử nói chung, dù gặp bao thất bại,
mới được cầm giữ bởi sức mạnh không thể huỷ diệt của T́nh yêu, và chỉ có
niềm xác tín lớn lao đó mới có thể đem lại cho chúng ư nghĩa và tầm quan
trọng, chỉ thứ hy vọng đó mới đem lại can đảm để hành động và kiên tŕ. Chắc
chắn chúng ta không thể “xây dựng” Nước Thiên Chúa chỉ bằng nỗ lực của chúng
ta—điều chúng ta xây dựng sẽ luôn là vương quốc của con người với tất cả
những giới hạn liên quan đến bản tính con người. Nước Thiên Chúa là một quà
tặng, và chính v́ thế, nó thật lớn lao và đẹp đẽ, và làm nên lời đáp trả cho
niềm hy vọng của chúng ta. Và chúng ta không thể —dùng lối diễn tả xưa—
“đáng được” Thiên đàng qua việc làm của chúng ta. Thiên đàng c̣n hơn là cái
ǵ chúng ta đáng được, cũng như việc được yêu mến không bao giờ là cái ǵ
“đáng được”, nhưng luôn là một quà tặng. Tuy nhiên, dẫu khi chúng ta ư thức
đầy đủ rằng Thiên đàng vượt quá điều chúng ta có thể xứng đáng, th́ vẫn luôn
đúng là cách ứng xử của chúng ta không phải là bàng quan trước mặt Thiên
Chúa và v́ thế không là bàng quan đối với diễn tiến lịch sử. Chúng ta có thể
mở rộng chính chúng ta và thế giới, và cho phép Thiên Chúa đi vào: chúng ta
có thể mở ḷng cho chân lư, t́nh yêu và điều ǵ thiện hảo. Đó là điều các
thánh đă làm, những người trong tư cách là “cộng sự viên của Thiên Chúa”, đă
đóng góp vào việc cứu độ trần gian (x. 1 Cr 3,9; 1 Th 3,2).
Chúng ta có thể giải thoát cuộc sống chúng ta và thế giới khỏi độc tố và sự
lây nhiễm có thể huỷ diệt hiện tại và tương lai. Chúng ta có thể khám phá
các nguồn mạch của tạo vật và giữ chúng không biến dạng, và theo cách thức
ấy, chúng ta có thể sử dụng đúng đắn tạo vật, đến với chúng ta như một quà
tặng, theo những đ̣i hỏi nội tại và mục đích tối hậu của quà tặng này. Điều
đó đem lại ư nghĩa, cho dù bề ngoài chúng ta không thành đạt được ǵ hay
dường như bất lực khi đối diện với các sức mạnh thù địch. V́ thế một mặt,
hành động của chúng ta nảy sinh niềm hy vọng cho chúng ta và cho người khác;
nhưng đồng thời, đó là niềm hy vọng lớn lao đặt nền tảng trên các lời hứa
của Thiên Chúa vốn đem lại cho chúng ta sự can đảm và hướng dẫn hành động
chúng ta trong thời thuận tiện cũng như không thuận tiện.
36. Giống như hành động, đau khổ là một phần của cuộc
sống con người. Đau khổ một phần xuất phát từ những giới hạn của chúng ta,
và một phần từ khối lượng tội lỗi đă tích luỹ suốt gịng lịch sử, và ngày
nay vẫn đang tiếp tục lớn lên không ngừng. Chắc chắn chúng ta phải làm bất
cứ điều ǵ trong khả năng để giảm bớt đau khổ: để hết sức tránh đau khổ cho
người vô tội; để làm giảm nhẹ cơn đau đớn; để giúp vượt thắng các đau khổ
tinh thần. Đó là những đ̣i buộc của công b́nh và t́nh yêu, và chúng được hàm
chứa trong các đ̣i hỏi nền tảng của đời sống Kitô hữu và mọi cuộc sống nhân
bản đích thực. các tiến bộ lớn lao đă được thực hiện trong cuộc chiến chống
lại những đau đớn thể lư; tuy vậy những đau khổ của người vô tội và những
đớn đau tinh thần lại gia tăng trong những thập niên vừa qua. Quả thế, chúng
ta phải làm hết sức chúng ta để vượt thắng đau khổ, nhưng loại trừ hoàn toàn
đau khổ khỏi thế giới này là việc vượt quá tầm tay chúng ta. Đơn giản là v́
chúng ta không thể loại bỏ sự giới hạn của chúng ta và v́ không ai trong
chúng ta có khả năng loại trừ quyền lực của sự dữ, của tội lỗi, như chúng ta
thấy, vốn là nguồn mạch thường hằng của đau khổ. Chỉ ḿnh Thiên Chúa mới có
thể làm điều ấy: chỉ ḿnh một Thiên Chúa đă tự ư đi vào lịch sử khi làm
người và chịu đau khổ trong lịch sử. Chúng ta biết rằng vị Thiên Chúa ấy
hiện hữu, và v́ thế chúng ta biết rằng quyền năng “xoá bỏ tội trần gian” (Ga
1,29) đang hiện hữu trong thế giới. Nhờ đức tin vào sự hiện diện của quyền
năng ấy, hy vọng về một thế giới được chữa lành đă nổi lên trong lịch sử.
Tuy nhiên, đó là hy vọng—chưa được hoàn thành; hy vọng đem lại cho chúng ta
sự can đảm để đặt ḿnh vào phía sự thiện dù sống trong những hoàn cảnh dường
như vô vọng, với niềm xác tín rằng, bao lâu gịng lịch sử bên ngoài được đề
cập đến, quyền lực tội lỗi vẫn tiếp tục hiện diện cách kinh hoàng.
37. Chúng ta hăy trở lại đề tài của ḿnh. Ta có thể
giới hạn đau khổ, chiến đấu chống lại nó, nhưng không thể loại trừ nó. Chính
khi chúng ta cố gắng tránh khổ đau bằng cách rút lui khỏi những ǵ có thể
gây thương tổn, khi ta không muốn phí sức hoặc tránh nỗi đau trong việc đeo
đuổi sự thật, t́nh yêu, và điều thiện, th́ lúc đó chúng ta đă để ḿnh trôi
giạt vào cuộc sống trống rỗng, nơi đó có thể hầu như không có đau đớn, nhưng
cái cảm nghiệm tối tăm của vô nghĩa và bị bỏ rơi c̣n lớn hơn bao giờ hết.
Không phải là bỏ ra ngoài hoặc trốn tránh khỏi sự khổ đau là chúng ta được
chữa lành, nhưng chính là do khả năng của chúng ta chấp nhận nó, trưởng
thành với nó và t́m ra ư nghĩa qua việc kết hợp với Chúa Kitô, Đấng đă chịu
thương khó với t́nh yêu vô biên. Trong ư nghĩa này, tôi muốn trích một đoạn
từ lá thư của vị tử đạo Việt Nam, Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, († 1857) trong
đó ngài diễn đạt sự biến hóa đau khổ qua quyền năng hy vọng, phát sinh từ
đức tin như sau: “Tôi, Phaolô, bị gông cùm v́ danh Chúa Kitô, ước mong kể
lại cho các con những thử thách mà cha chịu hằng ngày, để nhờ đó các con có
thể bùng lên ngọn lửa yêu mến Chúa và hợp với cha ngợi khen Chúa, v́ lượng
từ bi Chúa hải hà muôn đời (Tv 136 [135]). Nhà tù ở đây thực sự là
h́nh ảnh Hỏa Ngục muôn đời: thêm vào bên cạnh những đ̣n tra tấn dă man gồm
đủ mọi cách – gông cùm, xiềng xích, đe dọa –là thù hận, trả thù, tai ương,
thô bạo tục tằn, căi vă, hành động độc ác, chửi thề, cũng như những nỗi âu
lo và than khóc. Nhưng chính Chúa là Đấng đă giải thoát 3 trẻ nhỏ khỏi ḷ
lửa hăi hùng, đă ở với cha luôn luôn; Ngài đă giải thoát cha khỏi những khốn
cùng này và làm cho chúng nên dịu ngọt, v́ ḷng từ bi Chúa muôn đời. Những
gian truân này thường làm kinh khiếp nhiều người khác, thế nhưng với cha,
nhờ ơn Chúa, cha tràn đầy niềm vui và phúc lạc, bởi v́ cha không ở một ḿnh
– Đức Kitô ở với cha... Làm sao cha có thể chịu được cái cảnh mỗi ngày nh́n
thấy các vua chúa, quan quyền, và những tay sai của họ phạm thượng tới thánh
danh, Ôi lậy Chúa, Người là Đấng ngự ngai ṭa trên các thiên thần Cherubim
và Seraphim? (x. Tv 80:1 [79:2]). Chúa hăy xem đây, những kẻ ngoại
đạo đă đang chà đạp Thánh Giá Chúa dưới chân! C̣n đâu là vinh quang Chúa?
Khi con nh́n thấy tất cả những sự này, con muốn với tất cả t́nh yêu cháy
bỏng của con cho Chúa, ước ao tay chân con bị chia ra thành mảnh, chết làm
chứng cho t́nh yêu Chúa. Lạy Chúa, xin hăy tỏ quyền năng Chúa, cứu con, nâng
đỡ con, hầu trong sự yếu mềm của con, quyền năng Chúa sẽ được sáng soi và
được vinh hiển trước mặt các dân nước... Anh em chủng sinh thân mến, khi các
con nghe biết tất cả những sự việc này, các con hăy cám tạ Thiên Chúa không
hết lời trong niềm vui, v́ từ Chúa mọi điều tốt sẽ nảy sinh; các con hăy
chúc tụng Chúa với cha, v́ ḷng nhân từ Chúa vô bờ bến... Cha viết ra những
ḍng chữ này cho các con ngơ hầu đức tin của các con và của cha được hiệp
nhất. Giữa phong ba băo táp, cha bỏ neo con thuyền của cha vào ngai Thiên
Chúa, chiếc neo đó là hy vọng sống động trong trái tim cha.” 28 Đây
là một lá thư viết từ “Hỏa Ngục”. Nó phơi bầy trắng trợn tất cả những kinh
hoàng của trại tù tập trung, nơi mà những vết thương gây ra bởi những bạo
chúa trên những nạn nhân của chúng được cộng thêm với sự bùng nổ của tội ác
trong chính cả những nạn nhân, đến nỗi đến lượt họ lại trở thành những khí
cụ cho sự độc ác của những người hành hạ họ. Đây chính là lá thư viết từ Hỏa
Ngục, nhưng nó cũng nói lên sự thật trong đoạn Thánh Vịnh như sau: “Con có
lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài… Con tự nhủ:
‘Ước ǵ bóng tối bao phủ tôi và ánh sáng quanh tôi thành đêm tối!’ Nhưng đối
với Ngài, tối tăm chẳng có chi mù mịt, và đêm đen sáng tỏ như ban ngày, bóng
tối và ánh sáng cũng như nhau” (Tv 139 [138]:8-12; và x. Tv 23
[22]:4). Đức Kitô đă xuống “Hỏa Ngục” và v́ thế gần gũi với những ai bị ném
vào trong đó, khi Ngài biến đổi sự tối tăm của họ thành ánh sáng. Sự đau khổ
và hành hạ vẫn c̣n thật khủng khiếp và dĩ nhiên là không thể chịu nổi. Thế
nhưng, ánh sao của niềm hy vọng đă vươn lên – chiếc neo của trái tim đạt tới
chính ngai của Thiên Chúa. Thay v́ sự dữ hành hạ trong thân xác con người,
th́ ánh sáng tỏa chiếu vinh quang: khổ đau – không ngừng là khổ đau – nhưng
bất chấp mọi sự đang trở nên bài tụng ca ngợi khen Chúa.
38. Mức độ đích thực của nhân bản được xác định cách
cơ bản trong mối tương quan với đau khổ và người đau khổ. Điều đó có giá trị
cả đối với cá nhân lẫn xă hội. Một xă hội không thể đón nhận các thành viên
đau khổ và không thể giúp chia sẻ đau khổ của họ và mang lấy nó vào trong
tâm hồn qua thái độ “đồng cảm” là một xă hội tàn bạo và vô nhân đạo. Tuy
nhiên xă hội không thể đón nhận các thành viên đau khổ và nâng đỡ họ trong
thử thách trừ phi các cá nhân có khả năng tự ḿnh làm điều ấy; hơn nữa, cá
nhân không thể đón nhận đau khổ của nhau trừ phi chính cá nhân ấy có khả
năng t́m thấy ư nghĩa trong đau khổ, một con đường thanh luyện và tăng
trưởng trong sự trưởng thành, một hành tŕnh của hy vọng. Quả thế, chấp nhận
“người khác” đang đau khổ, có nghĩa là tôi mang lấy đau khổ của người ấy như
thể nó trở thành là của tôi. Bởi v́ bây giờ nó trở thành một đau khổ được
chia sớt, trong đó có sự hiện diện của một người khác, đau khổ ấy được hiểu
thấu nhờ ánh sáng của t́nh yêu. Tiếng La-tinh con-solatio, “an ủi”, diễn tả
điều ấy cách tuyệt hảo. Nó gợi lên sự hiện diện với người khác trong sự cô
đơn của họ, hầu nó không c̣n là sự cô đơn nữa. Hơn nữa, khả năng chấp nhận
đau khổ v́ sự thiện, chân lư và công b́nh là một tiêu chuẩn cốt yếu của tính
nhân văn, bởi v́ nếu rốt cuộc hạnh phúc và an toàn của bản thân tôi quan
trọng hơn chân lư và công b́nh, th́ quyền lực của kẻ mạnh hơn thắng thế, và
rồi bạo lực và gian dối ngự trị. Hoặc chân lư và công b́nh phải đứng trên sự
tiện nghi và hạnh phúc thể lư, hoặc cuộc sống tôi trở thành một sự dối trá.
Cuối cùng, tiếng “xin vâng” với t́nh yêu cũng là nguồn mạch của đau khổ, bởi
v́ t́nh yêu luôn đ̣i truất hữu cái “Tôi”, qua đó tôi để ḿnh bị cắt tỉa và
bị thương tích. T́nh yêu không thể hiện hữu nếu không từ khước chính ḿnh,
một sự từ khước đau đớn, bằng không nó sẽ trở thành ích kỷ và v́ thế không
c̣n là t́nh yêu nữa.
39. Đau khổ cùng với kẻ khác và cho những kẻ khác;
đau khổ v́ sự thật và công lư; đau khổ v́ t́nh yêu và để trở nên một người
biết yêu thương thực sự - đó là những yếu tố căn bản của nhân loại, và loại
bỏ những yếu tố này sẽ hủy diệt chính con người. Tuy nhiên, một loạt câu hỏi
lại được nêu ra: chúng ta có khả năng này không? Người ta có quan trọng đến
mức tôi phải đâm ra là người chịu đau khổ v́ họ? Đối với tôi sự thật có đáng
để đau khổ v́ nó là có giá trị? Lời hứa của t́nh yêu có cao cả đến mức biện
minh được việc cho đi chính tôi? Trong lịch sử của nhân loại, chính đức tin
có công đặc biệt trong việc đưa ra từ bên trong con người một khả năng mới
và sâu xa dám chấp nhận những h́nh thái đau khổ có tính chất quyết định đối
với tính nhân bản của con người. Đức tin Kitô đă cho chúng ta thấy rằng sự
thật, công lư và yêu thương không chỉ đơn thuần là những lư tưởng, nhưng là
những thực tại đáng giá to lớn. Đức tin Kitô cho thấy Thiên Chúa – hiện thân
của Sự Thật và T́nh Yêu – đă muốn chịu đau khổ v́ chúng ta và với chúng ta.
Thánh Bernard thành Clairvaux đă đưa ra câu nói tuyệt vời này:
Impassibilis est Deus, sed non incompassibilis29- Thiên Chúa
không thể đau khổ, nhưng Ngài có thể đau khổ với. Con người đáng giá
đến mức chính Thiên Chúa đă trở thành phàm nhân để đau khổ với con
người trong một cách thế rất thật – trong thân xác và máu – như đă được
tŕnh bày cho chúng ta thấy trong tŕnh thuật Thương Khó của Chúa Giêsu.
Thành ra, trong mọi đau khổ nhân sinh chúng ta được liên kết với Đấng chịu
và gánh lấy đau khổ đó vớichúng ta; nên con-solatio hiện diện
nơi tất cả đau khổ, như lời ủi an từ ḷng yêu thương lân tuất của Chúa - và
v́ thế ngôi sao hy vọng vươn lên. Chắc chắn trong nhiều đau khổ và thử thách
đa dạng của chúng ta, chúng ta cũng luôn cần đến những hy vọng lớn nhỏ - một
cuộc thăm viếng thân t́nh, sự chữa lành những vết thương trong ngoài, một
quyết tâm thuận lợi giải quyết một cuộc khủng hoảng, và vân vân. Trong những
thử thách ít nghiêm trọng, những h́nh thái hy vọng này cũng có thể là đủ cho
chúng ta. Nhưng trong những thử thách thực sự cam go, khi tôi phải đưa ra
một quyết định chung cuộc để đặt sự thật trước phúc lợi, sự nghiệp và của
cải của chính ḿnh, tôi cần đến sự xác tín của niềm hy vọng thực sự và to
lớn mà chúng ta đă đề cập nơi đây. Về điểm này, chúng ta cần đến những chứng
nhân - những vị tử đạo - những người đă cho đi chính ḿnh toàn bộ, để ngày
qua ngày chỉ ra cho chúng ta thấy đâu là chính lộ. Chúng ta cần đến họ nếu
chúng ta ưa chuộng điều thiện hơn sự thoải mái, ngay cả trong những lựa chọn
nhỏ nhặt mà chúng ta đối diện hàng ngày – khi biết rằng đó là cách để chúng
ta sống đời ḿnh cho viên măn. Chúng ta hăy lặp lại lần nữa: khả năng chịu
đau khổ v́ sự thật là thước đo tính nhân bản. Nhưng khả năng chịu đựng này
tùy thuộc vào h́nh thái và quy mô của niềm hy vọng mà chúng ta mang và ấp ủ
trong ḷng. Các thánh đă có thể trải qua một cuộc lữ hành trân thế cao đẹp
trong cách thức mà Chúa Kitô đă thực thi trước các ngài, v́ họ tràn trề niềm
hy vọng lớn lao.
40. Tôi muốn thêm vào nơi đây một nhận xét ngắn gọn
khác với những liên hệ trong đời sống hàng ngày. Trước đây thường có một
h́nh thức đạo đức – có lẽ ít được thực hành ngày nay nhưng đă rất phổ biến
trước đây không lâu – trong đó bao gồm ư tưởng “dâng lên” những lao nhọc nhỏ
hàng ngày thường xuyên quấy nhiễu chúng ta như “những cú thọc mạnh” phiền
toái, qua đó ban cho chúng một ư nghĩa. Dĩ nhiên, đă có những phóng đại và
những lạm dụng không lành mạnh h́nh thức đạo đức này, nhưng chúng ta cần tự
hỏi ḿnh liệu tối hậu điều này có chứa đựng những ǵ thiết yếu và có ơn ích
không. Dâng lên có nghĩa là ǵ? Những ai thực hành h́nh thức đạo đức này đều
tin là họ có thể đóng góp những phiền nhiễu nhỏ này vào cuộc “đồng-thương
khó” (nguyên văn “com-passion”) vĩ đại của Chúa Kitô để cách nào đó họ trở
nên một phần của kho tàng trắc ẩn (nguyên văn compassion) rất cần của nhân
loại. Qua đó, ngay cả những bất tiện nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày cũng
có ư nghĩa và đóng góp cho nhiệm cục của sự thiện và t́nh yêu nhân loại. Có
lẽ chúng ta nên xem lại liệu chính chúng ta có nên làm sống lại thực hành
này hay không.
III. Phán Xét như bối cảnh cho việc học hỏi và
thực hành hy vọng.
41. Trong phần kết của đoạn giữa Kinh Tin Kính
của Giáo Hội – phần kể lại mầu nhiệm Chúa Kitô, từ lúc sinh ra hằng hữu bởi
Chúa Cha và lúc sinh ra hữu hạn bởi Đức Maria Đồng Trinh, qua Thập Giá và
Phục Sinh đến khi Người lại đến lần thứ hai - chúng ta thấy câu: “Người sẽ
trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Từ thời xa xưa,
viễn ảnh của sự Phán Xét đă ảnh hưởng đến các Kitô hữu trong đời sống hàng
ngày như một tiêu chuẩn để sắp xếp trật tự cho đời sống hiện tại của họ, như
những lời réo gọi trong lương tâm của họ, và đồng thời như niềm hy vọng vào
công lư của Thiên Chúa. Đức tin vào Chúa Kitô không bao giờ chỉ nh́n lui lại
phía sau hay nh́n lên trên, mà cũng luôn luôn nh́n về phía trước về giờ phán
xét mà Chúa luôn nhắc nhở. Việc nh́n về phía trước này làm cho Kitô hữu thấy
được tầm quan trọng của hiện tại. Khi thiết kế các thánh đường Kitô Giáo,
với ư hướng làm rơ chiều kích lịch sử và vũ trụ của đức tin nơi Đức Kitô,
thông thường ở đầu phía đông của thánh đường, người ta tŕnh bày Chúa Kitô
trở lại như một vị vua - một biểu tượng của hy vọng; trong khi ở bức tường
phía tây người ta thường tŕnh bầy cuộc Chung Thẩm như một biểu tượng của
trách nhiệm chúng ta đối với đời sống ḿnh - một h́nh ảnh theo đuổi và đồng
hành với các tín hữu khi họ bước ra khỏi thánh đường để tiếp tục cuộc sống
hàng ngày. Tuy nhiên, khi h́nh ảnh về cuộc Chung Thẩm được phát triển, càng
ngày những khiá cạnh kinh hoàng và đáng sợ càng được chú ư làm nổi bật lên,
điều này hiển nhiên thu hút các họa sĩ hơn là vẻ huy hoàng của hy vọng,
thường bị chôn vùi bên dưới những sự kinh hoàng.
42. Trong thời đại mới, ư tưởng Chung Thẩm đă mờ dần
bên trong hậu trường: đức tin Kitô đă được cá nhân hóa và người tín hữu
hướng nhiều hơn đến phần rỗi của chính linh hồn ḿnh, trong khi sự suy tư về
lịch sử thế giới lại bị lấn át bởi ư tưởng của thuyết tiến bộ. Tuy nhiên,
nội dung căn bản của việc trông đợi ngày Chung Thẩm vẫn chưa mất đi: nó chỉ
đơn thuần nhận lấy một h́nh thức hoàn toàn khác. Thuyết vô thần của thế kỷ
19 và 20 - trong nguồn gốc và mục đích của nó- là một học thuyết luân lư:
một sự phản kháng chống lại những bất công của thế giới và của lịch sử thế
giới. Một thế giới được ghi dấu bởi quá nhiều những bất công, những đau khổ
của người vô tội, và sự hoài nghi quyền lực, không thể nào là kỳ công tŕnh
của một Thiên Chúa tốt lành. Một Thiên Chúa chịu trách nhiệm về một thế giới
như vậy không thể là một Thiên Chúa công chính, và càng không phải là một
Thiên Chúa nhân lành. V́ lợi ích của luân lư, Thiên Chúa này phải bị thách
đố. V́ không có một Thiên Chúa đứng ra tạo lập công lư, nên dường như chính
con người ngày nay được mời gọi để thiết lập công lư. Trước đau khổ của thế
giới này, sự thách đố chống lại Thiên Chúa là có thể hiểu được; nhưng điều
cho rằng nhân loại có thể và phải làm những ǵ không có Chúa nào thực sự làm
hay có thể làm, vừa là quá ngạo mạn vừa là sai lầm từ bên trong. Tư tưởng
này không phải ngẫu nhiên đă đưa đến những h́nh thức ghê gớm nhất của sự bạo
tàn và những chà đạp công lư; nhưng chính là v́ nó đă được đặt căn bản trên
sự sai lầm nội tại của khẳng định này. Một thế giới phải tự tạo ra công lư
cho ḿnh là một thế giới không có hy vọng. Không ai và không có ǵ có thể
trả lời cho biết bao những thế kỷ đau thương. Không ai và không có ǵ có thể
bảo đảm rằng sự hoài nghi quyền lực - bất kể nó mang mặt nạ ư thức hệ nào -
sẽ ngừng thống trị thế giới này. Chính v́ vậy mà những tư tưởng gia nổi
tiếng của Trường Phái Frankfurt, như Max Horkheimer và Theodore Adorno đă
chỉ trích cả thuyết vô thần lẫn hữu thần. Horkheimer loại trừ thẳng tay khả
năng t́m được một cái ǵ trong trần thế có thể thay thế được Thiên Chúa,
nhưng đồng thời cũng chối bỏ h́nh ảnh của một Thiên Chúa tốt lành và công
chính. Đề cập đến việc Cựu Ước kêu gọi loại trừ triệt để những ngẫu tượng,
ông ta đă coi “sự khao khát một Đấng toàn năng khác” dù không tiếp cận được
– như một tiếng kêu đ̣i hướng đến lịch sử thế giới. Adorno cũng mạnh mẽ ủng
hộ một thái độ chối bỏ hoàn toàn những h́nh tượng, mà lẽ tất nhiên bao gồm
sự loại bỏ bất cứ “h́nh ảnh” nào của một Thiên Chúa yêu thương. Mặt khác,
ông cũng thường xuyên nhấn mạnh cái biện chứng “tiêu cực” này và khẳng định
rằng công lư - một công lư chân thật - đ̣i hỏi một thế giới trong đó, “không
những các đau khổ hiện tại phải được loại trừ, mà cả quá khứ không thể đảo
ngược được cũng phải được đền bù lại.” 30 Tuy nhiên, nói một cách
tích cực, dù theo ông vẫn là những biểu tượng chưa đầy đủ, th́ điều này có
nghĩa là không thể nào có công lư khi không có sự sống lại của kẻ chết.
Nhưng như vậy, điều này sẽ liên quan đến “sự sống lại của thân xác, một điều
hoàn toàn xa lạ đối với học thuyết và phạm trù của thuyết tinh thần Tuyệt
Đối.” 31
43. Kitô hữu cũng có thể và phải thường xuyên học hỏi
từ sự từ bỏ hoàn toàn những ngẫu tượng được chứa đựng trong điều răn thứ
nhất của Thiên Chúa (xem Xh 20:4). Sự thật của thần học tiêu cực được
nhấn mạnh trong Công Đồng Latêranô thứ Tư, là Công Đồng đă khẳng định rơ
rằng dù cho có sự tương đồng đến đâu đă được thiết lập giữa Tạo Hóa và tạo
vật, sự dị biệt luôn luôn vẫn là lớn hơn. 32 Dù sao chăng nữa,
đối với các tín hữu, sự từ bỏ các h́nh tượng không thể đi đến mức quá khích
khiến cho người ta phải trở nên giống như Horkheimer và Adorno, là chối bỏ
cả hai học thuyết - hữu thần và vô thần. Chúa đă tự cho ḿnh một “h́nh ảnh”
trong Đức Kitô xuống thế làm người. Trong Người, Đấng bị đóng đinh vào thập
giá, sự bác bỏ những h́nh ảnh sai lầm về Thiên Chúa đă được đưa đến tột đỉnh.
Chúa giờ đây mạc khải thiên nhan thật sự của Người trong h́nh ảnh của kẻ khổ
đau đang chia sẻ hoàn cảnh của con Người bị Chúa bỏ rơi bằng cách tự sa vào
hoàn cảnh ấy. Kẻ vô tội chịu đau khổ này đă mang lại niềm hy vọng xác quyết
là có một Thiên Chúa, và Thiên Chúa có thể tạo dựng công lư theo cách thức
chúng ta không thể h́nh dung ra được, nhưng lại có thể bắt đầu hiểu được qua
đức tin. Vâng, có sự sống lại của thân xác. 33 Có công lư.
34 Có một sự “đền bù lại” các đau khổ trong quá khứ, một sự sửa sai
giúp cho mọi sự được đúng trở lại. V́ lư do này, niềm tin vào cuộc Chung
Thẩm là niềm hy vọng trước hết và trên hết – một nhu cầu đă được biểu hiện
nhăn tiền qua biết bao các cuộc nổi loạn trong các thế kỷ gần đây. Tôi tin
rằng vấn đề công lư là luận cứ thiết yếu, hay trong bất cứ trường hợp nào
cũng là luận cứ mạnh mẽ nhất cho đức tin vào đời sống vĩnh cửu. Nhu cầu hoàn
toàn cá nhân của chúng ta cho một sự viên măn đă bị chối từ trong đời này,
cho một t́nh yêu vĩnh cửu mà chúng ta trông đợi, chắc chắn là một động lực
quan trọng cho niềm tin là con người được sinh ra cho thế giới vĩnh hằng;
nhưng, chỉ trong mối liên hệ với sự thật theo đó sự bất công của lịch sử
không thể là tiếng nói sau cùng th́ lúc đó sự cần thiết cho việc Đức Kitô
trở lại và cho một đời sống mới, mới trở nên hoàn toàn đáng thuyết phục.
44. Nhân danh công lư để chống lại Thiên Chúa chẳng
có ích lợi ǵ. Một thế giới không có Thiên Chúa là một thế giới không có hy
vọng (x. Ep 2:12). Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tạo ra công lư. Và
đức tin cho chúng ta biết chắc là Người đă làm như vậy. H́nh ảnh của cuộc
Chung Thẩm chủ yếu không phải là một h́nh ảnh của kinh hoàng, nhưng là h́nh
ảnh của hy vọng; đối với chúng ta đó c̣n có thể chính là h́nh ảnh có tính
chất quyết định của hy vọng. Không phải đó cũng là một h́nh ảnh đáng khiếp
sợ sao? Tôi phải nói: đây là một h́nh ảnh gợi ra trách nhiệm, do đó, là một
h́nh ảnh của sự kinh hăi mà Thánh Hilariô đă đề cập đến khi ngài nói là tất
cả mọi sự sợ hăi của chúng ta đều có chỗ trong t́nh yêu. 35 Thiên
Chúa là công lư và Ngài thiết lập công lư. Đây là niềm an ủi và niềm hy vọng
của chúng ta. Và trong công lư của Chúa cũng có ân sủng. Chúng ta biết điều
này khi hướng nh́n lên Chúa Kitô bị đóng đinh và phục sinh. Cả hai điều này
- công lư và ân sủng - phải được xem xét trong mối tương quan nội tại đúng
đắn của chúng. Ân sủng không xóa bỏ công lư. Ân sủng không biến sự sai trái
thành đúng đắn. Đó không phải là một miếng bọt biển để tẩy xóa mọi sự, khiến
cho bất kể điều ǵ một cá nhân làm dưới thế đều có cùng một giá trị như nhau.
Chẳng hạn, Dostoevsky hành động đúng khi ông chống lại thể loại thiên đàng,
và ân sủng này trong tác phẩm Anh Em Nhà Karamazov. Các kẻ dữ, cuối
cùng, không được ngồi vào bàn của bữa tiệc vĩnh cửu bên cạnh những nạn nhân
của chúng, như thể đă không có ǵ xảy ra. Ở đây, tôi muốn trích một đoạn của
Plato tŕnh bầy một tiên đoán về sự phán quyết công b́nh mà trong nhiều khía
cạnh cũng đúng và hữu ích cho các Kitô hữu. Dù không dùng đến các h́nh ảnh
huyền thoại, ông tŕnh bầy sự thật với một sự minh bạch trong sáng; ông nói
rằng cuối cùng các linh hồn sẽ phải trần truồng đứng trước vị thẩm phán. Vấn
đề không c̣n hệ tại ở chỗ họ đă từng là chi trong lịch sử, nhưng chính ở
điểm họ là ǵ trong sự thật: “Thông thường, khi vị thẩm phán phải xử tội một
nhà vua hay một vị nguyên thủ quốc gia, ngài không thấy linh hồn này có một
cái ǵ tốt lành cả; chỉ thấy linh hồn này hằn lên những vết sẹo bởi những
hành động gian trá và sai trái”; linh hồn ấy bị méo mó v́ những lừa dối và
kiêu căng, và không có ǵ ngay thẳng, v́ sự thật không có chỗ trong sự phát
triển của linh hồn ấy. Quyền hành, xa hoa, kiêu ngạo, và trụy lạc khiến cho
linh hồn ấy đầy những sự bất quân b́nh và ghê gớm đến nỗi sau khi xem xét,
vị thẩm phán tống ngay nó vào ngục, nơi khi đến đó nó sẽ phải chịu những
h́nh phạt tương xứng”.
Nhưng, đôi khi, mắt vị thẩm phán cũng dừng lại trên
một linh hồn khác đă sống trong sạch và chân thật, “th́ ngài kính phục và
cho gửi ngay đến những ḥn đảo của những linh hồn được chúc phúc.” 36
Trong dụ ngôn người giầu có và Lazarô (x. Lk 16: 19-31), Chúa Giêsu
răn dạy chúng ta qua h́nh ảnh của một linh hồn bị thiêu hủy bởi sự ngông
cuồng và phung phí; người này đă tạo nên một hố sâu không vượt qua được giữa
hắn và người nghèo khó; hố sâu của sự giam ḿnh trong những thú vui vật chất;
hố sâu của sự bỏ quên người khác, của sự thiếu khả năng yêu thương, một hố
sâu đă h́nh thành một nỗi khát khao thiêu đốt và không thể nào thỏa măn.
Chúng ta phải ghi nhận rằng trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu không đề cập đến
định mệnh cuối cùng sau cuộc Chung Thẩm, nhưng lại đưa ra một quan niệm mới,
inter alia, được thấy trong Do Thái Giáo sơ khai, đó là một trạng
thái trung gian giữa cái chết và sự sống lại., một trạng thái trong đó phán
quyết cuối cùng chưa được ban ra.
45. Ư tưởng về trạng thái trung gian trong Do Thái
Giáo sơ khai bao gồm cả quan niệm cho rằng các linh hồn không chỉ đang sống
trong một h́nh thức bị tạm giam, nhưng như được minh họa trong dụ ngôn về
người giầu có, các linh hồn đă đang phải chịu phạt rồi hay đang được hưởng
một h́nh thái hạnh phúc tạm thời. Cũng có ư tưởng cho rằng trạng thái này có
thể bao gồm sự thanh tẩy và chữa lành là những điều làm cho linh hồn trưởng
thành hầu có thể hiệp thông với Thiên Chúa. Giáo Hội sơ khai tiếp nhận các
quan điểm này, và trong Giáo Hội Tây Phương, chúng dần dần được phát triển
thành học thuyết về Luyện Ngục. Chúng ta không cần xem xét ở đây các nẻo
đường phức tạp trong lịch sử sự phát triển ấy; mà chỉ cần hỏi xem điều này
thực ra có ư nghĩa ǵ. Với cái chết, sự chọn lựa trong cuộc đời của chúng ta
trở nên chung cuộc – cuộc sống của chúng ta giờ đây đứng trước ṭa phán xét.
Sự chọn lựa của chúng ta, với nhiều khả năng lựa chọn đa dạng, trong dọc dài
suốt cuộc đời giờ đây có một h́nh thù nhất định. Có những con người đă hoàn
toàn huỷ đi tất cả những ham muốn của ḿnh v́ sự thật và để luôn sẵn sàng
yêu thương, cũng có những con người mà mọi thứ trong đời họ đều là dối trá,
và cũng có những con người đă sống cho thù hận và đè bẹp mọi thứ t́nh yêu
trong ḷng họ. Đây là một ư tưởng đáng sợ, nhưng những diện mạo đáng lo ngại
như thế có thể thấy được nơi một số nhân vật nhất định trong lịch sử chúng
ta. Trong những con người này, mọi sự đă hết thuốc chữa và sự tàn lụi điều
thiện trong họ không thể nào đảo ngược lại: đây là ư nghĩa chúng ta muốn nói
lên trong từ Hỏa Ngục. 37 Mặt khác, có thể có những người hoàn
toàn trong sạch, hoàn toàn được thấm nhuần bởi Thiên Chúa, và do đó, hoàn
toàn cởi mở cho tha nhân- đó là những người mà sự hiệp thông với Thiên Chúa
ngay cả vào lúc này đây vạch ra cho họ những hướng đi cho toàn bộ đời ḿnh
và hành tŕnh của họ đến với Chúa chỉ là mang thêm sự viên măn vốn họ đă có
sẵn. 38
46. Nhưng kinh nghiệm cũng chỉ cho ta rằng cả hai
trường hợp trên đều không là b́nh thường trong đời sống nhân loại. Chúng ta
có thể tin rằng đối với đa số người, trong thẳm sâu con người của họ, vẫn
c̣n một sự cởi mở tối hậu bên trong dành cho sự thật, cho t́nh yêu, và cho
Thiên Chúa. Trong những lựa chọn cụ thể của cuộc đời, cho dù bị bao phủ bởi
những nhượng bộ luôn mới mẻ với sự dữ - khiến cho sự dơ bẩn lấn át sự trong
sạch, nhưng ḷng khát khao sự thuần khiết vẫn c̣n đó và vẫn thường xuyên tái
xuất hiện từ tất cả những ǵ là căn bản và những ǵ vẫn c̣n sót lại trong
linh hồn. Cái ǵ sẽ xảy ra cho các cá nhân này khi họ đến trước Ṭa Phán Xét?
Liệu tất cả những dơ bẩn chồng chất trong suốt cuộc đời có bổng nhiên trở
nên không c̣n là vấn đề nữa không? C̣n điều ǵ khác có thể xẩy ra? Thánh
Phaolô, trong Thư Thứ Nhất gửi các tín hữu thành Côrintô, đă đưa ra
cho chúng ta một ư niệm về những hệ quả khác nhau trong phán quyết của Thiên
Chúa tùy theo từng trường hợp cụ thể của mỗi người. Thánh Phaolô làm điều đó
khi dùng những h́nh ảnh cách nào đó cố gắng diễn đạt sự vô h́nh, đó là những
h́nh ảnh mà không có chúng, ta không thể khái quát hóa được – đơn giản là v́
chúng ta chẳng thể thấy ǵ bên trong thế giới sau sự chết và cũng chẳng có
một kinh nghiệm nào về thế giới ấy. Ngài bắt đầu bằng cách nói rằng đời sống
Kitô được xây dựng trên một nền tảng chung là Đức Giêsu Kitô. Nền tảng này
trường tồn. Nếu chúng ta đă đứng vững trên nền tảng này và xây dựng đời ḿnh
trên đó, chúng ta biết rằng nó không thể nào bị cất đi khỏi chúng ta ngay cả
trong cái chết. Rồi ngài tiếp: “Người ta có thể dùng vàng, bạc, đá quư, gỗ,
cỏ, rơm mà xây trên nền đó. Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày
ra ánh sáng. Thật thế, Ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, v́ Ngày ấy tỏ
rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người.
Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền, th́ người ấy sẽ được lĩnh thưởng.
C̣n công việc của ai bị thiêu huỷ, th́ người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên,
bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa.” (1 Cr
3:12-15) Trong bản văn này, hiển nhiên là trong mọi trường hợp sự cứu rỗi
của chúng ta có thể có nhiều h́nh thức khác nhau, hiển nhiên là một số những
ǵ đă được xây lên có thể bị thiêu hủy, và cũng hiển nhiên là để được cứu
chuộc chính chúng ta phải đi qua “lửa” hầu được trở nên hoàn toàn mở ra đón
nhận Thiên Chúa và có thể ngồi vào bàn tiệc cưới muôn đời.
47. Một vài thần học gia mới đây có ư kiến cho rằng
lửa vừa thiêu đốt vừa cứu chuộc chính là Chúa Kitô, vị Thẩm Phán và là Đấng
Cứu Thế. Cuộc gặp gỡ với Người là hành động phán xét chung cuộc. Trước ánh
mắt người tất cả những ǵ là giả trá sẽ tan biến. Sự gặp gỡ Người trong khi
thiêu đốt chúng ta, lại cải biến chúng ta, và giải thoát chúng ta, khiến cho
chúng ta trở nên con người chính thật của ḿnh. Tất cả những ǵ chúng ta xây
dựng trong đời có thể chỉ là rơm rạ, rỗng tuếch và sụp đổ. Vậy mà trong cái
đau đớn của cuộc gặp gỡ này, khi những dơ bẩn, và bệnh hoạn của cuộc đời
được phơi bày ra trước mắt chúng ta, th́ ơn cứu độ nằm ngay ở đó. Cái nh́n
của Chúa, sự va chạm của trái tim Người chữa lành chúng ta qua một một biến
cải chắc chắn là đau đớn “như đi qua lửa”. Nhưng đó là một sự đau đớn được
chúc lành, trong đó quyền lực cực thánh của t́nh yêu Người xuyên thấu chúng
ta như một ngọn lửa, giúp chúng ta trở nên hoàn toàn là chính ḿnh và nhờ đó
hoàn toàn thuộc về Chúa. Bằng cách này sự tương quan giữa công lư và ân sủng
cũng trở nên rơ ràng; cách thức chúng ta sống trên đời không phải là không
quan trọng, nhưng tội lỗi của chúng ta không gây t́ ố trên chúng ta măi măi
nếu ít ra chúng ta vẫn tiếp tục vươn ra để đến với Chúa Kitô, đến với sự
thật và t́nh yêu. Thật vậy, tội lỗi đă bị thiêu đốt qua cuộc khổ nạn của
Chúa Kitô. Vào lúc chung thẩm chúng ta cảm nhận và hấp thụ quyền lực vô biên
của t́nh yêu Người trên tất cả sự dữ trong thế gian và trong chúng ta. Nỗi
đau của t́nh yêu trở nên ơn cứu rỗi và niềm vui của chúng ta. Rơ ràng là
chúng ta không thể đo lường “thời gian” của sự thiêu đốt biến cải này bằng
những đơn vị đo lường thời gian của trần thế. “Giờ phút” biến cải trong cuộc
gặp gỡ này vượt quá ước tính thế gian - đó là thời khắc của con tim, đó là
thời gian của cuộc “vượt qua”, để tiến đến hiệp thông với Thiên Chúa qua
Ḿnh Thánh Chúa Kitô. 39 Sự phán xét của Chúa là niềm hy vọng, v́
đó vừa là công lư, và vừa là ân sủng. Nếu chỉ có ân sủng mà thôi, khiến cho
tất cả mọi việc trên thế gian không c̣n vấn đề nữa, th́ Chúa sẽ mắc nợ chúng
ta một câu trả lời về công lư – một câu hỏi quyết liệt chúng ta đặt ra cho
lịch sử và cho Thiên Chúa. Nếu chỉ là công lư, th́ cuối cùng chỉ có thể đem
lại cho chúng ta sự sợ hăi. Việc Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Kitô đă nối kết
công lư và ân sủng với nhau mật thiết đến độ công lư được thiết lập vững
chắc: chúng ta đều phải lo liệu cho sự cứu rỗi của ḿnh “trong âu lo và run
sợ” (Pl 2:12). Tuy nhiên, ân sủng cho phép tất cả chúng ta hy vọng,
và để vững tin đi gặp vị Thẩm Phán, Đấng chúng ta biết đến như là “trạng sư”,
hay parakletos (x. 1 Ga 2;1) của chúng ta.
48. Cần đề cập thêm một điều nữa ở đây, v́ tầm quan
trọng của nó đối với việc thực hành niềm hy vọng Kitô. Các tư tưởng Do Thái
Giáo sơ khai bao gồm điều cho rằng người ta có thể giúp đỡ người quá cố
trong trạng thái trung gian bằng lời cầu nguyện (chẳng hạn xem 2 Mcb
12: 38-45; thế kỷ thứ nhất trước Chúa Giáng Sinh). Thực hành tương đương đă
được các Kitô hữu sẵn sàng tiếp nhận và được áp dụng chung trong Giáo Hội
Đông Phương và Tây Phương. Đông Phương không công nhận sự thanh tẩy và chuộc
lỗi qua sự đau khổ của các linh hồn ở đời sau, nhưng có công nhận những mức
độ khác nhau của hạnh phúc và đau khổ trong trạng thái trung gian. Tuy nhiên,
linh hồn của người quá cố có thể nhận được “sự an ủi và bổ sức” qua việc
rước Ḿnh Thánh, cầu nguyện và bố thí. Niềm tin cho rằng t́nh yêu có thể
vươn tới đời sau, việc cho đi và nhận lănh hỗ tương là có thể được, trong đó
t́nh yêu dành cho nhau tiếp tục vượt qua cả những ranh giới của sự chết -
điều này đă trở nên một xác tín của Kitô Giáo qua nhiều thời đại và ngày nay
vẫn c̣n là một nguồn suối ủi an. Ai mà không cảm thấy cần thiết phải bầy tỏ
cho người thân yêu đă ra đi một dấu chỉ của ḷng tốt, một cử chỉ biết ơn hay
ngay cả một lời cầu xin tha thứ? Đến đây, một câu hỏi khác được đặt ra: nếu
“Luyện Ngục” chỉ đơn thuần là sự thanh tẩy trong lửa trong cuộc gặp gỡ với
Thiên Chúa, Đấng Phán Xét và là Đấng Cứu Chuộc, th́ làm sao một người thứ ba
lại có thể can thiệp, dù cho người ấy có thân cận đến đâu? Khi chúng ta đặt
câu hỏi này, chúng ta phải nhớ rằng không ai là một ốc đảo sống hoàn toàn
biệt lập một ḿnh. Đời sống chúng ta có liên quan đến nhau, qua biết bao
nhiêu những giao tiếp, chúng được liên kết lại với nhau. Không ai sống một
ḿnh. Không ai phạm tội một ḿnh. Không ai được rỗi một ḿnh. Đời sống của
người khác tiếp tục tuôn đổ trên tôi trong ư nghĩ, lời nói, việc làm và
thành đạt. Và ngược lại, đời tôi tuôn đổ trên những người khác: dù tốt hay
xấu. Do đó, lời cầu nguyện tôi dâng cho người khác không phải là một cái ǵ
ngoại tại với người ấy, dù cả sau cái chết.
Trong sự liên kết với nhau của Hữu Thể, ḷng biết ơn
đối với người khác - lời kinh dâng cho họ - có thể đóng một vai tṛ nhỏ
trong sự thanh tẩy của họ. Và v́ không cần phải hoán đổi thời giờ thế gian
thành thời giờ của Chúa v́ trong sự hiệp thông của các linh hồn thời giờ
trần thế bị lấn lướt. Không bao giờ được coi là quá trễ để chạm đến trái tim
của người khác, và cũng không bao giờ là vô ích. Bằng cách này chúng ta làm
rơ thêm một yếu tố quan trọng trong khái niệm hy vọng của Kitô Giáo. Niềm hy
vọng của chúng ta luôn luôn về căn bản là niềm hy vọng của người khác: chỉ
như thế nó mới thật sự là niềm hy vọng của cả tôi nữa. 40 Là Kitô
hữu chúng ta không bao giờ được tự giới hạn ḿnh để chỉ biết hỏi: làm sao để
tôi được cứu rỗi? Chúng ta phải nên hỏi: tôi phải làm ǵ để cho người khác
có thể được cứu chuộc, và để cả trong họ ngôi sao hy vọng có thể vươn lên?
Như thế tôi cũng đă làm hết sức ḿnh cho việc cứu rỗi của chính ḿnh.
49. Với một bài thánh ca được soạn vào thế kỷ thứ 8
hay thứ 9, tức là hơn một ngàn năm rồi, Giáo Hội đă chào mừng Mẹ Maria, Mẹ
Thiên Chúa, như là “Ngôi Sao Biển”: Đó là bài Ave maris stella. Đời người là
một cuộc lữ hành. Hướng đến đích điểm nào? Làm sao t́m được lối đi? Đời
người như một hải tŕnh trên đại dương của lịch sử, thường tối tăm và giông
tố, một hành tŕnh trong đó chúng ta t́m kiếm những ngôi sao dẫn đường.
Những ngôi sao chính thật trong cuộc sống chúng ta là những người đă sống
tốt lành. Họ là những ánh sáng của hy vọng. Chắc chắn, Chúa Giêsu Kitô là
ánh sáng thật, là mặt trời đă lên cao vượt trên tất cả các bóng tối của lịch
sử. Nhưng muốn đến được với Người, chúng ta cũng cần đến những ánh sáng gần
bên – của những người đang phản chiếu ánh quang của Ngài và dẫn đường cho
chúng ta. C̣n ai hơn được Mẹ Maria, là ngôi sao hy vọng cho chúng ta? Với
tiếng “Xin Vâng” Mẹ đă mở cửa thế giới chúng ta cho chính Thiên Chúa; Mẹ đă
trở nên Ḥm Bia Thiên Chúa sống động, trong đó Thiên Chúa nhập thể, trở nên
một người giữa chúng ta, và dựng lều của Ngài giữa chúng ta (x. Ga
1:14)
50. Do đó, chúng ta kêu lên với Mẹ: Lạy Mẹ Maria Cực
Thánh, Mẹ là một trong những tâm hồn khiêm nhu và cao cả của Israel, những
tâm hồn đang “t́m sự ủi an cho Israel” (Lc 2:25), như ông Simêôn, và
đang hy vọng, như bà Anna, “cho ơn cứu độ trên thành Giêrusalem” (Lc
2:38). Cuộc đời Mẹ đă thấm nhuần với thánh kinh vang lên niềm hy vọng của
Israel, và vang lên lời hứa cho Abraham và miêu duệ người (x Lc
1:55). Bằng cách này chúng con có thể thông cảm nỗi lo sợ thánh thiện của Mẹ
khi thiên thần của Chúa hiện ra với Mẹ và phán rằng Mẹ sẽ sinh ra Đấng là
niềm hy vọng của Israel, Đấng mà toàn thế giới đang trông chờ. Qua Mẹ, qua
lời “Xin Vâng” của Mẹ, niềm hy vọng của bao thời đại đă trở thành hiện thực,
khi bước vào thế giới và lịch sử của nó. Mẹ đă cúi sấp ḿnh trước trọng
trách này và nói lên lời ưng thuận: “Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời; tôi
xin vâng như lời thánh Thiên Thần truyền (Lc 1:38). Khi Mẹ hối hả với
niềm vui thánh thiện vượt rặng núi Giuđêa để thăm người chị họ là bà
Êlisabeth, Mẹ đă trở nên h́nh ảnh của Giáo Hội tương lai, mang hy vọng của
thế giới trong ḷng để vượt qua những rặng núi của lịch sử. Nhưng bên cạnh
niềm vui, với lời ngợi khen Magnificat, mà Mẹ đă tuyên xưng và hát
lên cho mọi thế kỷ được nghe, Mẹ cũng biết đến những lời đen tối mà các tiên
tri đă nói trước về những đau đớn người tôi tớ của Chúa trong thế giới này.
Lúc Chúa sinh ra tại hang lừa Bêlem, Người được chiếu sáng bởi những thiên
thần trong ánh huy hoàng đang mang tin mừng đến cho những kẻ chăn cừu, nhưng
đồng thời lúc đó sự thấp hèn của Thiên Chúa trong thế giới này cũng thật dễ
cảm nhận. Ông già Simêon nói với Mẹ về lưỡi gươm sẽ đâm thấu ḷng Mẹ (x.
Lc 2:35), về Con Mẹ sẽ nên dấu chỉ mâu thuẫn trong thế giới này. Rồi,
khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài, Mẹ phải đứng sang một bên,
để cho một gia đ́nh mới có thể tăng trưởng, một gia đ́nh mà Chúa có sứ mạng
phải thiết lập và sẽ bao gồm tất cả những ai lắng nghe và tuân giữ lời Người
(x Lc 11:27f). Bất chấp niềm vui cả thể đánh dấu buổi đầu sứ vụ của
Chúa Giêsu, ngay tại đền thờ Nazareth chắc Mẹ đă cảm nhận sự thật về lời
tiên tri nói đến “dấu chỉ của mâu thuẫn” (x Lc 4: 28ff). Qua đó, Mẹ
đă thấy được sức mạnh gia tăng của thù nghịch và chối bỏ đang bao vây quanh
Chúa Giêsu cho đến những giờ phút trên Thánh Giá, khi Mẹ phải nh́n ngắm Đấng
Cứu Thế của nhân loại, người thừa tự của Đavít, và là Con Thiên Chúa đă phải
chết như một kẻ thất bại, bị chế riễu giữa những tội nhân. Khi đó Mẹ nghe
lời Chúa Giêsu phán: “Này Bà, đây là con bà!” (Ga 19:26). Từ Thập Giá
Mẹ tiếp nhận một sứ mạng mới. Từ Thập Giá Mẹ trở nên một người mẹ trong một
cách thế mới mẻ; là người mẹ của tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu Con Mẹ
và muốn theo Người. Lưỡi gươm của đau khổ đă đâm thâu ḷng Mẹ. Niềm hy vọng
đă chết sao? Thế giới vĩnh viễn mất đi ánh sáng và đời sống mất hết mục đích
sao? Vào lúc đó, trong thâm tâm, có lẽ Mẹ lại lắng nghe lời thiên thần đáp
lại nỗi lo sợ của Mẹ vào lúc Truyền Tin: “Này Maria, xin đừng sợ!” (Lc
1:30). Đă bao nhiêu lần Chúa Giêsu, Con Mẹ đă nói với các môn đệ cùng những
lời này: “các con đừng sợ!” Trong ḷng Mẹ, Mẹ lại nghe thấy những lời này
vào đêm đen trên đồi Golgôtha. Trước giờ bị phản bội, Chúa cũng đă phán cùng
các môn đệ: “Hăy an tâm, ta đă thắng thế gian” (Ga 16:33). ‘Ḷng các
con đừng bối rối, đừng lo sợ” (Ga 14:27). “Maria, đừng lo sợ!” Vào
giờ phút ấy tại Nazareth thiên thần cũng nói với Mẹ: “Triều Đại của Người sẽ
vô cùng vô tận.” (Lc 1:33) Triều đại này có chấm dứt trước khi được
khởi sự không? Không, nơi chân Thánh Giá, với sức mạnh của chính lời Chúa
Giêsu, Mẹ đă trở nên người mẹ các tín hữu. Trong niềm tin này, ngay trong
đêm tối của Thứ Bẩy cực thánh, Mẹ đă mang trong ḷng một xác quyết về niềm
hy vọng, giúp Mẹ qua được tới buổi sáng Phục Sinh. Niềm vui của sự
Sống Lại đánh động tim Mẹ và kết hiệp Mẹ một cách mới mẻ với các môn đệ,
những người đă được tiền định để trở nên một gia đ́nh của Chúa Giêsu trong
đức tin. Bằng cách này Mẹ đă hiện diện ngay giữa cộng đồng các tín hữu,
những người vào những ngày sau khi Chúa Lên Trời, đă hiệp lời cầu nguyện xin
cho được ơn Chúa Thánh Thần (x Cv 1:14), và sau đó đă nhận được ơn
này vào ngày lễ Ngũ Tuần. “Vương Quốc” của Chúa Giêsu đă không như người ta
tưởng. Nước Chúa khởi sự vào lúc đó và tiếp diễn đến bất tận. Do đó, Mẹ ở
lại với các môn đệ như người mẹ của họ, như người Mẹ của niềm hy vọng. Lạy
Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ chúng con, xin Mẹ dạy chúng con biết tin, biết
hy vọng và biết yêu với Mẹ. Xin hướng dẫn chúng con tới Vương Quốc của Chúa!
Lạy Ngôi Sao Biển, xin chiếu sáng chúng con và dẫn đường cho chúng con!
Ban hành tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 30
tháng 11, ngày Lễ Kính Thánh Anrê Tông Đồ, năm 2007, năm thứ ba của triều
đại Giáo Hoàng.
+ Đức Giáo Hoàng Bênêđictô. XVI
1 Corpus Inscriptionum Latinarum VI, no.
26003.
2 Cf. Dogmatic Poems, V, 53-64: PG 37,
428-429.
3 Cf. Catechism of the Catholic Church,
1817-1821.
4 Summa Theologiae, II-IIae, q.4, a.1.
5 H. Kưster in Theological Dictionary of the New
Testament VIII (1972), p.586.
6 De excessu fratris sui Satyri, II, 47:
CSEL 73, 274.
7 Ibid., II, 46: CSEL 73, 273.
8 Cf. Ep. 130 Ad Probam 14, 25-15, 28: CSEL
44, 68-73.
9 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1025.
10 Jean Giono, Les vraies richesses (1936),
Preface, Paris 1992, pp.18-20; quoted in Henri de Lubac, Catholicisme.
Aspects sociaux du dogme, Paris 1983, p.VII.
11 Ep. 130 Ad Probam 13, 24: CSEL 44,
67.
12 Sententiae III, 118: CCL 6/2, 215.
13 Cf. ibid. III, 71: CCL 6/2, 107-108.
14 Novum Organum I, 117.
15 Cf . ibid. I, 129.
16 Cf . New Atlantis.
17 In Werke IV, ed. W. Weischedel (1956),
p.777.
18 I. Kant, Das Ende aller Dinge, in Werke
VI, ed. W.Weischedel (1964), p.190.
19 Chapters on charity, Centuria 1, ch. 1:
PG 90, 965.
20 Cf. ibid. : PG 90, 962-966.
21 Conf. X 43, 70: CSEL 33, 279.
22 Sermo 340, 3: PL 38, 1484; cf. F.
Van der Meer, Augustine the Bishop, London and New York 1961, p.268.
23 Sermo 339, 4: PL 38, 1481.
24 Conf. X 43, 69: CSEL 33, 279.
25 Cf. Catechism of the Catholic Church, 2657.
26 Cf. In 1 Ioannis 4, 6: PL 35, 2008f.
27 Testimony of Hope, Boston 2000, pp.121ff.
28 The Liturgy of the Hours, Office of Readings, 24
November.
29 Sermones in Cant., Sermo 26, 5: PL
183, 906.
30 Negative Dialektik (1966), Third part, III,
11, in Gesammelte Schriften VI, Frankfurt am Main 1973, p.395.
31 Ibid., Second part, p.207.
32 DS 806.
33 Cf. Catechism of the Catholic Church,
988-1004.
34 Cf. ibid., 1040.
35 Cf. Tractatus super Psalmos, Ps 127,
1-3: CSEL 22, 628-630.
36 Gorgias 525a-526c.
37 Cf. Catechism of the Catholic Church,
1033-1037.
38 Cf. ibid., 1023-1029.
39 Cf. Catechism of the Catholic Church,
1030-1032.
40 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1032.
Bản dịch Việt Ngữ của VietCatholic Network.
-
Lm. Gioan Trần Công
Nghị
-
Lm. Gioan Thiên Chúa
Phan Du Sinh, OFM
-
Ks. Gioan Baotixita
Đặng Minh An
-
Gs. Gioan
Maria Bùi Hữu Thư
(VietCatholicNews
07/12/2007)