LÁ THƯ
CỦA ĐỨC THÁNH
CHA BÊNÊĐÍCTÔ XVI
GỞI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC,
NHỮNG NGƯỜI SỐNG ĐỜI THÁNH HIẾN,
VÀ ANH CHỊ EM TÍN HỮU
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI CỘNG H̉A NHÂN DÂN TRUNG HOA
Lời Chào
1. Các hiền huynh Giám Mục, các linh mục, những người
sống đời thánh hiến và tất cả anh chị em tín hữu của Giáo Hội Công Giáo tại
Trung Hoa thân mến: “Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, khi cầu nguyện cho anh em. Thật vậy, chúng tôi đă
được nghe nói về ḷng tin của anh em vào Đức Giêsu Kitô, và về ḷng mến của
anh em đối với toàn thể dân thánh; ḷng tin và ḷng mến đó phát xuất từ niềm
trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông cậy anh em đă được nghe loan
báo khi lời chân lư là Tin Mừng đến với anh em…
Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin
Thiên Chúa cho anh em được am tường thánh ư Người, với tất cả sự khôn ngoan
và hiểu biết mà Thần Khí ban cho. Như vậy, anh em sẽ sống được như Chúa đ̣i
hỏi, và làm đẹp ḷng Người về mọi phương diện, sẽ sinh hoa trái là mọi thứ
việc lành, và mỗi ngày một hiểu biết Thiên Chúa hơn. Nhờ sức mạnh vạn năng
của Thiên Chúa vinh quang, anh em sẽ nên mạnh mẽ để kiên tŕ chịu đựng tất
cả.” (Cl 1:3-5, 9-11) .
Những lời này của Thánh Tông Đồ Phaolô thật là thích
hợp để bày tỏ những t́nh cảm mà tôi, trong tư cách Người Kế Vị Thánh Phêrô
và là Mục Tử toàn thể Hội Thánh, cảm nhận nơi anh chị em. Anh chị em biết rơ
anh chị em hiện diện thế nào trong tim tôi, trong lời kinh nguyện hàng ngày
của tôi, và mối quan hệ hiệp thông kết hiệp chúng ta cách thiêng liêng sâu
đậm đến thế nào.
Mục đích của Lá Thư này
2. Do đó, tôi ao ước được chuyển đến tất cả anh chị
em một biểu lộ t́nh huynh đệ gần gũi của tôi. Với niềm vui mănh liệt, tôi
nh́n nhận sự trung tín của anh chị em đối với Chúa Kitô và với Giáo Hội, một
sự trung tín đă được anh chị em thể hiện “đôi khi với một giá đau khổ lớn
lao” 1 v́ “nhờ Đức Kitô, anh em đă được phúc chẳng những là tin
vào Người, mà c̣n được chịu đau khổ v́ Người” (Pl 1:29) . Dẫu sao,
nhiều khía cạnh quan trọng trong đời sống Giáo Hội tại đất nước anh chị em
đang gây ra âu lo.
Không dám nhận là đương đầu với mọi chi tiết trong
những vấn nạn phức tạp anh chị em hằng tỏ tường, tôi muốn qua lá thư này đưa
ra một vài chỉ dẫn liên quan đến đời sống Giáo Hội và nghĩa vụ truyền giáo
tại Trung Hoa, ngơ hầu giúp anh chị em khám phá điều Chúa và Thầy Giêsu Kitô,
Đấng là “ch́a khóa, là trung tâm và là cùng đích của toàn thể lịch sử nhân
loại”,2 mong muốn nơi anh chị em.
PHẦN MỘT
T̀NH H̀NH CỦA GIÁO HỘI
NHỮNG KHÍA CẠNH THẦN HỌC
Toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chủ nghĩa vô thần
3. Khi tôi hướng sự chú ư đến Dân Tộc của anh chị em
- một dân tộc nổi bật giữa các dân tộc khác tại Á Châu v́ vẻ huy hoàng của
nền văn minh cổ đại, với tất cả những kinh nghiệm về sự thông thái, triết lư,
nghệ thuật và khoa học - tôi hài ḷng ghi nhận cách thế, đặc biệt là trong
những thời gian gần đây, dân tộc anh chị em đă bước những bước quyết định
trong việc đạt đến những mục tiêu đáng kể về phát triển kinh tế xă hội, lôi
cuốn sự chú ư của toàn thế giới.
Như vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II đă từng nói: “Về phần ḿnh Giáo Hội Công Giáo trong niềm
kính trọng sự đột phá đầy ấn tượng và nh́n xa này, và với sự cẩn trọng, đưa
ra đóng góp về phần ḿnh cho sự thăng tiến và bảo vệ con người, cho các giá
trị nhân bản, tu đức và ơn gọi siêu nhiên. Giáo Hội trong tim ḿnh có nhiều
giá trị và mục tiêu cũng có tầm quan trọng đối với nước Trung Hoa hiện đại:
t́nh liên đới, ḥa b́nh, công lư xă hội, sự quản lư khôn ngoan hiện tượng
toàn cầu hóa”. 3
Áp lực đạt cho bằng được sự phát triển kinh tế xă hội
mong ước và cần thiết cũng như sự kiếm t́m hiện đại hóa luôn đi kèm với hai
hiện tượng khác biệt và tương phản, cả hai hiện tượng này dẫu sao cũng nên
được đánh giá với sự thận trọng tương đương và với một tinh thần tông đồ
tích cực. Một mặt, đặc biệt nơi những người trẻ, ta có thể thấy một sự gia
tăng mối quan tâm đến chiều kích thiêng liêng và siêu nhiên của con người,
với hệ quả là sự quan tâm đến tôn giáo, đặc biệt là Kitô Giáo. Một mặt khác,
cũng có những dấu chỉ, ngay cả tại Trung Hoa, của khuynh hướng nghiêng về
chủ nghĩa vật chất và vô thần, đang lan tràn từ các thành phố lớn lan tỏa ra
cả nước. 4
Trong bối cảnh này, một bối cảnh anh chị em được mời
gọi để sống và hoạt động, tôi muốn nhắc nhở anh chị em về điều mà Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II đă nhấn mạnh rất mạnh mẽ: công cuộc tân phúc âm hóa đ̣i
hỏi việc công bố Tin Mừng 5 cho con người hiện đại, với một nhận
thức nhạy bén rằng nếu như trong thiên niên kỷ đầu tiên của Kitô Giáo Thánh
Giá đă được cắm trên Âu Châu; và trong thiên niên kỷ thứ hai, Thánh Giá tiếp
tục được cắm trên Mỹ Châu và Phi Châu; th́ trong thiên niên kỷ thứ ba này,
một mùa bội thu đức tin sẽ nở rộ trong đại lục Á Châu bao la và sinh động.6
‘Duc in altum’ (Lk 5:4) . (Hăy Ra Khơi). Những
lời này tiếp tục vang lên với chúng ta hôm nay, và mời gọi chúng ta nhớ đến
quá khứ với ḷng biết ơn, sống hiện tại với ḷng nhiệt thành và hướng nh́n
về tương lai với niềm cậy trông: ‘Chúa Giêsu Kitô là một hôm qua, hôm nay và
măi măi’ (Dt 13:8) . 7 Tại Trung Hoa cũng vậy, Giáo Hội
được mời gọi là một nhân chứng cho Chúa Kitô, hướng nh́n về tương lai với hy
vọng và – trong khi công bố Tin Mừng – đương đầu với những thách đố mới mà
người Trung Hoa phải đối diện.
Lời Chúa lần nữa giúp chúng ta khám phá ư nghĩa huyền
nhiệm và sâu xa về con đường của Giáo Hội trong thế giới. Thật vậy, “chủ thể
của một trong những thị kiến quan trọng trong Sách Khải Huyền là Chiên Con
trong hành động mở cuốn sách được đóng bẩy ấn niêm phong mà trước đó không
ai mở được. Thánh Gioan đă cho thấy là ngài rơi lệ v́ không ai xứng đáng mở
được hay đọc được cuốn sách ấy (x Kh 5:4) . Lịch sử vẫn y nguyên
không giải mả được, không thể hiểu được. Không ai đọc được nó. Có lẽ, Thánh
Gioan đă rơi lệ trước mầu nhiệm của một lịch sử quá u minh thể hiện nơi sự
thất vọng của các Giáo Hội tại Á Châu trước sự yên lặng của Thiên Chúa khi
phải đối diện với những bách hại xảy ra cho họ. Đó là một sự thất vọng có
thể phản ánh rơ ràng nỗi tuyệt vọng của chúng ta trước những khó khăn nghiệm
trọng, trước những hiểu lầm và sự thù địch mà Giáo Hội phải gánh chịu trong
nhiều miền khác nhau trên thế giới. Đó là những thử thách mà Giáo Hội không
đáng phải gánh chịu, cũng như Chúa Giêsu không đáng bị hành hạ. Tuy nhiên,
chúng thể hiện cả sự tàn ác của con người, khi nó từ bỏ chính ḿnh để chiều
theo sự dữ; cũng như trật tự siêu việt của các biến cố nơi Thiên Chúa”.8
Ngày nay, cũng như trong quá khứ, công bố Tin Mừng
nghĩa là rao giảng và làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, chịu đóng đinh và sống
lại, một Nhân Loại mới, Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết. Ngài khiến cho
nhân loại có thể tiến vào một chiều kích mới, nơi đó ḷng thương xót và t́nh
yêu khi được thể hiện ngay cả với những kẻ thù có thể làm chứng cho vinh
quang của Thánh Giá trên tất cả những yếu hèn và sự bất hạnh của nhân loại.
Tại quốc gia của anh chị em, việc công bố Chúa Kitô chịu đóng đinh, và đă
sống lại sẽ có thể đạt đến mức độ, trong đó, với ḷng trung tín với Tin Mừng,
và trong niềm hiệp thông với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và với Giáo Hội Hoàn Vũ,
anh chị em có thể thực hành những dấu chỉ của yêu thương và hiệp nhất “Như
Thầy đă yêu thương anh em, anh em hăy yêu thương nhau. Mọi người sẽ nhận
biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có ḷng yêu thương nhau…để
tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong
chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đă sai con.” (Ga 13:34-35;
17:21)
Sẵn sàng tham dự trong cuộc đối thoại tương
kính và xây dựng
4. Trong tư cách Mục Tử toàn thể Hội Thánh, tôi muốn
thể hiện ḷng biết ơn chân thành với Thiên Chúa v́ chứng tá được cảm nhận
sâu xa về ḷng trung tín do cộng đoàn Công Giáo tại Trung Hoa đưa ra trong
những t́nh huống thật khó khăn. Đồng thời, tôi cảm nhận được nhu cầu cấp
bách, như nghĩa vụ sâu xa và đ̣i buộc và như một thể hiện của t́nh phụ tử,
cần xác nhận đức tin của người Công Giáo Trung Hoa và trợ giúp sự hiệp nhất
trong họ bằng những phương thế thích hợp với Giáo Hội.
Tôi cũng đang theo dơi với sự quan tâm đặc biệt trước
những biến cố của toàn thể Dân Tộc Trung Hoa, những người mà tôi luôn dành
một sự ngưỡng mộ chân thành và những t́nh cảm thân hữu, đến mức tôi bày tỏ
hy vọng rằng “các h́nh thức cụ thể về thông tin và hợp tác giữa Ṭa Thánh và
Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa sớm được thiết lập. T́nh hữu nghị được nuôi
dưỡng bởi những liên lạc, bởi việc chia sẻ niềm vui và nỗi buồn trong những
trạng huống khác nhau, bởi t́nh liên đới và sự trợ giúp lẫn nhau”. 9
Và khi theo đuổi ḍng lư luận này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đă thêm
vào: “Không có ǵ bí mật khi Ṭa Thánh, nhân danh toàn thể Giáo Hội Công
Giáo và tôi, v́ lợi ích của toàn thể nhân loại, bày tỏ hy vọng có thể khai
mở các h́nh thức đối thoại với các nhà cầm quyền của nước Cộng Ḥa Nhân Dân
Trung Hoa. Một khi những hiểu lầm trong quá khứ được vượt qua, một cuộc đối
thoại như thế sẽ khiến cho chúng ta có thể hoạt động chung v́ lợi ích của
Dân Tộc Trung Hoa và v́ ḥa b́nh của thế giới” 10
Tôi nhận thức rằng sự b́nh thường hóa quan hệ với
Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa đ̣i hỏi thời gian và thiện chí của cả hai bên.
Về phần ḿnh, Ṭa Thánh luôn sẵn sàng thương thảo để những khó khăn hiện nay
có thể được vượt qua.
T́nh trạng hiểu lầm và thiếu thông cảm hiện nay thật
nặng nề, không mang lại lợi ích cho ai, cả nhà cầm quyền Trung Hoa cũng như
cho Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa. Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă
khẳng định, khi nhắc lại những ǵ cha Matteo Ricci viết từ Bắc Kinh, 11
“cũng thế ngày nay Giáo Hội Công Giáo không t́m kiếm đặc quyền ǵ từ
Trung Hoa và các nhà lănh đạo của quốc gia này, nhưng chỉ t́m kiếm việc tái
lập đối thoại, ngơ hầu xây dựng một quan hệ dựa trên sự tương kính và sự
hiểu biết sâu xa hơn”. 12 Trung Hoa có thể tin rằng Giáo Hội Công
Giáo thành tâm muốn trao ra một lần nữa sự phục vụ khiêm nhường và vô vị lợi
trong những lănh vực Giáo Hội có khả năng, v́ lợi ích của người Công Giáo
Trung Hoa và lợi ích của tất cả cư dân trên đất nước này.
Liên quan đến những quan hệ giữa cộng đồng chính trị
và Giáo Hội tại Trung Hoa, cần nhắc lại giáo huấn minh bạch của Công Đồng
Vatican II, theo đó, “Giáo Hội theo vai tṛ và khả năng của ḿnh không thể
bị đồng hóa với một cộng đồng chính trị cũng không thể bị ràng buộc vào một
hệ thống chính trị nào. Giáo Hội là chỉ dấu và là người bảo vệ cho chiều
kích siêu nhiên của nhân loại”. Và Công Đồng nêu tiếp rằng: “Cộng đồng chính
trị và Giáo Hội là tách biệt và độc lập với nhau trong lănh vực của ḿnh. Cả
hai phục vụ cho ơn gọi của cá nhân và xă hội của cùng những cá nhân, mặc dù
dưới những danh nghĩa khác nhau. Sự phục vụ của họ sẽ hữu hiệu hơn nếu cả
hai cơ chế phát triển tốt hơn sự hợp tác với nhau tùy theo những hoàn cảnh
về không gian và thời gian” 13
Thành ra, Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa cũng không
có sứ mệnh thay đổi cấu trúc hay sự quản trị của Nhà Nước; trái lại, sứ mạng
của Giáo Hội là công bố cho những người nam nữ về Chúa Kitô, như là Đấng Cứu
Độ thế gian, trong khi đặt cơ sở của chính ḿnh – khi thi hành các hoạt động
tông đồ thích hợp – trên quyền năng của Thiên Chúa. Như tôi đă đề cập trong
thông điệp Thiên Chúa là T́nh Yêu của ḿnh, “Giáo Hội không thể và
không được gánh lấy cho ḿnh cuộc chiến chính trị để đem lại một xă hội công
bằng nhất. Giáo Hội không thể và không phải thay thế chính quyền. Tuy nhiên
đồng thời Giáo Hội không thể và không phải ở bên lề trong cuộc đấu tranh cho
công bằng. Giáo Hội cần đóng vai tṛ của ḿnh qua việc biện luận thuần lư và
phải thức tỉnh năng lực thiêng liêng mà nếu thiếu, công bằng vốn luôn đ̣i
hỏi sự hy sinh, sẽ không thắng thế và tăng trưởng. Một xă hội công bằng phải
là thành quả của chính trị, chứ không phải của Giáo Hội. Tuy nhiên cổ vơ cho
công bằng qua những nỗ lực nhằm đem lại sự cởi mở của tâm trí và ước muốn
theo những đ̣i hỏi của ích chung, là điều ǵ can hệ đến Giáo Hội cách sâu xa.”
14
Trước ánh sáng của những nguyên tắc không thể đảo
ngược này, giải pháp cho những vấn đề đang tồn tại không thể được theo đuổi
qua sự đối đầu kéo dài với các nhà cầm quyền dân sự hợp hiến; nhưng đồng
thời việc tùng phục những nhà cầm quyền này là không thể chấp nhận được khi
nó can thiệp vô lư vào những vấn đề liên quan đến đức tin và kỷ luật của
Giáo Hội. Các nhà chức trách dân sự cần nhận thức rơ ràng rằng Giáo Hội mời
gọi các tín hữu của ḿnh trở nên những công dân tốt, tôn trọng và đóng góp
tích cực cho thiện ích chung của đất nước; nhưng cũng minh bạch như thế là
Giáo Hội đ̣i hỏi Nhà Nước phải bảo đảm cho những công dân Công Giáo này việc
thực hành đầy đủ niềm tin của họ, với sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo chân
chính.
Sự hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương
trong Giáo Hội Hoàn Vũ
5. Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa yêu dấu, anh chị
em là một đàn chiên nhỏ hiện diện và năng động trong một Dân Tộc bao la đang
lữ hành theo ḍng lịch sử. Những lời khuấy động và khích lệ này của Chúa
Giêsu dành cho anh chị em: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, v́ Cha anh em đă
vui ḷng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12:32) “Anh em là muối
đất.. anh em là ánh sáng thế gian”: do đó “ánh sáng của anh em phải chiếu
giăi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà
tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5:13, 14, 16).
Trong Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa, Giáo Hội Hoàn
Vũ hiện diện, Giáo Hội của Chúa Kitô, mà trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên
xưng là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, nghĩa là,
cộng đoàn phổ quát các môn đệ của Chúa.
Như anh chị em biết, sự hiệp thông sâu xa, nối kết
các Giáo Hội địa phương tại Trung Hoa, cũng như đặt các Giáo Hội này trong
t́nh hiệp thông mật thiết với tất cả các Giáo Hội khác trên thế giới, có
nguồn gốc không chỉ nơi một đức tin chung và một Phép Rửa chung, nhưng trên
hết là nơi bí tích Thánh Thể và nơi hàng giáo phẩm.15 Cũng thế,
sự hiệp thông trong hàng Giám Mục - trong đó, “vị Giám Mục Rôma, như người
Kế Vị Thánh Phêrô, là nguồn mạch và nền tảng vĩnh hằng và hữu h́nh” 16
- được lưu truyền từ thế kỷ này sang thế kỷ khác qua việc kế tục tông truyền
và là nền tảng cho sự tương đồng giữa Giáo Hội trong mọi thời đại với Giáo
Hội đă được Chúa Kitô xây dựng trên Phêrô và các thánh Tông Đồ khác. 17
Giáo lư Công Giáo dạy rằng Đức Giám Mục là nguồn mạch
và là cơ sở hữu h́nh cho sự hiệp thông trong một Giáo Hội nhất định được
trao phó cho tác vụ mục vụ của ngài. 18Nhưng trong mỗi Giáo Hội
địa phương như thế, để Giáo Hội có thể hoàn toàn là một Giáo Hội, cần có sự
hiện diện của một thẩm quyền tối cao của Hội Thánh, nghĩa là, Giám Mục Đoàn
cùng với vị Thủ Lĩnh, là Giám Mục Rôma, và không bao giờ tách biệt khỏi ngài.
Thành ra, sứ vụ Đấng Kế Vị Thánh Phêrô về bản chất thuộc về mỗi một Giáo Hội
cụ thể “từ bên trong”. 19 Hơn thế nữa, sự hiệp thông của tất cả
các Giáo Hội địa phương trong một Giáo Hội Công Giáo duy nhất, và qua đó là
sự hiệp thông trong hàng giáo phẩm giữa tất cả các Giám Mục, những người kế
vị các Thánh Tông Đồ, với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, là một bảo đảm cho sự hiệp
nhất trong đức tin và đời sống của tất cả người Công Giáo. Do đó, thật là
cần thiết, cho sự hiệp nhất trong các quốc gia riêng lẻ, là mỗi Giám Mục
phải hiệp thông với các Giám Mục khác, và tất cả phải hiệp thông cách hữu
h́nh và cụ thể với Đức Giáo Hoàng.
Không ai trong Giáo Hội là khách ngoại kiều, nhưng
tất cả là công dân của cùng một Dân Tộc, là thành viên của cùng một Nhiệm
Thể Chúa Kitô. Sự gắn bó hiệp thông bí tích là Thánh Thể, được bảo đảm bởi
sứ vụ của các Giám Mục và các linh mục. 20
Toàn thể Giáo Hội tại Trung Hoa được mời gọi để sống
và thể hiện sự hiệp nhất này trong một linh đạo hiệp thông phong phú hơn,
sao cho ngay cả trong những t́nh huống cụ thể và phức tạp mà cộng đoàn Công
Giáo phải đương đầu, cộng đoàn vẫn có thể tăng trưởng trong sự hiệp thông
phẩm trật hài ḥa. Thành thử, các Mục Tử và anh chị em tín hữu được mời gọi
để bênh vực và bảo vệ những ǵ thuộc về tín lư và truyền thống của Giáo Hội.
Những căng thẳng và chia rẽ bên trong Giáo Hội:
tha thứ và hoà giải
6. Khi đề cập với toàn thể Giáo Hội trong Tông Thư
Khởi Đầu Ngàn Năm Mới, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II, đă khẳng định rằng “một lănh vực quan trọng cần có sự dấn
thân và hoạch định về phiá Giáo Hội Hoàn Vũ và các Giáo Hội địa phương [là]
lănh vực hiệp thông (koinonia ) , trong đó chứa đựng và mạc khải nét
tinh tuư của mầu nhiệm Giáo Hội. T́nh hiệp thông là hoa trái và là sự thể
hiện của t́nh yêu nảy sinh từ trái tim Cha Hằng Hữu và được tuôn đổ trên
chúng ta qua Thánh Thần mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta (x. Rm 5:5) ,
để biến chúng ta tất cả nên ‘một con tim và một linh hồn (Cv 4:32) .
Chính là khi xây dựng mối hiệp thông yêu thương này mà Giáo Hội xuất hiện
như một ‘bí tích’, ‘như một dấu chỉ và khí cụ của sự kết hiệp thân mật với
Thiên Chúa và với nhân loại’. Những Lời của Chúa về điểm này chỉ ra chính
xác cho chúng ta tầm quan trọng của lănh vực này. Trong cuộc lữ hành trần
thế, có nhiều điều là quan trọng với Giáo Hội, không chỉ trong thế kỷ này;
nhưng không có ḷng bác ái (agape) tất cả đều ra vô ích. Lần nữa,
Thánh Tông Đồ Phaolô, người trong bài ca yêu thương nhắc nhở chúng ta:
giả như chúng ta được ơn nói tiên tri, hay có được tất cả đức tin đến
‘chuyển núi dời non’, mà không có đức mến, th́ chúng ta ‘cũng chẳng đi đến
đâu’ (x 1 Cr 13:2) . T́nh yêu thực sự là ‘con tim’ của Giáo Hội”.
21
Những vấn đề này, liên quan đến bản chất của Giáo Hội
Hoàn Vũ, có một ư nghĩa quan trọng cho Giáo Hội tại Trung Hoa. Thật vậy, anh
chị em biết rơ những vấn đề mà Giáo Hội đang t́m cách vượt qua – bên trong
nội bộ ḿnh và trong mối quan hệ giữa Giáo Hội và xă hội dân sự Trung Hoa -
những căng thẳng, chia rẽ và những lời qua tiếng lại.
Về điểm này, năm ngoái, khi đề cập đến Giáo Hội sơ
khai, tôi đă có dịp nhắc lại rằng “từ lúc bắt đầu cộng đoàn các môn đệ không
chỉ biết đến niềm vui của Thánh Thần, ân sủng của sự thật và yêu thương,
nhưng cũng phải trải qua những thử thách trên hết được h́nh thành từ những
bất đồng liên quan đến các chân lư đức tin, với hậu quả là những vết thương
cho sự hiệp nhất. Nếu t́nh yêu đă hiện hữu từ thuở ban đầu và sẽ tiếp tục
tồn tại cho đến ngày sau hết (x Ga 1:1) th́ cũng thế, ngay từ đầu,
bất hạnh thay chia rẽ cũng đă nảy sinh. Chúng ta không nên ngạc nhiên là nó
tồn tại đến bây giờ … V́ thế, trong những biến cố của thế giới này, bên cạnh
t́nh yêu thương và huynh đệ, c̣n có những yếu đuối của Giáo Hội với nguy cơ
đánh mất đức tin. Thành ra, nghĩa vụ đặc biệt của những ai tin nơi Giáo Hội
của yêu thương và muốn sống trong Giáo Hội, là phải nhận ra cả nguy hiểm này”
22
Lịch sử của Giáo Hội chỉ ra cho chúng ta thấy rằng sự
hiệp thông thực sự không được thể hiện mà không có những nỗ lực ḥa giải cam
go.23 Thật thế, việc thanh tẩy kư ức, tha thứ cho những người làm
sai, quên đi những bất công phải gánh chịu và phục hồi yêu thương mang lại
b́nh an cho những tâm hồn tan nát, tất cả được hoàn thành nhân danh Chúa
Giêsu chịu đóng đinh và sống lại, có thể đ̣i hỏi phải vượt qua được những
lập trường hay quan điểm cá nhân, nảy sinh từ những kinh nghiệm đau thương
hay khó khăn. Đây là những bước cấp thiết cần phải được thực hiện nếu muốn
cho những gắn bó hiệp thông giữa các tín hữu và các Mục Tử của Giáo Hội tại
Trung Hoa tăng trưởng và trở nên hữu h́nh.
V́ lư do này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi trong
nhiều dịp khác nhau đă đề cập với anh chị em một lời mời gọi khẩn thiết hăy
tha thứ và ḥa giải. Tôi muốn nhắc lại một đoạn trong thông điệp mà ngài đă
gởi cho anh chị em khi gần đến Năm Thánh 2000: “Trong cuộc chuẩn bị cho Đại
Năm Thánh, xin anh chị em nhớ rằng theo truyền thống Thánh Kinh, thời điểm
này luôn gắn liền với nghĩa vụ tha nợ cho kẻ khác, đền bù những bất công, và
ḥa giải với tha nhân. Anh chị em cũng đă nghe công bố ‘niềm vui lớn lao
dành cho mọi dân nước’ là t́nh yêu và ḷng thương xót của Chúa Cha, và Ơn
Cứu Độ được thành toàn nơi Chúa Kitô. Khi chính anh chị em sẵn sàng đón nhận
lời công bố vui mừng này, anh chị em sẽ có thể truyền đạt lại, qua cuộc sống
của ḿnh, cho những người nam nữ chung quanh. Ao ước của tôi là anh chị em
sẽ đáp trả lời thúc giục nội tâm bởi Thánh Thần để tha thứ cho kẻ khác bất
kể điều ǵ cần phải thứ tha, bằng cách thân cận với nhau, chấp nhận nhau và
xóa tan những rào cản, ngơ hầu vượt qua mọi nguyên cớ gây chia rẽ. Anh chị
em chớ quên lời Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly: ‘Qua dấu này mà thiên hạ nhận
ra anh em là môn đệ của Thầy: anh em hăy thương yêu nhau’ (Ga 13:35)
Tôi vui mừng khi biết rằng anh chị em có ư chuẩn bị món quà quư giá trong
dịp Đại Năm Thánh này là anh chị em hiệp nhất với nhau và hiệp nhất với Đấng
Kế Vị Thánh Phêrô. Ư định này chỉ có thể là thành quả của Thánh Thần, Đấng
dẫn dắt Giáo Hội trên những nẽo đường cam go của ḥa giải và hiệp nhất”.24
Tất cả chúng ta nhận thức rằng lộ tŕnh này không thể
hoàn thành một sớm một chiều, nhưng anh chị em có thể tin tưởng rằng toàn
thể Giáo Hội sẽ dâng lên lời cầu liên lỉ cho mục đích này.
Hơn thế nữa, anh chị em hăy nhớ rằng con đường ḥa
giải của anh chị em được nâng đỡ bởi những gương sáng và lời cầu nguyện của
đông đảo các “chứng nhân đức tin”, những người đă đau khổ và đă thứ tha,
đang dâng hiến cuộc đời ḿnh cho tương lai của Giáo Hội tại Trung Hoa. Chính
sự hiện diện này của họ tiêu biểu cho một ơn phúc trường tồn dành cho anh
chị em trước Thiên Chúa Cha, và kư ức về họ không ngừng nảy sinh hoa trái dư
dật.
Các cộng đoàn Giáo Hội và các cơ quan Nhà Nước:
các mối quan hệ phải được sống trong sự thật và trong t́nh bác ái.
7. Một sự phân tích thận trọng t́nh huống đau thương
của những phân hóa trầm trọng nêu trên (xem số 6), liên quan đến các tín hữu
và các vị Mục Tử của họ, cho thấy rơ là trong số các nguyên nhân đa dạng,
các cơ cấu được áp đặt như là các nhân tố chính quyết định đời sống người
Công Giáo đă đóng một vai tṛ đáng kể. Thực chất là măi đến ngày nay, việc
có được các cơ cấu này nh́n nhận hay không vẫn c̣n là một tiêu chuẩn để ban
cấp tư cách pháp nhân cho một cộng đoàn, một cá nhân, một nơi phụng tự, và
qua đó được kể là “chính thức”. Tất cả điều này đă gây ra chia rẽ trong hàng
giáo sĩ và trong hàng ngũ giáo dân. Đó là một t́nh trạng phụ thuộc chủ yếu
vào các yếu tố bên ngoài Giáo Hội, nhưng đă và đang điều kiện hóa cách
nghiêm trọng sự phát triển của Giáo Hội, cũng như tạo ra những ngờ vực,
những lời tố cáo và trả đũa lẫn nhau, và nó tiếp tục là một điểm yếu đáng
quan ngại của Giáo Hội.
Liên quan đến vấn đề tế nhị trong các quan hệ cần
phải duy tŕ với các cơ quan Nhà Nước, một soi sáng cụ thể có thể t́m thấy
trong lời mời gọi của Công Đồng Vatican II là noi theo huấn lệnh và phương
thức hành động (modus operandi) của Chúa Giêsu Kitô. Thật vậy, Ngài
“không mong trở thành một Đấng Mêsia chính trị cai quản bằng sức mạnh
25 nhưng muốn xưng ḿnh là Con Người, Đấng đă đến để phục vụ và ‘để
trao ban mạng sống ḿnh làm giá cứu chuộc cho muôn người’ (Mc 10:45).
Ngài đă tỏ ḿnh ra như là một Tôi Tớ tuyệt hảo của Thiên Chúa, 26
Đấng ‘không bẻ gẫy cây sậy dập nát, hay thổi tắt tim đèn leo lét’ (Mt
12:20) . Ngài nh́n nhận thẩm quyền dân sự và quyền bính của nó khi Ngài
bảo phải trả lại những ǵ thuộc về Xê da, nhưng Ngài cũng đưa ra một lời
cảnh cáo rơ ràng rằng quyền bính c̣n cao trọng hơn thế nữa của Thiên Chúa
phải được tôn trọng: ‘Hăy trả cho Xê da những ǵ thuộc về Xê da, và trả cho
Thiên Chúa những ǵ thuộc về Thiên Chúa (Mt 22:21) . Sau cùng, Ngài
đă đưa mạc khải về ḿnh đến độ viên măn khi hoàn thành công cuộc cứu chuộc
trên Thánh Giá, và qua đó đạt đến ơn cứu độ và sự tự do thật sự cho toàn thể
nhân loại. Ngài mang chứng tá sự thật 27 nhưng từ chối việc sử
dụng bạo lực hầu áp đặt sự thật này lên những ai chống đối lại. Vương Quốc
của Ngài không được thiết lập bằng bạo lực, 28 nhưng bằng việc
làm chứng và lắng nghe sự thật, và Vương Quốc đó lớn mạnh bởi t́nh yêu qua
đó Chúa Kitô khi bị treo trên Thánh Giá, đă kéo tất cả mọi người lại với
Người (Ga 12:32)”. 29
Sự thật và t́nh bác ái là hai cột trụ nâng đỡ đời
sống của cộng đoàn Kitô Giáo. V́ thế tôi đă nhận định rằng “Giáo Hội của yêu
thương cũng là Giáo Hội của sự thật, được hiểu chủ yếu như là sự trung tín
với Tin Mừng mà Chúa Giêsu đă ủy thác cho các môn đệ của Ngài … Tuy nhiên,
nếu muốn gia đ́nh con cái Chúa được sống trong hiệp nhất và b́nh an, th́
điều cần thiết là phải có một ai đó ǵn giữ gia đ́nh này trong sự thật và
hướng dẫn nó trong khôn ngoan và với thẩm quyền phân định: đây chính là điều
cần đến sứ vụ của các Thánh Tông Đồ. Từ đó, chúng ta đi đến một điểm quan
trọng, đó là Giáo Hội hoàn toàn bởi Thần Khí, nhưng lại có một cấu trúc, là
sự kế thừa tông truyền, với trách nhiệm bảo đảm rằng Giáo Hội tồn tại trong
sự thật, được mạc khải bởi Chúa Kitô, Đấng mà từ đó khả năng yêu thương cũng
được bắt nguồn… V́ thế, các Thánh Tông Đồ và những vị kế thừa các ngài, vừa
là những người canh giữ, những chứng nhân thẩm quyền của kho tàng đức tin
được trao phó cho Giáo Hội, vừa là những thừa tác viên của t́nh bác ái. Đây
chính là hai khía cạnh đi đôi với nhau … Sự thật và t́nh yêu thương là hai
mặt của cùng một hồng ân đến từ Thiên Chúa, và nhờ sứ vụ tông đồ, hồng ân
này được bảo vệ trong Giáo Hội và được lưu truyền cho chúng ta, cho thời đại
của chúng ta!” 30
Chính v́ thế, Công Đồng Vatican II nhấn mạnh rằng
“những ai suy nghĩ và hành động khác biệt với chúng ta trong các vấn đề xă
hội, chính trị và tôn giáo cũng có quyền đ̣i hỏi nơi chúng ta sự tôn trọng
và t́nh bác ái. Thực tế, càng bặt thiệp và yêu thương, chúng ta càng hiểu
sâu cách thế suy tư của họ, và càng dễ dàng bước vào cuộc đối thoại với họ.”
Thế nhưng, Công Đồng Vatican II cũng đồng thời nhắc chúng ta rằng “t́nh yêu
và sự bặt thiệp kiểu này, dĩ nhiên, không được làm chúng ta thờ ơ với chân
lư và sự thiện”. 31
So với “chương tŕnh nguyên thủy của Chúa Giêsu”,
32 rơ ràng rằng đ̣i hỏi của một số cơ cấu, được Nhà Nước hỗ trợ
và hoàn toàn xa lạ với cấu trúc của Giáo Hội, muốn đặt ḿnh trên các Giám
Mục để lèo lái đời sống của cộng đoàn Giáo Hội, là không phù hợp với tín lư
Công Giáo, theo đó, Giáo Hội là “tông truyền” như Công Đồng Vatican II đă
nhấn mạnh. Giáo Hội là tông truyền “ngay từ nguồn gốc của ḿnh bởi v́
Giáo Hội được xây dựng trên ‘nền tảng của các Thánh Tông Đồ’ (Ep 2:20).
Giáo Hội là tông truyền trong một giáo huấn giống y như giáo huấn của
các Thánh Tông Đồ. Giáo Hội là tông truyền v́ cấu trúc của Giáo Hội đến nay
vẫn giống như cấu trúc đă được dạy bảo, được thánh hóa và được hướng dẫn cho
đến khi Chúa lại đến bởi các Thánh Tông Đồ, thông qua những người thừa kế
của các vị là các Giám Mục trong t́nh hiệp thông với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô”.33
Thành thử, trong mỗi Giáo Hội địa phương, “chính là nhân danh Chúa mà vị
Giám Mục giáo phận [và chỉ có ngài] mới có quyền dẫn dắt đàn chiên được ủy
thác cho ḿnh, và ngài thực thi điều đó như người Mục Tử chính đáng, bản
quyền và trực tiếp”34; hơn nữa ở cấp quốc gia, chỉ có Hội Đồng
Giám Mục hợp luật mới có thể ban hành những hướng dẫn mục vụ có giá trị cho
toàn thể cộng đoàn Công Giáo ở nước sở tại. 35
Cũng thế, mục đích đă được tuyên bố của các cơ cấu đề
cập trên đây là nhằm thực hiện “những nguyên tắc của độc lập và tự chủ, tự
quản và quản lư dân chủ Giáo Hội” 36 là không phù hợp với tín lư
Công Giáo, như ngay từ thời Kinh Tin Kính xa xưa đă tuyên xưng Giáo Hội là
“duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.”
Trong ánh sáng của những nguyên tắc được đề ra ở đây,
các Mục Tử và anh chị em tín hữu cần nhớ lại rằng việc rao giảng Phúc Âm,
giảng dạy giáo lư và hoạt động từ thiện, việc phụng tự, cũng như tất cả các
quyết định mục vụ khác, thuộc về thẩm quyền duy nhất của các Giám Mục cùng
với các linh mục trong chuỗi liên tục của đức tin được truyền lại từ các
Thánh Tông Đồ trong Thánh Kinh và Thánh Truyền, và do đó, không thể nào có
thể bị chi phối từ bên ngoài.
Trong hoàn cảnh khó khăn này, không ít thành viên
trong cộng đoàn Công Giáo đang thắc mắc là liệu việc được chính quyền dân sự
nh́n nhận - để có thể hoạt động công khai – có phương hại cách nào đó đến
t́nh hiệp thông với Giáo Hội Hoàn Vũ hay không. Tôi ư thức đầy đủ rằng vấn
nạn này gây ra bất an đau đớn trong con tim các Mục Tử và anh chị em giáo
dân. Về điểm này, trước tiên, tôi muốn khẳng định rằng việc kiên quyết và
can đảm ǵn giữ kho tàng đức tin, sự hiệp thông bí tích và phẩm trật tự bản
chất của nó không đối nghịch với việc đối thoại với các cơ quan thẩm quyền
về những khía cạnh thuộc lănh vực dân sự trong đời sống của cộng đoàn. Việc
chấp nhận sự công nhận của chính quyền dân sự không gây ra khó khăn cụ thể
nào miễn là điều đó không gắn với việc phải phủ nhận những nguyên tắc không
thể đảo ngược được của đức tin hay t́nh hiệp thông Giáo Hội. Tuy nhiên, cũng
có không ít trường hợp cụ thể, thực ra là trong hầu hết các trường hợp,
trong tiến tŕnh công nhận, sự can thiệp của các cơ cấu nhất định đă buộc
những người liên quan phải chấp nhận một thái độ, phải làm những cử chỉ và
phải cam kết những điều đi ngược lại tiếng nói lương tâm Công Giáo của họ.
Do đó, tôi hiểu rằng trong những điều kiện và hoàn cảnh đa dạng như vậy,
thật khó có thể xác định đâu là lựa chọn đúng đắn. V́ thế, Ṭa Thánh sau khi
minh định lại các nguyên tắc, sẽ dành quyền quyết định cho cá nhân vị Giám
Mục, là người sau khi tham khảo linh mục đoàn, có thể hiểu rơ hơn về hoàn
cảnh địa phương, sẽ cân nhắc mọi khả năng chọn lựa cụ thể, và đánh giá các
hệ quả có thể xảy ra đối với nội bộ của cộng đoàn giáo phận. Có thể xảy ra
là quyết định chung cuộc không nhận được sự đồng thuận của tất cả các linh
mục và giáo dân. Tuy nhiên, tôi bày tỏ niềm hy vọng rằng quyết định đó sẽ
được chấp nhận, dù là đau đớn; và hy vọng rằng sự hiệp nhất của cộng đoàn
giáo phận với vị Mục Tử của ḿnh sẽ được duy tŕ.
Cuối cùng, thật là tốt đẹp nếu như các Giám Mục và
các linh mục, với tấm ḷng mục tử đích thực, biết đảm nhận lấy mọi bước có
thể để tránh gây ra những t́nh huống tai tiếng, đánh mất đi các cơ hội h́nh
thành lương tâm của giáo dân, đặc biệt là nơi những người yếu đuối nhất: tất
cả những điều này cần được thể hiện trong t́nh hiệp thông và hiểu biết huynh
đệ, tránh việc xét đoán và tố cáo lẫn nhau. Cũng trong trường hợp này, cần
phải nhớ, đặc biệt là trong hoàn cảnh không có tự do, để có thể đánh giá
được tính chất luân lư của một hành vi, th́ điều cần thiết là phải dành sự
chú ư đặc biệt để hiểu được những ư muốn thật sự của người trong cuộc, bên
cạnh những thiếu sót khách quan. Mỗi trường hợp cần phải được cân nhắc riêng
lẻ, và tính đến các hoàn cảnh cụ thể.
Hàng Giám Mục Trung Hoa
8. Trong Giáo Hội – Dân Thiên Chúa – chỉ có những
thừa tác viên được thánh hiến, được phong chức sau khi được đào tạo và huấn
luyện đầy đủ, mới có quyền thực thi sứ vụ “giáo huấn, thánh hóa và cai quản”.
C̣n đối với anh chị em giáo dân, chỉ khi nào được sự cho phép của Đức Giám
Mục, th́ họ mới có quyền thi hành các thừa tác vụ trợ lực liên quan đến việc
truyền bá đức tin.
Trong những năm vừa qua, v́ rất nhiều lư do khác nhau,
anh em, các Hiền Huynh Giám Mục của tôi, đă gặp phải rất nhiều trắc trở v́
những người không được “phong chức”, và thậm chí đôi khi chưa được rửa tội,
khống chế và đưa ra những quyết định có liên quan đến các vấn đề quan trọng
của Giáo Hội, kể cả việc bổ nhiệm các Giám Mục, nhân danh các cơ quan khác
nhau của Nhà Nước. Hệ quả là chúng ta đă phải chứng kiến một sự coi nhẹ vai
tṛ của Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và của hàng giám mục theo một nhăn quan về
Giáo Hội trong đó Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục và linh mục có nguy cơ trở
thành những người không gắn bó ǵ với nhau (de facto) chẳng có chức
vụ hay quyền hành ǵ. Tuy nhiên, như đă được đề cập trước đó, Đấng Kế Vị
Thánh Phêrô và hàng giám mục là những yếu tố thiết yếu và sống c̣n trong tín
lư Công Giáo về cơ cấu bí tích của Giáo Hội. Bản chất của Giáo Hội chính là
hồng ân của Chúa Giêsu, bởi v́: “Chính Người đă ban ơn cho kẻ này làm Tông
Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa
làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công
việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt
tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới
t́nh trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên măn của Đức Kitô” (Ep
4:11-13) .
Việc Đối Thoại và Hiệp Thông – tôi muốn lặp lại (như
đă được đề cập trong phần 5 ở trên) – chính là những yếu tố thiết yếu và
không thể thiếu được trong Giáo Hội Công Giáo: chính v́ thế việc đề nghị ra
một Giáo Hội “độc lập” với Ṭa Thánh, trong chiều kích tôn giáo, là hoàn
toàn đi ngược lại với giáo lư Công Giáo.
Tôi ư thức rất rơ những vấn nạn trầm trọng mà anh em
đă phải đối phó trong t́nh huống nêu trên để giữ vững ḷng trung tín với Đức
Kitô, với Giáo Hội của Người, và với Đấng Vị Thánh Phêrô. Khi nhắc với anh
em– như Thánh Phaolô đă từng nói (xem Rm 8:35-39) – không gian truân
nào có thể tách rời chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức Kitô, tôi tin tưởng
rằng anh em sẽ làm tất cả những ǵ có thể, trong khi tín thác vào ơn Chúa,
để bảo vệ sự hiệp nhất và t́nh hiệp thông Giáo Hội cho dẫu phải trả giá bằng
cả những hy sinh to lớn.
Nhiều thành viên của Hội Đồng Giám Mục Trung Hoa,
những người đă hướng dẫn Giáo Hội trong những thập niên qua, đă và sẽ c̣n
tiếp tục đưa ra một sự chứng tá sáng ngời cho các cộng đoàn của ḿnh và cho
Giáo Hội Hoàn Vũ. Một lần nữa, hăy để cho bài tụng ca tạ ơn chân thành được
vang lên đến “Vị Mục Tử Tối Cao” của đàn chiên (Pr 5:4) : thật vậy,
chúng ta không được quên rằng nhiều vị Giám Mục đă phải chịu bách hại, đă bị
cấm thi hành sứ vụ mục tử, và một số trong các vị này đă làm cho Giáo Hội
thêm nhiều hoa trái bằng việc đổ máu ḿnh. Thời đại tân tiến cùng với những
thách đố kéo theo của nó trong việc tân phúc âm hóa làm nổi bật vai tṛ của
sứ vụ Giám Mục. Như Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đă nói với các Vị
Mục Tử đến từ khắp mọi nơi trên thế giới, khi các ngài quy tụ về Rôma để cử
hành Đại Năm Thánh “Người Mục Tử phải là người đầu tiên gánh lấy trách nhiệm
khích lệ cộng đoàn, cả về nhu cầu hiệp thông lẫn nhu cầu truyền giáo. Liên
quan đến chủ nghĩa tương đối và lương tâm chủ quan đang ảnh hưởng sâu rộng
nền văn hóa đương đại, các Giám Mục được gọi kêu để bảo vệ và cổ vơ cho sự
hiệp nhất tín lư giữa các tín hữu. Khi âu lo trước các trạng huống trong đó
đức tin đă bị sai lạc hay chưa được biết đến, các ngài phải làm hết sức ḿnh
cho việc truyền giáo, chuẩn bị cho các linh mục, các tu sĩ và anh chị em
giáo dân cho nghĩa vụ này, đồng thời tạo ra những tài nguyên cần thiết”
37.
Cũng trong dịp đó, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đă
nhắc lại rằng “Vị Giám Mục, người kế thừa các Thánh Tông Đồ, cũng phải là
người trong đó Chúa Kitô là tất cả: ‘Đối với tôi, sống là Đức Kitô..’ (Pl
1:21)Ngài phải làm chứng cho điều này trong mọi hành động của ḿnh. Công
Đồng Vatican II dạy rằng: ‘Các Đức Giám Mục nên dâng hiến chính bản thân
ḿnh cho sứ vụ tông đồ như những chứng nhân về Chúa Kitô cho tất cả mọi
người’ (Sắc Lệnh Christus Dominus, 11)''.38
Liên quan đến sứ vụ Giám Mục, tôi muốn nhân đây nhắc
lại một điều tôi đă đề cập gần đây rằng: “Các Đức Giám Mục chịu trách nhiệm
chủ yếu trong việc xây dựng Giáo Hội như một gia đ́nh của Thiên Chúa và như
một nơi để cùng giúp đỡ và chào đón nhau. Để có thể thi hành sứ vụ này, các
hiền huynh đă nhận được ba chức vụ đặc biệt là: munus docendi, munus
sanctificandi, và munus regendi , mà tổng hợp lại cấu thành munus
pascendi . Cách riêng, mục đích của munus regendi chính là sự
tăng truởng trong t́nh hiệp thông giáo hội, nghĩa là, trong việc xây dựng
nên một cộng đồng trong sự đồng thuận với nhau, lắng nghe giáo huấn của các
Thánh Tông Đồ, cùng nhau bẻ bánh, cầu nguyện trong t́nh đồng đoàn. Đi liền
với sứ vụ giảng dạy và thánh hóa là sứ vụ chăn dắt – chính xác là munus
regendi - là điều h́nh thành nơi vị Giám Mục một hành vi yêu mến Thiên
Chúa và tha nhân, được thể hiện qua các hoạt động mục vụ” 39
Như các phần c̣n lại trên thế giới, tại Trung Hoa
cũng vậy, Giáo Hội được chăn dắt bởi các Giám Mục, những người qua việc được
tấn phong bởi các Đức Giám Mục hợp lệ khác, đă lănh nhận, cùng với quyền
thánh hóa, là những quyền về giáo huấn và chăn dắt đàn chiên được ủy thác
cho các vị trong các Giáo Hội địa phương tương ứng, với một năng quyền được
Chúa ban qua hồng ân bí tích Truyền Chức Thánh. Tuy nhiên, quyền giáo huấn
và chăn dắt “tự bản chất chỉ có thể được hành xử trong t́nh hiệp thông phẩm
trật với vị thủ lĩnh và các thành viên trong giám mục đoàn”.40
Thật vậy, như Công Đồng đă khẳng định tiếp theo đó: “một người được trở nên
một thành viên của hội đồng giám mục theo như bản chất của bí tích thánh
hiến và do t́nh hiệp thông phẩm trật với vị đứng đầu cũng như các thành viên
khác của hội đồng”.41
Hiện tại, tất cả các Đức Giám Mục của Giáo Hội Công
Giáo tại Trung Hoa là những người con của Dân Tộc Trung Hoa. Bất kể những
khó khăn trầm trọng đến mức nào, Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa, do ơn
Chúa Thánh Thần, chưa bao giờ bị tước đi hoàn toàn sứ vụ của các Mục Tử chân
chính, những người bảo tồn nguyên vẹn sự kế thừa tông truyền. Chúng ta phải
cảm tạ Thiên Chúa v́ sự hiện diện thường xuyên, không phải không có đau khổ,
của các Giám Mục, những người được tấn phong theo đúng với truyền thống Công
Giáo, nghĩa là, trong t́nh hiệp thông với Giám Mục Rôma, Đấng Vị Thánh Phêrô,
và dưới sự đặt tay của các vị Giám Mục được tấn phong hợp lệ và thành sự
theo đúng với nghi thức của Giáo Hội Công Giáo.
Một số vị, v́ không muốn chịu sự kiểm soát quá đáng
của nhà nước trên đời sống của Giáo Hội, và nhiệt thành giữ vững ḷng trung
tín với Đấng Vị Thánh Phêrô và với giáo lư Công Giáo, đă không có con đường
lựa chọn nào khác hơn là chịu chức chui. Điều kiện thầm lặng không phải là
một khía cạnh b́nh thường trong đời sống của Giáo Hội, và lịch sử cho thấy
các Mục Tử và anh chị em giáo dân chỉ chọn cách thế này trong lúc gian truân,
với mong ước duy tŕ sự toàn vẹn của đức tin, và chống lại sự can thiệp của
các cơ quan Nhà Nước trong những vấn đề có liên quan mật thiết tới đời sống
của Giáo Hội. V́ thế, Ṭa Thánh hy vọng rằng những Vị Mục Tử chính đáng này
sẽ được các cơ quan thẩm quyền của Nhà Nước nh́n nhận cả về mặt dân sự, nếu
cần thiết phải như vậy; và tất cả mọi tín hữu có thể được tự do bày tỏ niềm
tin của họ vào trong bối cảnh xă hội mà họ đang sống.
Tuy nhiên, các vị Mục Tử khác, dưới áp lực của những
hoàn cảnh cụ thể, đă chấp nhận việc thụ phong giám mục mà không có sự phê
chuẩn của Ṭa Thánh, nhưng sau đó đă yêu cầu được hiệp thông với Đấng Vị
Thánh Phêrô và với các anh em Giám Mục khác trong giám mục đoàn. Trước t́nh
cảm chân thành của các vị, trước sự phức tạp của t́nh h́nh, và trên cơ sở
tham khảo ư kiến với các Đức Giám Mục lân cận, Đức Giáo Hoàng, theo trách
nhiệm thích đáng của vị Mục Tử toàn Giáo Hội, đă cho phép các vị này được
thực thi trọn vẹn quyền bính giám mục của các ngài. Quyết định này của Đức
Giáo Hoàng dựa trên nhận thức về những hoàn cảnh tấn phong cụ thể và từ quan
tâm mục vụ sâu xa của ngài nhằm thiết lập sự hiệp thông trọn vẹn. Chẳng may,
là trong hầu hết mọi trường hợp, các linh mục và anh chị em giáo dân không
được thông báo đầy đủ rằng vị Giám Mục của họ đă được hợp thức hóa, và điều
này đă làm nảy sinh ra nhiều vấn nạn lương tâm nghiêm trọng. Thêm vào đó,
một số Giám Mục được hợp thức hóa đă không đưa ra những chỉ dấu minh bạch
chứng tỏ các ngài đă được hợp thức hóa. Thành ra, điều thiết yếu là, v́ lợi
ích thiêng liêng của các cộng đoàn giáo phận liên quan, một khi việc hợp
thức hóa được diễn ra, nó cần phải được công bố cho công chúng sớm hết sức
có thể, và các Giám Mục được hợp thức hóa phải đưa ra những dấu chỉ hùng hồn
và mỗi ngày một rơ ràng hơn về sự hiệp thông trọn vẹn với Đấng Vị Thánh
Phêrô.
Cuối cùng, có một số Giám Mục nhất định, một số rất
nhỏ, đă được phong chức mà không có sự phê chuẩn của Đức Thánh Cha, đă không
yêu cầu, hay chưa nhận được, việc hợp thức hóa cần thiết. Theo giáo lư của
Giáo Hội Công Giáo, các vị này được xem là bất hợp lệ, nhưng việc thụ phong
của họ là thành sự nếu như các vị được tấn phong bởi các Đức Giám Mục đă
được tấn phong hợp lệ, và việc tấn phong giám mục diễn ra theo đúng nghi
thức Công Giáo. Do đó, dù không hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, họ thi hành
thừa tác vụ của ḿnh cách thành sự khi ban các phép bí tích, ngay cả khi các
vị này không có quyền làm thế. Thật là phong phú về mặt thiêng liêng cho
Giáo Hội tại Trung Hoa biết bao, nếu khi thời cơ chín muồi, cả những Mục Tử
này cũng bước vào t́nh hiệp thông trọn vẹn với Đấng Vị Thánh Phêrô và với
toàn thể hàng giáo phẩm! Lúc đó, không chỉ thừa tác vụ của họ được hợp thức
hóa mà c̣n có một sự triển nở phong phú trong t́nh hiệp thông của họ với các
linh mục và anh chị em giáo dân, những người luôn xem Giáo Hội tại Trung Hoa
là một phần của Giáo Hội Công Giáo, luôn hiệp nhất với Giám Mục Rôma và với
tất cả các Giáo Hội địa phương khác trên khắp thế giới.
Tại mỗi quốc gia, tất cả những Giám Mục hợp lệ hợp
thành một Hội Đồng Giám Mục, được cai quản theo những luật lệ riêng, mà theo
các quy định của giáo luật, những luật lệ này phải được sự chấp thuận của
Ṭa Thánh. Một Hội Đồng Giám Mục như thế diễn tả t́nh hiệp thông huynh đệ
với tất cả các vị Giám Mục trong quốc gia và xem xét các vấn đề có liên quan
đến tín lư và mục vụ có tầm mức quan trọng đối với toàn thể cộng đoàn Công
Giáo của quốc gia đó, nhưng không can dự vào việc thực thi quyền bính bản
quyền và trực tiếp của mỗi Giám Mục trong giáo phận cụ thể của ngài. Hơn nữa,
mỗi Hội Đồng Giám Mục tạo ra cơ hội và những liên lạc cần thiết với các viên
chức dân sự nơi đó, một phần là để có sự hợp tác hài ḥa giữa Giáo Hội và
Nhà Nước, nhưng rơ ràng là Hội Đồng Giám Mục không thể tùy thuộc vào nhà cầm
quyền dân sự trong những vấn đề về đức tin và việc sống đúng với đức tin (fides
et mores, đời sống bí tích), vốn thuộc thẩm quyền duy nhất của Giáo Hội.
Trong ánh sáng của các nguyên tắc được tŕnh bày một
cách chi tiết như ở trên, Giám Mục Đoàn Công Giáo hiện tại ở Trung Hoa
42, không thể được Ṭa Thánh nh́n nhận như là một Hội Đồng Giám Mục,
v́ lẽ các Giám Mục “thầm lặng”, những vị không được Chính Phủ nh́n nhận
nhưng lại hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, không phải là một phần trong Đoàn
Giám Mục này; nó lại bao gồm cả các Giám Mục đến nay vẫn là bất hợp lệ; và
được cai quản theo những luật lệ chứa đựng những yếu tố không phù hợp với
Công Giáo.
Việc Bổ Nhiệm Giám Mục
9. Như tất cả anh chị em đều biết, một trong những
vấn đề tế nhị nhất trong các mối quan hệ giữa Ṭa Thánh và giới chức thẩm
quyền trong quốc gia anh chị em là vấn đề bổ nhiệm giám mục. Một mặt, có thể
hiểu được việc nhà cầm quyền chú ư đến việc chọn lựa ra những ai sẽ thi hành
vai tṛ quan trọng là lănh đạo và chăn dắt các cộng đoàn Công Giáo địa
phương, xét v́ những hệ quả xă hội của chức vụ này – tại Trung Hoa cũng như
ở những nơi khác trên thế giới - trong bầu khí chính trị cũng như tinh thần.
Một mặt khác, Ṭa Thánh theo dơi việc bổ nhiệm giám mục với sự quan tâm đặc
biệt v́ điều này tác động đến chính trọng tâm của đời sống Giáo Hội, do việc
bổ nhiệm các Đức Giám Mục bởi Đức Thánh Cha là một bảo đảm cho sự hiệp nhất
của Giáo Hội và t́nh hiệp thông trong hàng giáo phẩm. V́ thế, Bộ Giáo Luật
(x. giáo luật 1382) ra vạ nghiêm trọng cho cả vị Giám Mục tự do tấn
phong mà không được sự phê chuẩn của Ṭa Thánh lẫn người được tấn phong: sự
tấn phong như thế thực tế gây ra một sự thương tổn t́nh hiệp thông, và tạo
nên một sự vi phạm trầm trọng đến kỷ cương của giáo luật.
Khi Đức Giáo Hoàng phê chuẩn việc tấn phong một Giám
Mục, Ngài thực thi quyền bính tinh thần tối cao: quyền bính và sự can thiệp
này hoàn toàn thuộc về chiều kích tôn giáo mà thôi. Do đó, nó không phải là
chuyện một thẩm quyền chính trị, độc hành độc đoán xen ḿnh vào những công
việc nội bộ của một Quốc Gia, và vi phạm đến chủ quyền quốc gia đó.
Việc bổ nhiệm các Giám Mục cho một cộng đoàn tôn giáo
cụ thể được hiểu, cả trong các công ước quốc tế, như là một yếu tố chủ yếu
thể hiện quyền tự do tôn giáo đầy đủ. 43 Ṭa Thánh mong ước được
hoàn toàn tự do trong việc bổ nhiệm các Giám Mục; 44 do đó, khi
xem xét những phát triển cụ thể gần đây của Giáo Hội tại Trung Hoa, tôi tin
tưởng rằng một hiệp ước có thể đạt được với Chính Quyền để giải quyết những
vấn đề cụ thể liên quan đến việc chọn lựa ra các ứng viên giám mục, việc
công bố về sự bổ nhiệm các Giám Mục, và việc nh́n nhận, xét về mặt dân sự
khi cần thiết –vị Giám Mục mới – từ phía các giới chức có thẩm quyền dân sự.
Cuối cùng, liên quan đến việc chọn lựa ra những ứng
viên giám mục, dẫu biết có những khó khăn trong việc này, tôi muốn nhắc nhở
cho anh chị em rằng các vị đó phải là các linh mục xứng đáng, được các tín
hữu kính trọng và yêu mến, là những gương sáng cho đời sống đức tin, và các
vị này có những kinh nghiệm mục vụ nhất định, để họ được trang bị cho việc
đảm nhận gánh nặng trách nhiệm của một Mục Tử của Giáo Hội. 45
Khi không thể t́m ra được một ứng viên thích hợp hầu đảm trách chức vụ giám
mục, th́ việc hợp tác với các Đức Giám Mục lân cận có thể giúp t́m ra những
ứng viên thích hợp.
PHẦN II
HƯỚNG DẪN VỀ ĐỜI SỐNG MỤC VỤ
Các bí tích, việc quản trị các giáo phận và
giáo xứ
10- Trong thời gian gần đây, nhiều khó khăn đă xuất
hiện, có liên hệ đến các sáng kiến cá nhân được áp dụng bởi các Mục Tử, linh
mục và anh chị em giáo dân, những người v́ ḷng nhiệt tâm quảng đại mục vụ
thôi thúc, đă không luôn luôn tôn trọng các nhiệm vụ và trách nhiệm của
những người khác.
Về vấn đề này, Công Đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta
rằng, nếu một mặt, cá nhân các giám mục “như là thành viên của giám mục đoàn
và là những người kế nhiệm hợp pháp các thánh Tông Đồ, do sự sắp đặt và lệnh
truyền của Đức Kitô, có nhiệm vụ lo lắng cho toàn thể Hội Thánh”, th́ mặt
khác, các vị đó “thi hành các tác vụ mục vụ trên thành phần Dân Chúa nào đó
được ủy thác cho họ, chứ không phải trên các giáo đoàn khác, cũng không phải
trên Giáo Hội Hoàn Vũ 46.
Hơn nữa, khi đương đầu với một số vấn đề phát sinh
nơi nhiều cộng đoàn giáo phận trong những năm gần đây, tôi cảm thấy có nhiệm
vụ phải nhắc nhở về những chuẩn mực giáo luật theo đó mỗi giáo sĩ phải nhập
tịch vào một giáo đoàn hoặc là vào một Tu Hội sống đời thánh hiến và phải
thi hành sứ vụ riêng của ḿnh trong sự hiệp thông với Đức Giám Mục giáo phận.
Chỉ khi nào có lư do chính đáng một giáo sĩ mới có thể thực thi sứ vụ của
ḿnh nơi một giáo phận khác, nhưng luôn luôn phải có sự đồng ư trước của hai
vị Giám Mục giáo phận, nghĩa là Đấng Bản quyền của giáo phận nơi vị đó nhập
tịch và Đấng Bản quyền của giáo phận vị đó tới phục vụ 47.
Kế đến, trong không ít trường hợp, anh em phải đối
diện với vấn đề đồng tế trong thánh lễ. Về vấn đề này, tôi lưu ư rằng việc
đó đ̣i buộc điều kiện tiên quyết là phải tuyên xưng cùng một đức tin và hiệp
thông theo phẩm trật với Đức Giáo Hoàng và với Giáo Hội Hoàn Vũ. V́ vậy,
được phép đồng tế với các Giám Mục và các linh mục hiệp thông với Đức Giáo
Hoàng, ngay cả khi họ được chính quyền dân sự công nhận và có quan hệ với
các thực thể được nhà nước ủng hộ và không thuộc về cơ cấu của Giáo Hội,
miễn là – như đă đề cập ở trên (xem phần 7, đoạn 8 ở trên) – sự công nhận và
quan hệ này không đi kèm với việc chối bỏ các nguyên tắc không thể đảo ngược
về đức tin và về t́nh hiệp thông trong giáo hội.
Các giáo dân cũng vậy, những người được linh hoạt bởi
ḷng yêu mến chân thành Đức Kitô và Giáo Hội, anh chị em đừng ngần ngại tham
dự Thánh Lễ được cử hành bởi các Giám Mục và linh mục hiệp thông hoàn toàn
với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và được chính quyền dân sự nh́n nhận. Điều này
cũng áp dụng cho tất cả các phép bí tích khác.
Về các Giám Mục đă được tấn phong không có sự phê
chuẩn của Đức Giáo Hoàng nhưng được tấn phong theo đúng nghi thức Công Giáo,
th́ các vấn đề phát sinh luôn phải được giải quyết dưới ánh sáng các nguyên
tắc của giáo lư Công Giáo. Sự tấn phong cho họ - như tôi đă nói trên (xem
phần 8, đoạn 12 ở trên) – là bất hợp pháp, nhưng thành sự, cũng như việc
truyền chức linh mục do các Giám Mục này thực hiện cũng thành sự, và các bí
tích do các Giám Mục và linh mục như thế cử hành cũng thành sự. V́ vậy, các
giáo hữu, nên suy xét điểm này khi tham dự thánh lễ và các phép bí tích khác,
nếu có thể được, anh chị em hăy đến với các Giám Mục và linh mục hiệp thông
với Đức Giáo Hoàng; tuy nhiên, khi điều này không thể thực hiện mà không gây
ra những bất tiện trầm trọng, th́ họ có thể, v́ lợi ích thiêng liêng của
ḿnh, t́m đến với các vị không hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.
Sau hết, tôi thấy đây là lúc thích hợp để nêu lên với
anh chị em những điều giáo luật đề ra nhằm giúp cho các Giám Mục giáo phận
thực thi nhiệm vụ chủ chăn của ḿnh. Mỗi Giám Mục giáo phận được mời gọi nên
tận dụng các khí cụ cần thiết cho sự hiệp thông và hợp tác trong phạm vi
cộng đồng giáo phận: đó là hội đồng giáo phận, linh mục đoàn, hội đồng tham
vấn, hội đồng mục vụ giáo phận và hội đồng tài chánh giáo phận. Các cơ quan
này biểu hiện sự hiệp nhất, giúp chia sẻ trách nhiệm chung, và là trợ thủ
đắc lực cho các Mục Tử, nhờ vậy các ngài có nhiều điều kiện hơn để dành cho
sự hợp tác huynh đệ với các linh mục, tu sĩ và giáo dân.
Điều đó cũng đúng khi nói về các hội đồng khác nhau
mà giáo luật đề ra cho các giáo xứ: như hội đồng mục vụ giáo xứ, và hội đồng
tài chánh giáo xứ.
Cả các giáo phận và các giáo xứ đều phải quan tâm đặc
biệt đến những tài sản thế trần của Giáo Hội, bao gồm cả động sản và bất
động sản, phải được đăng kư theo đúng luật pháp trong phạm vi dân sự dưới
danh nghĩa giáo phận hoặc giáo xứ, không bao giờ dưới danh nghĩa của một cá
nhân (như vị Giám Mục, linh mục quản xứ, hay một nhóm giáo dân). Trong khi
đó, hướng dẫn mục vụ và truyền giáo truyền thống có thể được tóm gọn trong
nguyên tắc: “nihil sine Episcopo” (không làm điều ǵ mà không có phép
của Giám Mục) vẫn giữ nguyên hiệu lực.
Từ sự phân tích các vấn đề được phác thảo ở trên, đi
tới kết luận này là bất cứ giải pháp thực tế nào cũng phải bắt nguồn từ sự
đề cao t́nh hiệp thông, v́ nhờ đó mới có được sức mạnh và động lực từ một
nguồn, là Chúa Kitô, h́nh ảnh t́nh yêu của Chúa Cha. Đức bác ái, trên hết
mọi sự (x. 1 Cr 13:1-12) , sẽ là sức mạnh và tiêu chuẩn trong công
tác mục vụ để xây dựng một cộng đoàn giáo hội có khả năng tŕnh bày Chúa
Kitô Phục Sinh cho con người thời đại.
Các Giáo Tỉnh
11. Trong 50 năm qua nhiều đổi thay về hành chánh đă
xảy ra trong địa hạt dân sự. Điều này cũng đă kéo theo sự phân ranh lại
trong Giáo Hội, có nơi bị hủy bỏ hoặc được tái phối trí hoặc được sửa đổi về
lănh địa trên căn bản của những phân ranh về hành chánh dân sự. Về vấn đề
này, tôi muốn xác nhận rằng Toà Thánh sẵn sàng đề cập đến toàn bộ vấn nạn về
sự phân ranh các giáo tỉnh trong một cuộc đối thoại cởi mở và xây dựng với
Hàng Giáo Phẩm Trung Hoa và –khi thời cơ thuận lợi và hữu ích - với các giới
chức chính phủ.
Các cộng đoàn Công Giáo
12. Tôi biết rất rơ rằng các cộng đoàn giáo phận và
xứ đạo, trải rộng khắp lănh thổ bao la của Trung Hoa, đă thể hiện một sự
sống động đặc biệt trong cuộc sống Kitô, trong chứng tá đức tin và trong các
sáng kiến mục vụ. Thật là điều an ủi cho tôi khi nhận thấy rằng, bất chấp
những khó khăn trong quá khứ và hiện tại, các Giám Mục, linh mục, tu sĩ và
anh chị em giáo dân đă duy tŕ một nhận thức sâu xa được là thành phần sống
động của Giáo Hội Hoàn Vũ, trong t́nh hiệp thông đức tin và cuộc sống với
tất cả các cộng đoàn Công Giáo trên toàn thế giới. Trong thâm tâm, họ biết
rơ là người Công Giáo có nghĩa là ǵ. Và chính từ tâm hồn Công Giáo này cũng
phải có những dấn thân nhằm đưa ra, cả trong phạm vi nội bộ các cộng đoàn
riêng lẻ lẫn trong các quan hệ với những cộng đoàn khác, các dấu chỉ hữu
h́nh và cụ thể của t́nh hiệp thông, hiểu biết và tha thứ - mà như đă nêu
trên (x phần 5, đoạn 4 và phần 6 ở trên) – đó là ấn tín rơ rệt của một cuộc
sống Kitô chân thật. Tôi chắc chắn rằng, Thần Khí của Đức Kitô, như đă từng
phù trợ các cộng đoàn giữ được đức tin sống động trong thời kỳ bị bách hại,
ngày nay sẽ giúp tất cả mọi tín hữu Công Giáo lớn mạnh trong hiệp nhất.
Như tôi đă đề cập (xem phần 2, đoạn 1 và phần 4, đoạn
1 ở trên ), các thành phần trong các cộng đồng Công Giáo nơi xứ sở anh chị
em – đặc biệt là các Giám Mục, linh mục và tu sĩ – vẫn chưa được may mắn
sống và biểu lộ trọn vẹn và rơ rệt những khía cạnh nhất định cho thấy họ
thuộc về Hội Thánh và hiệp thông theo phẩm trật với Đức Thánh Cha, v́ sự tự
do giao tiếp với Hội Thánh và với các cộng đoàn Công Giáo trong các quốc gia
khác thường bị cản trở. Quả thực là mấy năm gần đây Giáo Hội đă được hưởng
nhiều tự do tôn giáo hơn là trong quá khứ. Tuy nhiên, không thể chối căi
rằng vẫn c̣n tồn tại những hạn chế trầm trọng ảnh hưởng đến cốt lơi của đức
tin, và trong một mức độ nào đó, bóp nghẹt các hoạt động mục vụ. Về vấn đề
này, tôi xin lặp lại ḷng ao ước thiết tha nhất (xem phần 4, đoạn 2, 3, 4 ở
trên) là nếu có được một cuộc đối thoại tương kính và cởi mở, một mặt giữa
Ṭa Thánh và các Giám Mục Trung Hoa, và mặt khác với giới chức thẩm quyền
chính phủ, th́ các khó khăn nêu trên sẽ có thể vượt qua và nhờ vậy mà sự
thông cảm hữu ích có thể đạt tới được để đem lại những ích lợi cho cộng đồng
Công Giáo và cho sự liên kết chặt chẽ trong xă hội.
Các Linh Mục
13. Giờ đây tôi muốn đề cập đến một suy tư đặc biệt
và một lời mời gọi đến các linh mục - nhất là các vị mới được thụ phong
trong những năm gần đây – những người đang bước trên con đường sứ vụ linh
mục với đầy ḷng quảng đại. Thiết nghĩ, t́nh h́nh giáo hội và hoàn cảnh xă
hội-chính trị hiện nay đang tạo ra nhu cầu khẩn thiết hơn bao giờ là phải
kín múc ánh sáng và sức mạnh từ nguồn suối linh đạo linh mục, là t́nh yêu
Thiên Chúa, là sự tiến bước vô điều kiện theo Đức Kitô, ḷng nhiệt tâm rao
giảng Tin Mừng, ḷng trung thành với Giáo Hội và sự phục vụ quảng đại tha
nhân 48. Trên lănh vực này, tôi làm sao có thể quên không nhắc
lại như một lời khích lệ mọi người, về những tấm gương sáng ngời của các
Giám Mục và linh mục, những người trong các năm khó khăn vừa qua, đă là
chứng nhân cho một t́nh yêu không lay chuyển dành cho Giáo Hội, ngay cả bằng
sự trao ban chính mạng sống ḿnh cho Giáo Hội và cho Đức Kitô?
Các linh mục thân mến của Cha! Các con, những người
“lao nhọc cả ngày, lại c̣n bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20:12) , những
người tra tay vào cày mà không nh́n lại phía sau lưng (x. Lc 9:62) :
các con hăy nghĩ đến những nơi mà giáo hữu đang nóng ḷng chờ đợi một linh
mục, nơi mà trong nhiều năm, cảm nhận được sự thiếu thốn linh mục, họ đă
không ngừng cầu nguyện để cho có được một linh mục tới với họ. Cha biết giữa
anh em có những đồng sự, những người đă phải đương đầu với những thời điểm
và hoàn cảnh khó khăn, và phải chấp nhận những thái độ không phải luôn luôn
có thể dung thứ được từ quan điểm giáo hội, và những người dù thế nào, vẫn
muốn quay về hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội. Trong tinh thần ḥa giải sâu
xa mà vị tiền nhiệm đáng kính của Cha đă liên tiếp mời gọi Giáo Hội tại
Trung Hoa 49, giờ đây Cha hướng đến các Giám Mục, những vị đang
hiệp thông với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, để trong t́nh phụ tử, các ngài có thể
cân nhắc từng trường hợp một và đưa ra một đáp trả chính đáng cho ao ước đó,
và nếu cần th́ nhờ Ṭa Thánh giúp đỡ. Và – như là dấu chỉ của sự ḥa giải
đáng ao ước này – Cha nghĩ không có cử chỉ nào có ư nghĩa hơn là việc lặp
lại trong tư cách cộng đoàn – trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh mừng chức linh
mục, như vẫn thường xảy ra trong Giáo Hội Hoàn Vũ, hay trong một dịp khác có
thể được coi là thuận tiện hơn – lời tuyên xưng đức tin, như là chứng tá cho
sự hiệp thông hoàn toàn đă đạt được hầu soi sáng cho Dân Thánh Chúa được
trao phó cho anh em coi sóc về mục vụ, và để ca tụng Chúa Ba Ngôi Rất Thánh.
Hơn nữa, tôi nhận thức rằng, cả ở Trung Hoa cũng như
các nơi khác trong Giáo Hội, đang nổi lên nhu cầu đào tạo tiếp cách thích
đáng cho hàng giáo sĩ. V́ vậy, tôi đưa ra lời mời gọi đến các hiền huynh
Giám Mục như những nhà lănh đạo các giáo đoàn, hăy quan tâm đặc biệt đến
hàng giáo sĩ trẻ tuổi đang chịu các thách đố mục vụ mới ngày càng gia tăng,
liên quan đến của nghĩa vụ truyền giáo trong một xă hội phức tạp như xă hội
Trung Hoa ngày nay. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă nhắc nhở chúng ta về
việc này như sau: việc đào tạo tiếp cho các linh mục “là một nhu cầu nội tại
của thừa tác vụ ân sủng và bí tích đă được lănh nhận, điều đó được chứng tỏ
là cần thiết trong mọi thời đại. Ngày nay, điều đó c̣n đặc biệt khẩn thiết
hơn, không phải chỉ v́ những đổi thay nhanh chóng trong các điều kiện xă hội
và văn hóa của cá nhân và các dân tộc nơi tác vụ linh mục được thực thi, mà
c̣n v́ nhu cầu thiết yếu và cấp bách trong ‘công cuộc tân phúc âm hóa’ của
Giáo Hội từ cuối thiên niên kỷ thứ hai” 50
Ơn gọi và việc đào tạo linh mục, tu sĩ
14. Trong suốt năm mươi năm qua, Giáo Hội tại Trung
Hoa chưa khi nào thiếu sự nở rộ các ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến.
Về điều này, chúng ta cần tạ ơn Thiên Chúa, v́ đó chính là dấu hiN