GIÁO HỘI THỜI CÁC TÔNG ĐỒ VÀ GIÁO PHỤ

(50-600)


 

 

Giáo Hội thời các Tông Đồ (thế kỷ thứ nhất) là thời kỳ của các nhà lănh đạo và thần học sáng giá của Kitô Giáo, các ngài thường được gọi là "Giáo Phụ". Thời kỳ này thường được gọi là thời các Giáo Phụ. Khi nh́n đến các nhân vật, các biến cố và các phong trào quan trọng trong thời kỳ này sẽ giúp chúng ta hiểu được sự phát triển của Giáo Hội Công Giáo cho đến thế kỷ thứ bảy.

 

Thế Kỷ Thứ Nhất: Đặt Nền Tảng

 

Hầu hết những ǵ xảy ra trong Kitô Giáo ở thế kỷ thứ nhất th́ quen thuộc với chúng ta, nhờ kinh thánh Tân Ước. Trong sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta biết công cuộc truyền giáo đă nới rộng giáo hội của Đức Giêsu Kitô từ nguyên thủy ở Giêrusalem, gồm những người Do Thái ṭng giáo theo Đức Kitô, đến những người Dân Ngoại ở nhiều nơi trong Đế Quốc La Mă và cho đến tận Rôma. Sự b́nh an tương đối trong thế kỷ này, cũng như hệ thống đường bộ và đường thủy của người La Mă, đă giúp Kitô Giáo có thể phát triển nhanh chóng. Nền văn hóa chung và một ngôn ngữ chung cũng giúp cho sự bành trướng. Tuy nhiên, động lực chính của sự phát triển Kitô Giáo là Chúa Thánh Thần, Đấng đă làm nên các tông đồ vĩ đại như Thánh Phaolô và các vị tử đạo như Stêphanô, là vị tử đạo đầu tiên.

Lúc đầu, Kitô Giáo được coi là một nhánh không quan trọng của Do Thái Giáo. Trong thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai, hầu hết những người ṭng giáo xuất thân từ các giai cấp thấp kém trong xă hội La Mă, gồm nhiều phụ nữ, thường dân, và nô lệ. Lúc đầu nhà cầm quyền La Mă không đếm xỉa đến người Kitô, nhưng vào năm 64, Hoàng Đế Nero đổ tội cho họ là đă gây nên trận hỏa hoạn lớn ở Rôma mà có lẽ chính ông ta chủ mưu. Các tông đồ Phaolô và Phêrô, là các vị lănh đạo giáo hội ở Rôma, đă chịu tử đạo trong thời kỳ bách hại tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu này. Người Kitô phải chôn cất và nhiều khi phải trốn tránh trong các hang toại đạo ở Rôma trong thời kỳ bách hại đầu tiên.

Tại sao các Kitô Hữu lại bị bách hại? Ngay cả những người ngoại giáo cũng có thể nhận thấy sự tương thân tương ái giữa các Kitô Hữu. Họ chăm sóc người nghèo, các bà goá và các em mồ côi, họ giúp đỡ các nạn nhân của dịch tễ và nạn đói cũng như các tù nhân. "Họ thương yêu nhau chừng nào" là câu nói đầu môi của người ngoại giáo. Tuy nhiên, thời bấy giờ, Kitô Giáo được coi là một tổ chức bí mật, gặp nhau thường xuyên vào sáng Chúa Nhật để ăn thịt và uống máu một người, là Đức Kitô, và có lẽ họ có những hành động đồi bại t́nh dục như một số tôn giáo thời ấy. Dĩ nhiên, những đồn đăi ấy hoặc sai sự thật hoặc dựa trên những hiểu biết sai lầm về hành động của Kitô Hữu, khi họ gặp nhau ngày Chúa Nhật để cầu nguyện, nghe sách Thánh, chia sẻ sự hiểu biết về đời sống Đức Kitô cũng như đọc thư của các tông đồ, và cử hành nghi thức Tiệc Ly, như Đức Giêsu căn dặn. Nhà cầm quyền La Mă bắt đầu cho rằng Kitô Hữu là kẻ thù của Nhà Nước, cho họ là những người vô thần không chịu thờ các thần của người La Mă và cũng không tôn kính hoàng đế La Mă. Vào cuối thế kỷ thứ nhất, Hoàng Đế Domitian phát động một cuộc bách hại Kitô Giáo cách dữ dội v́ họ từ chối không chịu coi ông ta như một vị thần để hy sinh cho ông. Văn sĩ Kitô Giáo, Tertullian, sau này nhận xét "máu của các vị tử đạo là hạt giống của Giáo Hội," và Kitô Giáo tiếp tục phát triển qua các nhân chứng đức tin đầy can đảm. Các giám mục Kitô Giáo, là các vị lănh đạo giáo hội sau khi các tông đồ qua đời, tiếp tục trở nên gương mẫu đức tin cho dân Chúa - tỉ như các giám mục Rôma kế vị Thánh Phêrô là: Thánh Linus, Thánh Anacletus, và Thánh Clêmentê I. Vào cuối thế kỷ thứ nhất, trong Đế Quốc La Mă ước lượng có khoảng nửa triệu người theo Đức Kitô.

 

Thế Kỷ Thứ Hai: Tiếp Tục Phát Triển và Bảo Vệ Đức Tin

 

Hai vị giám mục gương mẫu hy sinh tính mạng v́ Đức Kitô vào đầu thế kỷ thứ hai là Đức Polycarp ở Smyrna và Đức Ignatius (I-nha-xiô) ở Antiôkia. Sau khi bị bắt và trên đường bị điệu về Rôma để tử đạo vào khoảng năm 110, Đức Ignatius đă viết bảy lá thư - một lá cho giáo đoàn ở Polycarp và các thư khác cho các giáo đoàn mà ngài gặp trên đường - để khuyến khích họ giữ vững đức tin. Đức Ignatius c̣n cảnh cáo Kitô Hữu ở Rôma đừng t́m cách ngăn chặn cái chết của ngài. Ngài muốn sư tử nghiền nát xương thịt của ngài như hạt lúa để ngài có thể trở nên bánh tinh tuyền cho Đức Kitô, như bánh của Thánh Thể. Sự tử đạo được coi là đường trực tiếp lên thiên đàng, do đó các Kitô Hữu tiên khởi rất tôn trọng các vị tử đạo. Trong lời cầu nguyện, họ xin các vị tử đạo cầu bầu cho họ trước mặt Thiên Chúa cũng như cho giáo hội trần thế (Khải Huyền 6:9-11; 7:9-17). Cũng có những gương can đảm của các phụ nữ, tỉ như Thánh Perpetua và Thánh Felicity, đă hy sinh tính mạng v́ Đức Kitô.

Trong thế kỷ thứ hai, sự lănh đạo Giáo Hội đă có một h́nh thức đặc biệt mà h́nh thức ấy kéo dài măi cho đến ngày nay trong Giáo Hội Công Giáo. Ngay từ đầu năm 110, Đức Ignatius ở Antiôkia đă phúc tŕnh rằng mỗi một giáo hội địa phương được hướng dẫn bởi một giám mục. Vị giám mục được phụ tá bởi "trưởng lăo" (sau này gọi là "linh mục") là người hướng dẫn cộng đoàn cử hành nghi thức Thánh Thể và các bí tích khác, v́ khi cộng đoàn phát triển quá rộng đức giám mục không thể đích thân thi hành được. Đức giám mục c̣n được sự phụ giúp của các "lao công nhà Chúa" (phó tế), là những người đóng vai tṛ quan trọng trong việc phục vụ giáo hội địa phương qua các phương cách thực tế, tỉ như phân phối tiền bạc và thực phẩm cho người nghèo và người có nhu cầu.

Được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, các giám mục bắt đầu cùng làm việc để đối phó với các thử thách mới của thời bấy giờ và để phát triển một giáo huấn chung. Một thí dụ của giáo huấn chung là công thức tuyên tín (kinh tin kính), là bản tóm lược đức tin Kitô Giáo dùng để chuẩn bị cho các dự ṭng trước khi Rửa Tội cũng như chỉ dẫn Kitô Hữu về đức tin.

Các giám mục cũng bàn thảo xem các văn bản nào được Thiên Chúa linh ứng cho toàn thể Giáo Hội. Một số người, tỉ như Marcion, đă từ chối tính cách linh ứng của Kinh Thánh Do Thái (Cựu Ước) và chỉ chấp nhận một số văn bản giới hạn. Các tổ chức khác, tỉ như Gnostic (Tri thức giáo) lại coi một số văn bản rất khác thường là do Thiên Chúa linh ứng. Thí dụ, một phúc âm của phái Gnostic đưa ra h́nh ảnh Đức Giêsu khi c̣n nhỏ đă biến con chim bồ câu đất trở nên sống thực, và gây nên cái chết của những trẻ cùng lứa v́ chúng chọc tức Đức Giêsu. Để đối phó với vấn đề này, các giám mục đưa ra một danh sách các văn bản chính thức mà các ngài tin là Thiên Chúa linh ứng, được gọi là quy điển (canon), mà sau này được dùng làm nền tảng cho bộ Kinh Thánh của chúng ta ngày nay. Tuy nhiên, măi đến thế kỷ thứ tư, bộ quy điển Tân Ước vẫn chưa được hoàn tất. Điều này cho thấy sự quan trọng của Chúa Thánh Thần trong việc dẫn dắt các giám mục nhằm tỏ lộ chân lư của Thiên Chúa một cách trọn vẹn.

Các giám mục của thế kỷ thứ hai c̣n phải đương đầu với các lạc thuyết, tỉ như sự tin tưởng rằng Thiên Chúa chỉ có một ngôi, và hậu quả là Đức Giêsu Kitô chỉ là một con người; hoặc sự tin tưởng ngược lại là Kitô Hữu thờ ba chúa chứ không phải một. Phe Gnostic cho rằng bề ngoài Đức Giêsu là một con người, nhưng thực sự ngài là một thần thánh (thuyết Docetism). Tất cả những tin tưởng này đều bị các giám mục lên án là sai lạc.

Các giám mục c̣n sửa sai các tổ chức tách rời khỏi Giáo Hội v́ các lư do khác. Phe Montano, là những người tin theo một linh mục tên Montanus, họ cho rằng Đức Giêsu sẽ tái giáng lâm ngay vào thời ấy. Họ muốn ép buộc mọi Kitô Hữu phải sống khắc khổ; họ c̣n cho rằng các điều họ được mặc khải có giá trị ngang bằng với các thư của Thánh Phaolô cũng như bốn Phúc Âm. Khi các giám mục Công Giáo không đồng ư với các điều này, phe Montanô khởi sự thành lập một giáo hội riêng và lôi cuốn được cả vị bảo vệ đức tin của Giáo Hội ở Bắc Phi, là Tertullian. Phe Montanô tan ră ngay sau khi Tertullian từ trần vào năm 220.

Nhiều giáo thuyết lầm lạc và các tổ chức lẻ tẻ xuất hiện trong thế kỷ này, nhưng chỉ có giáo hội hoàn vũ được hướng dẫn bởi giám mục đoàn là c̣n tồn tại. Thông thường, chính vị giám mục Rôma là người lên tiếng trả lời các tranh chấp. Sự kiện này khiến vị bảo vệ đức tin nổi tiếng là Đức Giám Mục Irenaeus ở Lyons (hiện tại là nước Pháp), đă nói về Rôma rằng: "Tất cả các giáo hội khác (địa phương) phải đồng tâm nhất trí với giáo hội này (Rôma) v́ tính cách ưu việt của nó." Vào giữa thế kỷ thứ ba, Đức Giám Mục Cyprian ở Carthage viết: "Hiệp thông với đức giám mục Rôma là hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo."

Trong thế kỷ thứ hai việc bách hại Kitô Giáo chỉ thỉnh thoảng, nhờ đó Kitô Giáo được phát triển rộng lớn hơn và có thêm những người ṭng giáo thuộc giai cấp cao hơn trong xă hội La Mă. Thiên Chúa bắt đầu gầy dựng các nhân vật thông minh xuất chúng để có thể giải thích và bảo vệ đức tin qua lư lẽ và triết học: Thánh Justin Tử Đạo ở miền Đông Mediterranean đă tŕnh bầy Kitô Giáo như "một triết học đích thực"; Thánh Irenaeus ở Lyons coi mọi tạo vật được quy tụ và "tổng kết" trong Đức Kitô; Đức Athenagoras ở Athens viết một văn bản quan trọng để bảo vệ đức tin; và Đức Clementê ở Alexandria thiết lập một khoa giáo huấn Kitô Giáo cho dự ṭng. Các vị này đă viết thư cho các hoàng đế để thuyết phục họ đừng bách hại Kitô Giáo, thuyết phục người Do Thái về sự chân chính của Kitô Giáo, và chống với các lạc thuyết đang phá hoại đức tin chân chính (tỉ như, phái Gnostic cho rằng họ biết được những bí mật của con đường cứu chuộc mà các Kitô Hữu khác không biết). Các vị bảo vệ đức tin này cho thấy Kitô Giáo là một tôn giáo hợp lư và có thể hiểu được cũng như chấp nhận được bởi mọi người của mọi văn hóa và dân tộc. Vào cuối thế kỷ thứ hai, có khoảng 2 triệu người Kitô trên khắp Đế Quốc La Mă, dù rằng Kitô Giáo vẫn là một tôn giáo không chính thức và bị Nhà Nước Rôma ngăn cấm.

 

Thế Kỷ Thứ Ba: Sự Bách Hại và Phát Triển Thần Học

 

Thế kỷ thứ ba là giai đoạn chính yếu trong sự phát triển Kitô Giáo cũng như thiết lập các tổ chức và h́nh thành thần học. Sự b́nh an tương đối ở Đế Quốc La Mă từ năm 200 đến 250 đă đem lại thời gian cần thiết cho Giáo Hội để phúc âm hóa và cơ cấu hóa, cũng như các thần học gia có th́ giờ suy tư và sáng tác.

Người đầu tiên hệ thống hóa tư tưởng Kitô Giáo, phần lớn dựa vào triết thuyết Hy Lạp, là Đức Origen ở Alexandria (184 - 254), là người đứng đầu khoa giáo lư ở đây. Dù rằng một số tư tưởng của ngài sau này bị coi là sai lầm (về vấn đề ma quỷ cũng có thể được cứu chuộc và linh hồn th́ đầu thai), Đức Origen được coi là một nguồn trích dẫn có thẩm quyền trong thế kỷ tiếp đó. Đức Origen chủ trương phải hiểu Kinh Thánh theo nghĩa biểu tượng - những h́nh ảnh và câu truyện tượng trưng cho những chân lư sâu xa hơn và cao cả hơn.

Thời gian tương đối êm ả của thế kỷ thứ ba đă giúp nhiều cộng đoàn Kitô Giáo được thành lập một cách dễ dàng và v́ thế rất lỏng lẻo. Vào năm 250, Hoàng Đế Decius, v́ sợ số Kitô Hữu ngày càng gia tăng nên đă ra lệnh bách hại toàn thể Giáo Hội trong đế quốc. Trước mặt đại diện nhà cầm quyền, Kitô Hữu nào từ chối không chịu thờ cúng các thần ngoại giáo đều bị tử h́nh. Hàng ngàn Kitô Hữu v́ sợ chết nên đă chối bỏ đức tin, mặc dù cũng có một số sẵn sàng chịu tử đạo. Được một năm, cũng như lúc khởi đầu, lệnh bách hại đột ngột chấm dứt, và xảy ra cuộc tranh luận về vấn đề những người chối đạo có được tái gia nhập Giáo Hội hay không. Đức Giám Mục Cornelius của Rôma và Đức Giám Mục Cyprian của Carthage chủ trương rằng các giám mục có thể thay quyền Thiên Chúa để tha tội, dù tội trọng, như chối bỏ đức tin, qua sự đền tội khắt khe và lâu dài. Novatian, một linh mục của Rôma bất đồng ư và đă đứng ra thành lập một giáo hội riêng gồm những người đă trung thành với đức tin khi bị bách hại. Giáo Hội Công Giáo xác nhận rằng cộng đồng dân Chúa bao gồm cả những kẻ tội lỗi chứ không chỉ những người chưa bao giờ phạm tội trọng.

Vấn đề này lại tái diễn sau cuộc bách hại của Hoàng Đế Diocletian từ năm 303 đến 311, mà trong đó các giám mục và linh mục buộc phải giao nộp sách Phúc Âm và sách thiêng liêng để bị thiêu hủy. Sau khi cuộc bách hại chấm dứt, một số Kitô Hữu ở Bắc Phi từ chối không công nhận thẩm quyền của các giám mục và linh mục đă lẩn trốn trong cuộc bách hại hoặc đă trao nộp sách thiêng liêng. Những Kitô Hữu này thành lập một giáo hội riêng và lấy tên là Giáo Hội Đônatô theo tên của vị giám mục Donatus. Giáo hội này chỉ công nhận thẩm quyền của các vị lănh đạo đă không chịu trao nộp sách thiêng liêng. Một lần nữa, Giáo Hội Công Giáo khẳng định rằng các người lănh đạo đă vấp ngă v́ "thử thách" vẫn có thể tiếp tục hướng dẫn cộng đồng, v́ quyền bính của họ xuất phát từ chính Đức Kitô. Ngay cả sự yếu đuối và tội lỗi cá nhân cũng không thể làm mất đi sứ vụ mà Đức Kitô đă giao phó cho họ qua bí tích chức thánh.

Một nguyên tắc quan trọng của Công Giáo xuất phát từ biến cố này: thẩm quyền ban phát các bí tích, giảng dạy, hay hướng dẫn Giáo Hội không tùy thuộc vào sự xứng đáng hay thánh thiện của cá nhân thừa tác viên chức thánh. Đức Giêsu tiếp tục hoạt động qua trung gian của loài người và tha thứ cho sự yếu hèn của họ, để chứng tỏ rằng sức mạnh của bí tích và chức thánh th́ xuất phát từ Thiên Chúa, chứ không bởi loài người.

Cho đến thế kỷ thứ ba, có lẽ h́nh ảnh đúng nhất về Giáo Hội là cái nh́n của Thánh Cyprian về một con tầu vĩ đại, trong đó có cả kẻ tội lỗi cũng như các thánh và các vị tử đạo, tuy nhiên ơn cứu độ trong thế giới ngoại giáo và điêu tàn chỉ có thể t́m thấy nơi con tầu ấy.

 

Thế Kỷ Thứ Tư: Đế Quốc Kitô Giáo và Khủng Hoảng Arian

 

Bất kể các cuộc bách hại dữ dội của các hoàng đế Decius và Diocletian, vào năm 300 số Kitô Hữu gia tăng khoảng năm triệu người trong tổng số 50 triệu của Đế Quốc La Mă. Vào năm 311, Hoàng Đế Galerius chấm dứt cuộc bách hại lâu dài của Diocletian. Tuy nhiên, một biến cố xảy ra vào năm tiếp đó đă thay đổi vận mệnh của Giáo Hội Công Giáo và của nền văn minh Tây Phương.

Hoàng Đế La Mă của miền Tây (phía Tây Địa Trung Hải) là Constantine nằm mơ thấy có người hiện ra, đảm bảo là ông sẽ thắng trận nếu dùng dấu hiệu của Đức Kitô bằng tiếng Hy Lạp, chữ Chi-Rho (). Khi ra lệnh khắc dấu hiệu này trên khiên thuẫn của quân lính và ông đă thắng lớn ở trận Milvian gần Rôma, ông cho rằng Thiên Chúa của người Kitô đă giúp ông chiến thắng. Năm kế đó (313), với sự đồng ư của Hoàng Đế phương Đông là Licinius, ông ban hành Chỉ Dụ Milan cho phép tự do tôn giáo trên toàn Đế Quốc La Mă. Kitô Giáo không c̣n là một tôn giáo bất hợp pháp!

Đó mới chỉ là bước đầu. Vào năm 324, khi Constantine trở thành hoàng đế độc nhất của đế quốc, ông bắt đầu tích cực hỗ trợ Kitô Giáo và coi đó là mối giây kết hợp mới trong Đế Quốc La Mă thế cho việc thờ các thần của người La Mă. Constantine xây cất nhà thờ; thiết đặt các luật lệ nhằm tôn trọng ngày Chúa Nhật, Lễ Giáng Sinh và các ngày lễ Kitô Giáo khác; bảo vệ giáo sĩ Kitô Giáo; vân vân. Dù có nhiều giả thuyết khác nhau về động lực cũng như chiều kích sâu xa của việc Constantine trở lại Kitô Giáo, vào năm 313 ông tự xưng là một Kitô Hữu và được rửa tội khi trên giường hấp hối vào năm 337.

Kitô Hữu trên toàn đế quốc đă hân hoan khi nghe Constantine trở lại đạo. Đây là điều họ từng cầu xin và chờ đợi hàng thế kỷ - một đế quốc Kitô Giáo. Tuy nhiên, không bao lâu Giáo Hội thấy rằng đó không phải là một ơn sủng thuần tuư không có những sự xáo trộn. Sự liên minh giữa Giáo Hội và quốc gia tạo nên nhiều căng thẳng, như lịch sử trong thế kỷ thứ tư đă cho thấy.

Một thí dụ là cuộc khủng hoảng Arian, là sự thử thách lớn nhất mà Giáo Hội phải đương đầu lúc bấy giờ, và có lẽ cả trong lịch sử Giáo Hội. Một linh mục tên Arius, ở Alexandria, Ai Cập, chủ trương rằng Con Thiên Chúa (được thể hiện qua Đức Giêsu Kitô) không phải là Thiên Chúa mà là một tạo vật thượng đẳng của Thiên Chúa. Arius hậu thuẫn cho các lư luận của ḿnh qua một số văn bản trong Phúc Âm (Gioan 14:28; Mc 13:32; 15:34; Mt 27:46), nhất là các đoạn nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu. Điều ngạc nhiên là Arius đă thuyết phục được một số giám mục Công Giáo.

Khi các giám mục bắt đầu tranh luận về giáo thuyết của Arius, Constantine coi đây là mối đe dọa cho sự hợp nhất của đế quốc và ông quyết định can thiệp. Ông triệu tập tất cả các giám mục trong "công đồng" đầu tiên ở Nicaea (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) năm 325. Các giám mục quyết định rằng Arius th́ sai lầm và các ngài phát triển một công thức tuyên tín để làm sáng tỏ tín điều của Giáo Hội. Kinh tin kính này đă dùng chữ Hy Lạp homoousios để chống lại Arius -- nghĩa là, Đức Giêsu "đồng bản tính" hoặc "làm một" với Đức Chúa Cha. Nói cách khác, bất cứ Chúa Cha như thế nào th́ Chúa Con cũng vậy; nếu Chúa Cha là Thiên Chúa th́ Chúa Con cũng là Thiên Chúa.

Cuộc tranh luận lẽ ra phải chấm dứt ở đây, nhưng đă không xảy ra như vậy. Hai trong ba vị giám mục sau này quyết định rằng, Giáo Hội không thể dùng một chữ không có trong phúc âm (homoousios) để giải quyết vấn đề, do đó họ quyết định là Arius đúng. Họ xoay sở để thay đổi ư kiến của một vài vị giám mục khác và sau cùng t́m cách thuyết phục vị tân hoàng đế. Tại đây bắt đầu một trang sử bất hạnh v́ Nhà Nước Rôma can thiệp vào Giáo Hội. Khi các giám mục pḥ-Arius vận động để vị tân hoàng đế (và các hoàng đế tiếp đó) nghe theo ư kiến của ḿnh, các hoàng đế bắt đầu dùng áp lực chính trị đối với các giám mục hỗ trợ Kinh Tin Kính Nicaea. Thật vậy, một số giám mục đă bị áp lực phải trục xuất ra khỏi giáo phận của ḿnh.

 

Để tóm lược, sự khủng hoảng này đưa đến ba nhận định sau:

 

1. Thật nguy hiểm cho Giáo Hội khi để nhà cầm quyền dân sự dính líu đến các vấn đề thần học và tín lư cũng như vấn đề nội bộ Giáo Hội nói chung.

2. Sự xuất hiện của một số khuôn mặt vĩ đại, kiên tŕ bảo vệ chân lư. Trên tất cả là Thánh Athanasius, đức giám mục của Alexandria, bị hoàng đế phe Arius lưu đầy năm lần v́ ngài bảo vệ Công Đồng Nicaea.

3. Nguyên tắc của Công Giáo là nếu cần phải dùng một chữ không có trong phúc âm để xác định hoặc làm sáng tỏ một chân lư, th́ điều ấy hợp pháp. Người Công Giáo tin rằng, khi dẫn dắt Giáo Hội, Chúa Thánh Thần không bị giới hạn trong Phúc Âm. Chân lư của Thiên Chúa được lưu truyền qua truyền thống đích thực của Kitô Giáo - qua công thức tuyên tín cũng như Phúc Âm. Danh từ homoousios là chữ duy nhất có thể bài bác lại Arius và xác nhận tín điều Kitô Giáo về thiên tính của Đức Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa.

Trong thời kỳ khủng hoảng, mọi sự có vẻ tiêu điều v́ lạc giáo Arian. Năm 361, Thánh Giêrôme viết, "Toàn thế giới bừng tỉnh và rên rỉ khi thấy ḿnh thuộc phe Arian." Nhưng sau đó, cả một làn sóng đảo ngược t́nh h́nh. Sau hoạt động bền bỉ của Đức Athanasius ở Ai Cập, ba vị thần học lớn của Cappadocia thuộc Tiểu Á đă xuất hiện để bảo vệ Kinh Tin Kính Nicene: Thánh Basil ở Caesarea, Thánh Grêgôriô ở Nyssa, và Thánh Grêgôgiô ở Nazianzus. Văn bản và ảnh hưởng của các ngài đă thuyết phục được các giám mục c̣n lưỡng lự hoặc chưa hỗ trợ lập trường của Công Đồng Nicaea. Năm 381, Công Đồng Constantinople tái xác nhận Chúa Con th́ "đồng bản tính" (homoousius) với Chúa Cha, và công đồng c̣n thêm là Chúa Thánh Thần cũng là Thiên Chúa như các Giáo Phụ Cappadocia đă lập luận. Kinh Tin Kính Nicaea mà người Công Giáo ngày nay tuyên xưng trong Thánh Lễ Chúa Nhật thực sự đă được các giám mục trong công đồng này tuyên xưng. Không may, sự tin tưởng lầm lạc của phe Arian lan tràn đến các bộ lạc chung quanh Đế Quốc Rôma (như bộ lạc người Visigoth, người Ostrogoth, và người Vandal), là những người đă quấy phá Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ tới khi họ chiếm được khá nhiều lănh thổ của Đế Quốc Rôma.

Việc chấm dứt bách hại người Kitô trong Đế Quốc Rôma cũng đưa đến kết quả là chấm dứt sự tử đạo. Trong thế kỷ thứ tư một số anh hùng mới mẻ của đức tin xuất hiện: đó là các đan sĩ, và cũng được gọi là Tu Phụ Sa Mạc. Họ đích thực là những người đáp lời mời gọi của Đức Giêsu để bán tất cả của cải, phân phát cho người nghèo, và đi theo Người. Để noi gương Đức Kitô qua đời sống hăm ḿnh và cầu nguyện, họ đi vào sa mạc hoặc hoang địa để sống cô độc với Thiên Chúa. Chữ "đan sĩ" được dịch từ tiếng Latinh "monos" (đan độc). Khoảng năm 270, Antony, một nông dân Ai Cập, đă đi vào sa mạc và măi cho đến năm 305 ngài mới về lại thành phố và trở nên một bậc thầy về linh đạo. Thánh Athanasius đă lưu danh muôn thuở tên tuổi của Thánh Antony và giúp lan truyền phong trào "đan viện" hoặc "ẩn tu" qua những bài viết về tiểu sử Thánh Antony. Thánh Athanasius luôn luôn là người bạn chí thiết và nhiệt liệt hỗ trợ các đan sĩ trong suốt cuộc đời ngài.

Thánh Pachomius, một người Ai Cập khác, đă thành lập một cộng đoàn khổ tu trong sa mạc gần sông Nile và từ đó đă phát sinh một nếp sống đan viện mới. Hầu hết các đan sĩ sau thời kỳ này đă sống gần nhau trong các làng thưa thớt hoặc cùng sống chung với nhau qua những lúc cầu nguyện, thờ phượng và làm việc. Họ dùng toàn thời gian c̣n lại để chiêm niệm, một số để làm việc, và thường thường trong thinh lặng.

Lối sống mới này của Kitô Giáo, phong trào đan viện hay khổ tu, không phải là điều kỳ cục hoặc có vẻ mầu mè của quá khứ. Nó lan rộng khắp Đế Quốc La Mă và mau chóng thu hút được nhiều người muốn theo Đức Kitô, sống đời cầu nguyện và khước từ bản thân trong một phương cách quyết liệt. Mặc dù ngày nay, một số người cho đó là lối sống kỳ quặc hoặc một cách thoát khỏi thực tế, nhưng đó là một chứng từ đối với những người thời ấy và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Đời sống đan viện chứng minh rằng người Kitô không chỉ sống cho sự thành công hoặc vui thú ở đời này nhưng c̣n để thờ phượng Thiên Chúa và chuẩn bị cho sự sống đời sau. Thời gian ấy, các đan sĩ được Kitô Hữu kính trọng như các vị tử đạo mới, các nhân chứng mới cho Đức Kitô.

Mặc dù các đan sĩ đi vào sa mạc để thoát khỏi thế gian, một số được gọi trở lại để phục vụ với tư cách giám mục, là các nhà lănh đạo Giáo Hội. Các Giáo Phụ Cappadocia khởi sự là các đan sĩ sau đó được chọn làm giám mục v́ sự thánh thiện và tài lănh đạo của các ngài. Thật vậy, Thánh Basil ở Caesarea đă viết "quy luật" đầu tiên cho các đan sĩ thuộc Giáo Hội Đông Phương. Nhiều vị giám mục vĩ đại của Đông Phương và các giáo hoàng cũng như các giám mục Tây Phương (nói tiếng Latinh) trong thế kỷ kế tiếp cũng đă xuất thân từ đan viện. Thánh Gioan Chrysostom (354-407) vị thuyết giảng "kim khẩu" cũng khởi đầu là một đan sĩ, ngài làm giám mục Constantinople cho đến khi bị hoàng đế đầy ải.

Thánh Martin ở Tours sáng lập một đan viện ở Gaul (Pháp) năm 371, và thường được coi là Viện Phụ Tây Phương. Hai vị Giáo Phụ vĩ đại của Giáo Hội Tây Phương trong thế kỷ thứ tư là Thánh Augustine và Thánh Giêrôme cũng đă sống như các đan sĩ. Thánh Giêrôme, vị học giả Kinh Thánh vĩ đại của thế giới nói tiếng Latinh, đă sống khổ hạnh một thời gian khá lâu trong cái hang ở Bêlem. Thánh Augustine sống đời ẩn tu cùng với một số bạn hữu sau khi ngài trở lại Kitô Giáo. Ngài trở lại đạo là nhờ lời cầu nguyện của mẹ ngài là Thánh Mônica, và lời rao giảng của Thánh Ambrôsiô, vị giám mục của Milan. Dù được tấn phong làm giám mục của Hippo, Bắc Phi, Thánh Augustine vẫn sống như một đan sĩ và đă đặt ra quy tắc đan viện cho các đan sĩ mà ngài sống chung với họ. Lối sống kỷ luật này đă giúp Thánh Augustine, qua quyền năng của Thiên Chúa, trở nên một văn sĩ có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Giáo Hội. Ngài viết cuốn Tự Thú (Confessions), những nhận định về Kinh Thánh, những văn bản chống với bè phái Donatist và lạc giáo Pelagianis, các luận án thần học vĩ đại (như cuốn On The Trinity), và sau cùng những nhận định xác đáng về sự tương giao giữa Giáo Hội và trần thế, cuốn The City of God.

Thế kỷ thứ tư là thế kỷ của sự khủng hoảng cũng như sự vĩ đại cho Giáo Hội Công Giáo. Năm 381, Theodosius tuyên bố Kitô Giáo là tôn giáo chính thức duy nhất của Đế Quốc Rôma và ông muốn chấm dứt ngoại giáo. Số người theo Kitô Giáo vút cao và đưa đến vấn đề là nhiều người gia nhập Giáo Hội chỉ v́ lợi ích chính trị. Bây giờ, làm người Kitô th́ dễ dàng và thoải mái hơn người ngoại giáo, hoặc tín đồ của bất cứ tôn giáo nào khác. Điều này đưa đến một thử thách mới cho Giáo Hội. Mặc dù bài vở giáo lư căn bản cho người tân ṭng đă được h́nh thành cách đầy đủ bởi các giám mục, như Thánh Cyril ở Giêrusalem, nhưng các bài giảng Chúa Nhật thường kéo dài từ ba đến bốn tiếng đồng hồ để dạy bảo làn sóng người tân ṭng.

Vào năm 343, Công Đồng Sardica trao toàn quyền của giáo hội Tây Phương cho vị giám mục Rôma là đức giáo hoàng, và quyết định này được Hoàng Đế Gratian xác nhận năm 378. Đức Giáo Hoàng Damasus tuyên bố rằng quyền bính của đức giáo hoàng thực sự không do bởi một công đồng hay một hoàng đế nhưng bởi chính Thiên Chúa qua mệnh lệnh của Người ban cho Thánh Phêrô (Mt 16:18). Để hỗ trợ cho thẩm quyền của đức giáo hoàng, Thánh Ambrôsiô đồng ư rằng "Ngai ṭa Phêrô ở đâu, th́ Giáo Hội ở đó". Thánh Giêrôme viết cho Đức Giáo Hoàng Damasus:

Tôi không theo bất cứ nhà lănh đạo nào khác ngoại trừ Đức Kitô, và do đó tôi vẫn muốn hiệp thông với ngài trong Giáo Hội, đó là, với ngai toà Thánh Phêrô. Tôi biết, Giáo Hội được thành lập trên tảng đá này.

Mặc dù trong thế kỷ này, đức giám mục của Constantinople ngày càng gia tăng thẩm quyền và được coi như các "thượng phụ" (hoặc trưởng giám mục) của Đông Phương hay các giáo hội nói tiếng Hy Lạp, nhưng không một quyết định nào có thể ràng buộc Giáo Hội Công Giáo mà không có sự chấp thuận của giám mục Rôma.

Nhưng chúng ta sẽ thấy, sự can trường và thẩm quyền của đức giáo hoàng và các giám mục sẽ bị thử thách nặng nề trong thế kỷ thứ năm bởi các tranh luận về thần học và bởi Đế Quốc Rôma bị xâm lăng.

 

Thế Kỷ Thứ Năm: Vấn Đề Đức Tin và Những Liên Kết Mới Về Chính Trị

 

Thế kỷ thứ năm bắt đầu bằng sự chia cách thực sự giữa các đế quốc của Đông Phương (nói tiếng Hy Lạp) và Tây Phương (nói tiếng Latinh). Chúng ta có thể nhắc lại lịch sử của mỗi miền một cách riêng biệt. Vào năm 410, Tây Phương bị rúng động bởi hành động xâm lấn của bộ lạc người Visigoth. Dần dà, các bộ lạc khác như Vandal và Hun cũng đă xâm lấn các phần đất của Đế Quốc Tây Phương, cho đến khi họ hoàn toàn kiểm soát Tây Phương vào năm 476. Khi thế lực chính trị của Rôma tan ră, đức giáo hoàng và các giám mục bắt đầu phải dẫn dắt và bảo vệ dân Chúa về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Có lẽ vị lănh đạo Giáo Hội can đảm nhất là Đức Lêô I, là giáo hoàng từ 440 đến 461, ngài đă can gián Attila người Hun đừng xâm lăng Rôma, và đă thuyết phục Geneseric người Vandal dù cướp bóc Rôma nhưng đừng tàn phá thành phố này. Vào thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, "điểm vui mừng" là Kitô Hữu bắt đầu t́m cách đưa những người theo lạc giáo Arian trở về với Công Giáo. Giáo Hội thường "chiến thắng những kẻ chinh phục" theo phương cách này - đó là sự hoán cải.

Sự thử thách về phương diện thần học của Giáo Hội Tây Phương trong thời gian này là ảnh hưởng của phe Pelagius. Pelagius là một đan sĩ người Anh cho rằng bản tính loài người không bị hư hỏng bởi tội nguyên tổ. Do đó, người ta không cần ơn Chúa để xa lánh tội lỗi nhưng chỉ cần sống tốt lành, như Đức Giêsu. Giáo Hội Tây Phương nhận định rằng Pelagius đă sai lầm, v́ nếu như thế ơn cứu độ sẽ tùy thuộc vào công sức của loài người chứ không phải là ơn sủng của Thiên Chúa. Một số thần học gia nghĩ rằng, Thánh Augustine đă đi quá xa khi bài bác Pelagius, khi ngài cho rằng mọi sự đều nhờ đến ơn Chúa và công phúc của loài người chỉ có giá trị rất nhỏ. Công Đồng Orange năm 529 đưa ra quyết định dựa trên quan điểm của Thánh Augustine, nhấn mạnh đến sự tuyệt đối cần thiết của ơn Chúa để có thể thi hành điều lành, nhưng cũng công nhận rằng cần có sự cộng tác của loài người trong việc chấp nhận ơn sủng của Thiên Chúa.

Trong Đế Quốc Đông Phương, t́nh h́nh chính trị ổn định hơn đă đem lại cơ hội cho các giám mục và thần học gia chú trọng đến các vấn đề thần học. Trước hết, đức giám mục của Constantinople là Nestorius cho rằng không thể gọi Đức Maria là theotokos, nghĩa là Mẹ Thiên Chúa. Nestorius là một phần tử của nhóm thần học được gọi là trường phái Antiôkia, nhóm này không muốn bị mơ hồ giữa thiên tính và nhân tính. Gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa sẽ đưa đến sự lẫn lộn giữa Thiên Chúa và loài người, v́ Đức Maria không thể sinh ra Thiên Chúa.

Tuy nhiên, một nhóm khác được gọi là trường phái Alexandria, do Thánh Cyril là giám mục của Alexandria đứng đầu, lại không thấy có ǵ trở ngại khi gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, v́ câu xưng tụng đó đă bảo vệ được tính cách hiệp nhất của thiên tính và nhân tính Đức Giêsu. Vấn đề này được giải quyết vào năm 431 bởi Công Đồng Êphêsô, trong đó các giám mục tuyên bố là Nestorius sai lầm và xác nhận truyền thống lâu đời của Kitô Hữu khi cầu xin với Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Điều này có nghĩa Đức Maria là mẹ của Thiên Chúa trong bản tính loài người, người mẹ của "Thiên Chúa làm người", chứ không phải mẹ của Đức Giêsu về bản tính Thiên Chúa.

Cuộc tranh luận về bản tính của Đức Kitô đă nẩy sinh một cuộc tranh luận khác vào giữa thế kỷ. Không kể đến sự kèn cựa có tính cách chính trị ở hậu trường giữa đức thượng phụ Constantinople và đức thượng phụ Alexandria, c̣n có vấn đề thần học nghiêm trọng về bản tính Đức Giêsu, vấn đề Người chỉ có một bản tính là thiên tính hoặc có hai bản tính tách biệt nhau gồm thiên tính và nhân tính. Sau cùng, vấn đề được giải quyết trong Công Đồng Chalcedon năm 451 mà trong đó các giám mục đă tổng hợp và quân b́nh những điều tin tưởng chính đáng của hai trường phái Antiôkia và Alexandria. Công đồng tuyên bố rằng Đức Giêsu có hai bản tính, thiên tính và nhân tính, cùng hợp với nhau "một cách không mơ hồ hoặc biến đổi, không phân chia hoặc tách biệt" để h́nh thành một con người trọn vẹn của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể.

Yếu tố then chốt để giải quyết vấn đề là lá thư của Đức Giáo Hoàng Lêô I mà trong thư ấy, ngài đă tiên đoán đúng để đưa ra những hướng dẫn cho các giám mục Đông Phương trong Công Đồng Chalcedon. Công đồng này đem lại nhận thức căn bản về bản tính của Đức Giêsu Kitô mà vẫn c̣n giá trị cho đến ngày nay.

Nhưng không may, vấn đề không chấm dứt ở đây. Như đă xảy ra sau Công Đồng Nicaea năm 325, một số Kitô Hữu ở Đông Phương tẩy chay quyết định của Công Đồng Chalcedon năm 451 và họ tiếp tục tin rằng Đức Giêsu Kitô chỉ có một bản tính (monophysis), là bản tính Thiên Chúa. Những người này mệnh danh là Monophysite và tự tách rời thành lập giáo hội riêng ở Đông Phương. Một số (có thể nói hầu hết) các thần học gia sáng giá của Đông Phương trong thế kỷ thứ năm và thứ sáu đều thuộc Monophysite. Ngay cả các thủ đoạn chính trị của các hoàng đế Đông Phương như Justinian cũng không thể tiêu diệt hoặc khuất phục được người Monophysite.

Trong thế kỷ thứ năm và thứ sáu, có sự phát triển mạnh mẽ về tư tưởng và quan niệm thần học trong Đế Quốc Đông Phương. Thần học này, thường được gọi là Byzantine, được phong phú hoá bởi tư duy triết Hy Lạp, kể cả lư luận của Aristotle. Thần học Byzantine không chỉ trích dẫn trong Phúc Âm mà c̣n dùng đến các văn bản của các Giáo Phụ Đông Phương (ngay cả Đức Cyril) như các nguồn trích dẫn có thẩm quyền. Ở Đông Phương, không có sự cách biệt lớn lao giữa giáo sĩ và giáo dân hoặc Giáo Hội và nhà nước. Các hoàng đế như Justinian tự coi ḿnh là thần học gia và cảm thấy có trách nhiệm dẫn dắt Giáo Hội, ngay cả việc sử dụng đến quyền bổ nhiệm hoặc truất phế các giám mục. Vào thời kỳ này, ở Đông Phương có sự liên minh chặt chẽ giữa Giáo Hội và nhà nước cho đến khi có sự xâm lăng của người Hồi Giáo.

Kitô Hữu Đông Phương cũng phát triển một cách thờ phượng phong phú và đầy ư nghĩa, được kéo dài cho đến ngày nay. Họ nhấn mạnh đến tính cách linh thiêng của các mầu nhiệm đức tin, các nghi thức và phụng vụ của họ thật huy hoàng và nhiều cảm xúc. Họ thành lập nghi thức phụng vụ riêng, tỉ như Phụng Vụ Thánh Gioan Chrysostom mà càng ngày càng tách biệt với các phụng vụ Latinh của Tây Phương. Giáo Hội Đông Phương cũng nhấn mạnh đến việc sùng kính Đức Maria và các thánh.

 

Thế Kỷ Thứ Sáu: Chấm Dứt Một Kỷ Nguyên và Mở Đầu Kỷ Nguyên Mới

 

Một giai đoạn lớn lao trong việc học hỏi thần học và linh đạo được gọi là Thời Các Giáo Phụ đi đến kết thúc vào thế kỷ thứ sáu. Tây Phương th́ đủ bận rộn với vấn đề sống c̣n khi phải đương đầu với sự xâm lăng của các bộ lạc từ phương bắc, phương đông, và phương nam.

Đế Quốc Đông Phương, trước đây từng ổn định, bây giờ bắt đầu bị đe dọa bởi sự tấn công của người Hồi Giáo, mà sau đó đă bị tràn ngập. Đế Quốc Tây Phương dưới sự kiểm soát của những bộ lạc theo Arian bắt đầu hoán cải những người này trở lại Kitô Giáo, và lần lượt từng vương quốc ở Tây Phương sụp đổ (người Burgundy năm 532; người Vandals năm 533; người Ostrogoth năm 553). Trong khi đó, Clovis, vua người Frank, đă trở lại Kitô Giáo năm 496 và mạnh mẽ hỗ trợ Giáo Hội. Năm 529, Thánh Benedicto (Biển Đức) thành lập một đan viện ở Cassino nước Ư mà không bao lâu đă thay đổi cả bộ mặt Âu Châu. Dựa trên một chính sách lành mạnh "vừa làm vừa cầu nguyện" và chủ trương các đan sĩ chỉ ở một nơi, các đan viện của Thánh Biển Đức trở nên trung tâm duy tŕ các nền văn hóa Tây Phương và La Mă, đồng thời cũng là nơi truyền bá Phúc Âm. Dưới thời Đức Giáo Hoàng Grêgôriô I (Cả), các đan sĩ Biển Đức là một sức mạnh truyền giáo đáng kể.

Tuy nhiên, trước thời các đan sĩ Biển Đức, Thánh Patrick đă đem tin mừng đến Ái Nhĩ Lan (461) và thành lập các đan viện khổ tu giống như các đan viện của Thánh Pachomius ở Ai Cập. Thánh Columba, một đan sĩ Ái Nhĩ Lan, thành lập một đan viện ở Iona, Tô Cách Lan năm 563. Nhờ đó, các bán đảo người Anh bắt đầu biết đến Kitô Giáo. Và lịch sử Giáo Hội bước sang một giai đoạn mới, thời Trung Cổ.