GIÁO HỘI THỜI TRUNG CỔ
600-1300
Giai đoạn bảy trăm năm này của lịch sử Kitô Giáo được ghi dấu bằng sự hoán cải của các dân tộc và các bộ lạc. Đó cũng là thời kỳ xáo trộn chính trị, và các xung đột xảy ra là để xác định mối tương giao đúng đắn giữa Giáo Hội và nhà nước. Ở Tây Phương, điều này đưa đến sự xuất hiện "thế giới Kitô Giáo," sự liên minh giữa Giáo Hội và nhà nước. Thế giới Kitô Giáo đem lại nhiều kết quả nhưng cũng tạo nên sự căng thẳng liên tục giữa các giáo hoàng và hoàng đế, giữa các vị lănh đạo Giáo Hội và nhà nước. Ngoài ra c̣n có sự căng thẳng giữa Giáo Hội Công Giáo La Mă của Tây Phương và Giáo Hội Chính Thống Giáo Thánh Thiện của Đông Phương. Các lạc giáo và sự xuyên tạc đức tin Kitô Giáo chân chính bắt đầu xuất hiện.
Cũng có những tiến bộ đáng kể trong Kitô Giáo thời Trung Cổ. Một số các học giả cũng như thánh nhân Kitô Giáo xuất hiện, và văn hóa Kitô Giáo đạt đến tầm mức mới trong lănh vực nghệ thuật, văn chương, kiến trúc, và thần học. Các ḍng tu mới cũng phát triển, đem lại đời sống mới cho Giáo Hội, và các đan viện cũ được canh tân. Trong thời kỳ này, có lúc tưởng như Kitô Giáo đang trên bờ vực thẳm, nhưng ơn Chúa mạnh mẽ hơn bất cứ t́nh thế nào đă giúp Giáo Hội vượt qua giai đoạn đầy hiểm họa và chúc lành cho Giáo Hội với sự chiến thắng và sự phát triển. Các thế lực chính trị đă ngăn chặn công cuộc truyền giáo phát triển ra ngoài ranh giới của Âu Châu và Byzantine (khu vực phía đông của Địa Trung Hải), nhưng đó là thời gian để biến Âu Châu thành một lục địa Kitô Giáo và để duy tŕ đức tin ở Đông Phương trước sự tràn lan của Hồi Giáo.
Thế Kỷ Thứ Bảy
Sự sụp đổ của Đế Quốc Rôma cũ đă không làm nản ḷng Thánh Grêgôriô Cả, vị giáo hoàng từ 590 đến 604, là người đặt nền tảng cho Giáo Hội ở Tây Âu trong thời Trung Cổ. Khi các nhà cầm quyền thế tục thất bại, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô đă nắm quyền kiểm soát miền trung nước Ư và đă cứu Rôma thoát khỏi nhiều cuộc xâm lấn của giặc Lombard. Ngài gửi các đại diện đến các giáo hội Tây Phương để khuyến khích và kiên cường họ trung thành với đức giáo hoàng. Các văn bản về thần học và linh đạo của ngài đă hướng dẫn tư duy thời Trung Cổ. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô I đă đích thân sai một đan sĩ Biển Đức, Thánh Augustine, đến hoán cải người Angle và người Saxon ở Anh Quốc. Không bao lâu, vua Aethelbert của xứ Kent đă rửa tội, và Thánh Augustine được đặt làm giám mục của Canterbury. Các đan sĩ Ái Nhĩ Lan hoặc Celtic (Xen-tơ), do các thánh Adian và Cuthbert hướng dẫn, đă giúp hoán cải toàn thể nước Anh. Không bao lâu, Anh Quốc đă gửi các nhà truyền giáo đi khắp Âu Châu, tỉ như một đan sĩ Ḍng Biển Đức là Willebrord, nổi tiếng là vị Tông Đồ cho người Ḥa Lan đă được đặt làm giám mục cho phần đất này vào năm 695.
Trong Kitô Giáo Đông Phương, công đồng thứ sáu được triệu tập ở Constantinople từ 680 đến 681 (Công Đồng Constantinople III). Các giám mục lên án điều tin tưởng sai lạc là Đức Giêsu chỉ có một ư chí, là ư chí Thiên Chúa, do lạc giáo Monotheletism chủ xướng. Nếu Đức Giêsu có hai bản tính, thiên tính và nhân tính, th́ Người cũng phải có hai ư chí -- thiên ư và nhân ư.
Về phương diện chính trị, Hồi Giáo là đám mây đen ở chân trời. Mohammed từ trần năm 632, và các tín đồ của ông ngày càng gia tăng thế lực về quân sự và đe dọa xâm lăng Âu Châu. Chỉ sau khi họ bại trận trong các cuộc chiến chống với lực lượng Kitô Giáo Đông Phương ở Constantinople từ 674 đến 678, và từ 717 đến 718, và ở mặt trận Tours năm 732, lúc ấy Âu Châu mới thoát khỏi sự chinh phục của các lực lượng Hồi Giáo.
Thế Kỷ Thứ Tám
Việc hoán cải các bộ lạc ở Âu Châu tiếp tục trong thế kỷ thứ tám dưới sự lănh đạo của đan sĩ người Anh Ḍng Bênêđíctô, là Thánh Boniface, vị Tông Đồ của Đức; ngài truyền giáo từ 723 đến 739. Thánh Boniface là một trong hàng trăm đan sĩ Bênêđíctô đă sống chết trong việc thiết lập đức tin Công Giáo ở Âu Châu, dưới sự dẫn dắt của đức giáo hoàng.
Với sự tiếp tay của Thánh Boniface, đức giáo hoàng liên minh với các vua của người Frank ở xứ Gaul (bây giờ là nước Pháp), khởi đầu từ Vua Pepin (hoặc Pippin). Năm 754, Đức Giáo Hoàng Stêphanô II xức dầu tấn phong Pepin và ban tặng cho ông danh hiệu Quư Tộc Rôma, là một danh hiệu nguyên thủy chỉ ban tặng cho các hoàng đế La Mă. Điều này tạo nên sự trung kiên giữa đức giáo hoàng và các vua người Frank, mà tột đỉnh của mối giao hảo là lễ đăng quang của Charlemagne, con của Pepin, ở Rôma năm 800. Sự tương giao giữa các giáo hoàng và Charlemagne được triển nở trong nhiều năm. Hậu quả không may của liên minh này là sự xa cách của Giáo Hội Đông Phương, v́ giáo hội này vẫn trung thành với hoàng đế Byzantine ở Constantinople, là người mà họ coi là hoàng đế đích thực của Rôma. Mối tương giao giữa các giáo hội Đông Phương và Tây Phương lại càng thêm rạn nứt khi Charlemagne, v́ bất đồng với một quyết định của Công Đồng Nicaea II của Giáo Hội Đông Phương (787), mà ông đă đem quân giành lại phần đất mà hoàng đế Byzantine cho là của họ, và ông c̣n ép buộc Giáo Hội Đông Phương phải thêm chữ filioque vào Kinh Tin Kính Nicaea. Nguyên thủy, kinh Tin Kính tuyên bố rằng Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha (Gioan 15:26); bản kinh của Tây Phương mà Charlemagne tán thành (và người Công Giáo Rôma ngày nay sử dụng) tuyên xưng rằng Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con (filioque). Điều này cho thấy khuyết điểm của sự liên minh chặt chẽ giữa Giáo Hội và nhà nước. Charlemagne là người cực lực bảo vệ Giáo Hội và giúp phát triển đức tin cũng như Giáo Hội Công Giáo; tuy nhiên, ông cũng muốn kiểm soát Giáo Hội và có những quyết định về thần học. Có lần, ông viết thư cho đức giáo hoàng nói rằng công việc của đức giáo hoàng là cầu nguyện cho Giáo Hội, c̣n công việc của ông, một hoàng đế, là cai quản Giáo Hội. Trên nguyên tắc, có sự phân biệt giữa thế quyền và thần quyền, nhưng trong thực tế, có những hoàng đế hoặc vua quan muốn nắm cả thần quyền, và cũng có các giáo hoàng muốn kiểm soát cả vấn đề chính trị và thế gian. Nhiều khi vua quan và các nhà cai trị thế tục muốn có quyền tuyển chọn và tấn phong linh mục và giám mục mà không cần hội ư của đức giáo hoàng hay các giám mục khác. Thói quen này, được gọi là giáo dân tấn phong giáo sĩ (lay investiture), là một trong những bất ḥa lớn giữa các giáo hoàng và nhà cầm quyền thời Trung Cổ. Muốn được an toàn v́ có hoàng đế hay vua là người theo Kitô Giáo th́ phải chịu sự can thiệp của họ vào nội bộ Giáo Hội.
Phương cách mở rộng Kitô Giáo của Charlemagne là đem quân đi chinh phục lănh thổ, rồi sau đó ông bắt người dân bị trị phải lựa chọn việc rửa tội "bằng nước hay bằng máu." Đây là thời kỳ khắc nghiệt khi biết bao người không được học hỏi về đạo mà theo đạo chỉ v́ sợ nhà cầm quyền. Đạo Công Giáo trở nên đạo xu thời, trong đó người dân được rửa tội hàng loạt với hy vọng sau này họ sẽ được học hỏi thêm về đức tin Kitô Giáo. Giáo Hội sợ bị rơi vào t́nh trạng ngoại giáo.
Để duy tŕ nền văn minh và giáo dục đức tin các tân ṭng, người ta trông đợi ở các đan viện. Chính Charlemagne cũng cố gắng làm sống lại tinh thần học hỏi bằng cách tụ họp các học giả ngay trong dinh của ông -- đứng đầu bởi một đan sĩ người Anh có học thức, tên Alcuin -- và ông ra lệnh mỗi giám mục phải mở một trường học trong khuôn viên thánh đường của ḿnh. Điều đó có ảnh hưởng đôi chút, nhưng sau khi Charlemagne từ trần và Đế Quốc Carolingian bị chia cắt, tinh thần học hỏi tàn dần. Ngoại trừ các đan viện, Âu Châu ch́m vào thời kỳ tăm tối của kiến thức và tâm linh.
Khi Kitô Hữu Đông Phương chống với các lực lượng Hồi Giáo, họ cũng phải trải qua sự khủng hoảng thần học trong thế kỷ thứ tám. Vào năm 730, hoàng đế Byzantine là Lêô III, ban hành một sắc lệnh cấm Kitô Hữu không được sùng kính ảnh tượng, dù là ảnh Đức Kitô hay các thánh. Mặc dù đây là phần quan trọng trong đời sống tâm linh của Kitô Hữu Đông Phương, vua Leo III thấy việc "thờ ảnh tượng" đă bị cấm chỉ trong Phúc Âm, do đó ông ra lệnh phá hủy tất cả các ảnh tượng. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô III và nhiều Kitô Hữu Đông Phương phản đối điều này, nhưng phải đợi đến khi Hoàng Hậu Irene triệu tập Công Đồng Nicaea II (là công đồng thứ bảy) năm 787 th́ việc sùng kính ảnh tượng mới được cho phép. Công đồng này phân biệt giữa sự sùng kính ảnh tượng thánh và sự thờ phượng, chỉ dành cho một ḿnh Thiên Chúa. Giáo Hội Công Giáo Rôma luôn luôn đồng ư với điều này, và thường dùng các h́nh ảnh, tranh vẽ, kính mầu, tượng điêu khắc để dạy bảo và nhắc nhở giáo dân về các chân lư đức tin. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô từng viết, "H́nh ảnh là sách của giáo dân," v́ đa số dân chúng thời ấy không có học.
Thế Kỷ Thứ Chín
Ngay từ đầu thế kỷ thứ chín dường như đă có nhiều triển vọng cho Kitô Giáo Tây Phương. Charlemagne áp đặt đức tin trên các người bị đô hộ ở miền bắc và miền trung Âu Châu, dần dà dân chúng yêu quư Kitô Giáo và từ bỏ những hủ tục của quá khứ ngoại giáo. Các giáo hoàng cũng gia tăng ảnh hưởng, và sau khi Charlemagne từ trần, con của ông là Louis de Pious, công bố rằng quyền bính của vua th́ tùy thuộc đức giáo hoàng. Con của Louis là Lothar được tấn phong ở Rôma năm 823, và sau đó tất cả các nhà cầm quyền của Đế Quốc La Mă Thánh Thiện đều được tấn phong ở Rôma. Đức Giáo Hoàng Nicôla I (858-67), vị giáo hoàng thế lực nhất thế kỷ, tuyên bố rằng nhiệm vụ của hoàng đế là bảo vệ Giáo Hội Công Giáo Rôma chứ không phải cai trị giáo hội. Không may, thế lực của hoàng đế suy yếu dần v́ các khó khăn nội bộ và v́ sự xâm lăng của người Viking từ phương bắc, người Hungari từ phương đông, và người Hồi Giáo Saracen từ phương nam. Sự hiệp nhất và nền ḥa b́nh của đế quốc rộng lớn mà Đại Đế Charles khổ công xây dựng đă bắt đầu tan ră, và Âu Châu đắm ch́m trong thời kỳ phong kiến -- lục địa bị phân chia thành các nước nhỏ bé tranh giành nhau để sống c̣n và chém giết lẫn nhau.
Sự suy tàn của Đế Quốc Tây Phương kéo theo sự tàn tạ của Giáo Hội Tây Phương. Sau Đức Nicôla I, không c̣n giáo hoàng nào đủ mạnh để dẫn dắt Giáo Hội trong t́nh thế này. Trong khoảng thời gian từ 858 đến 879, cuộc ly giáo, hay cắt đứt quan hệ, đă xảy ra giữa các giáo hoàng và các thượng phụ của Constantinople. Lư do là v́ một tham vọng đất đai của Đức Giáo Hoàng Nicôla I và sau đó Đức Thượng Phụ Photius cáo buộc rằng Giáo Hội Công Giáo Rôma không phải là giáo hội chính thống v́ dùng chữ filioque trong kinh Tin Kính, v́ duy tŕ tín điều về luyện ngục, và các cáo buộc sai lầm khác. May mắn thay, Đức Photius đă rút lại các cáo buộc này; ngài đă ḥa giải với vị tân giáo hoàng, và trong thế kỷ thứ mười, đă có sự b́nh an tương đối giữa hai Giáo Hội Tây Phương và Đông Phương. Tuy nhiên, các vấn đề căn bản không bao giờ được giải quyết, và cuộc đại ly giáo giữa Đông và Tây bắt đầu vào năm 1054 là hậu quả buồn thảm của thế kỷ này.
Vào cuối thế kỷ thứ chín, Hồi Giáo bắt đầu đàn áp Giáo Hội Đông Phương, và sự bất ổn chính trị cũng như sự nhu nhược của các giáo hoàng đă bóp nghẹt Giáo Hội Tây Phương. Giáo sĩ bị kiểm soát bởi nhà cầm quyền thế tục và rơi vào t́nh trạng thất học cũng như không trung thành với lời thề sống độc thân. Hầu hết các đan viện cũng mất tinh thần đạo đức, trở nên thối nát và xu thời. Sự suy sụp của xă hội Tây Phương và sự tàn tạ của Giáo Hội xảy ra song song, v́ cả hai liên hệ với nhau trong quá nhiều lănh vực.
Tuy nhiên, ngay cả lúc đầy khuyết điểm, Thiên Chúa vẫn tiếp tục hoạt động trong Giáo Hội. Vào cuối thế kỷ thứ chín, hai đan sĩ, Methodius và Cyril, bắt đầu công cuộc truyền giáo cho người Khazar và người Slav ở Đông Âu. Không những các ngài đem lại đức tin Kitô Giáo cho người dân mà Thánh Cyril c̣n sáng tác mẫu tự Slavonic để đem lại cho dân tộc này một ngôn ngữ mới và là một phương tiện mới cho nền văn hóa của họ.
Thế Kỷ Thứ Mười
Một sự thật đáng tiếc là đôi khi t́nh trạng tinh thần của Giáo Hội cũng không khác ǵ hơn t́nh trạng tinh thần của xă hội nói chung. Điều này rất đúng với thế kỷ thứ mười. Trong sáu mươi năm đầu, chức giáo hoàng bị kiểm soát bởi các nhà quư tộc Rôma, là những người không xứng đáng với chức vụ cao trọng này. Tệ hại nhất trong tất cả, Đức Giáo Hoàng Gioan XII (955-64) quá thối nát đến độ Thiên Chúa phải giải thoát Giáo Hội Công Giáo của Người qua tay nhà cầm quyền thế tục, là Otto I (Đại Đế), là Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện đầu tiên của nước Đức. Otto và các người kế vị muốn dùng Giáo Hội Công Giáo như một công cụ giúp phục hồi trật tự trong đế quốc.
Phương cách "giáo dân tấn phong giáo sĩ" -- các hoàng đế lựa chọn các giám mục và ngay cả các giáo hoàng -- là một trong những phương cách chính để kiểm soát Giáo Hội. Nhờ ḷng thương xót của Thiên Chúa, các giáo hoàng được tuyển chọn bởi các hoàng đế Đức lại là những người có phẩm hạnh cao, nhất là Đức Giáo Hoàng Sylvester II (999-1003). Kết quả là Giáo Hội Tây Phương bắt đầu hồi sinh.
Yếu tố then chốt trong sự canh tân Giáo Hội vào thời điểm này là sự canh tân đời sống đan viện, được khởi sự bằng việc sáng lập một đan viện mới, tên Cluny ở Pháp vào năm 910. Đan viện này thuộc ḍng Bênêđíctô đặt riêng một số đan sĩ chỉ để cầu nguyện, và mọi người phải giữ im lặng, ngoại trừ khi đọc kinh Nhật Tụng. Các đan sĩ tự bầu lấy đan viện trưởng và chỉ chịu trách nhiệm với đức giáo hoàng, bởi đó không có sự kiểm soát của giáo dân. Tổ chức đan viện này quá hữu hiệu đến độ nhiều giám mục và thái tử đă mời đan viện Cluny thành lập các chi nhánh trong các giáo phận của họ (ở Ḥa Lan, Ư, Tây Ban Nha, Anh và Đức). Hệ thống ḍng tu đầu tiên được bắt đầu, và vào năm 1100 đă có đến 1,500 chi nhánh. Sự canh tân của đan viện Cluny đưa đến sự cải tổ của các đan viện khác cũng như việc thành lập các hệ thống đan viện mới, tỉ như Ḍng Camaldolese của Thánh Rômuanđô và Ḍng Carthusian của Thánh Brunô. Ngọn lửa thánh thiện này đă canh tân Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ mười một khi các đan sĩ được mời làm giám mục trông coi các địa phận đang sẵn sàng cải tổ. Các chi nhánh của Cluny, do chính đức giáo hoàng điều khiển, trở nên một phương cách để đức giáo hoàng phục hồi tinh thần và quyền bính. Các vị giáo hoàng vĩ đại của hai thế kỷ tới -- Đức Grêgôriô VII, Đức Urbanô II, và Đức Paschal II -- trước đây đều là các đan sĩ của Cluny.
Thế Kỷ Mười Một
Các hoàng đế Đức của Đế Quốc Otto tiếp tục kiểm soát Giáo Hội Tây Phương trong thế kỷ mười một, nhưng việc đề cử các giáo hoàng tương lai cũng như sự hỗ trợ của họ đă có một ảnh hưởng bất ngờ. Các giáo hoàng và các hồng y bắt đầu nhận thức rằng, chủ quyền đất đai cũng như việc tuyển chọn các giáo hoàng và giám mục của các hoàng đế và nhà cầm quyền thế tục là một vi phạm đến sự tự do của Giáo Hội. Các ngài tin rằng ngay cả các hoàng đế cũng phải phục tùng quyền bính thiêng liêng của phẩm trật Công Giáo.
Điều này rất đúng trên lư thuyết, nhưng không một giáo hoàng nào đủ mạnh và can đảm để đem ra thực hành, măi cho đến năm 1073, khi Đức Hồng Y Hildebrand được chọn làm giáo hoàng, lấy tên là Grêgôriô VII. Với tính khí nóng nẩy và niềm tin của một ngôn sứ thời Cựu Ước, trong sắc lệnh nổi tiếng của ngài (Dictatus papae, 1075), Đức Grêgôriô tuyên bố: đức giáo hoàng đă được Đức Kitô ban cho quyền tối cao qua Thánh Phêrô. Đức giáo hoàng có quyền tổng quát trong Giáo Hội và cũng có quyền truất phế các hoàng đế, hoặc thay đổi các luật lệ nào mâu thuẫn với luật lệ của Thiên Chúa hay quyền bính của Giáo Hội. Nhất là, Đức Grêgôriô đă dùng thẩm quyền của ngài để cải tổ Giáo Hội Công Giáo, mà lúc bấy giờ rất cần canh tân ở mọi tầng lớp. Đức Grêgôriô VII chứng tỏ rằng, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, một giáo hoàng có thể canh tân Giáo Hội Công Giáo. Ngài nhấn mạnh rằng các linh mục phải trung thành với lời khấn độc thân và tẩy chay mọi h́nh thức buôn thần bán thánh, nhận tiền bạc để thi hành mục vụ. Khi các nhà cầm quyền và các giám mục, v́ quyền lợi riêng tư, do dự thi hành sắc lệnh này, Đức Grêgôriô đă gửi các đại diện của ngài đến tận nơi, sẵn sàng ra vạ tuyệt thông những ai từ chối không chịu cải tổ. Quyền bính của Đức Grêgôriô VII được tỏ rơ khi ngài ra vạ tuyệt thông Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện là Henry IV v́ không tán thành sự canh tân của Giáo Hội. Henry đă phải quỳ trên tuyết ở Canossa để xin đức giáo hoàng tha thứ, và đă được ban cho. Thật trớ trêu, việc tha thứ Henry IV đă làm các thái tử Đức xa lánh, và dẫn đến việc lưu đầy của Đức Grêgôriô và cái chết của ngài năm 1085. Từ nơi lưu đầy, Đức Grêgôriô viết:
Kể từ khi Giáo Hội đặt tôi lên ngai tông đồ, tất cả những ǵ tôi mong muốn cũng như cùng đích mọi cố gắng của tôi là Giáo Hội Thánh Thiện... phải phục hồi vinh dự và được tự do, trong sạch và Công Giáo.
Công việc của Đức Grêgôriô VII, được sự hỗ trợ của các đan viện, đă đẩy mạnh sự canh tân chính đáng của Giáo Hội Công Giáo và duy tŕ sự tự do của Giáo Hội khỏi sự kiểm soát của các nhà cầm quyền thế tục, là những người muốn lợi dụng Giáo Hội cho mục đích riêng tư của họ. Lư thuyết về quyền bính của đức giáo hoàng không có ǵ mới mẻ, nhưng lư thuyết ấy đă bênh vực và thi hành điều mà Giáo Hội Công Giáo tin tưởng từ bao thế kỷ về vai tṛ và quyền bính của đức giáo hoàng trong Giáo Hội và trong thế giới.
Các vị giáo hoàng sau đây của thế kỷ, Đức Urbanô II (1088-99) và Đức Paschal II (1099-1118), là những người thánh thiện, cương quyết tiếp nối công việc cải tổ và canh tân. Đức Urbanô II kiên cường vai tṛ lănh đạo của đức giáo hoàng qua việc triệu tập Công Đồng Clermont năm 1095 để thành lập Thập Tự Quân lần thứ nhất, nhằm giải thoát các linh địa của Đông Phương khỏi sự kiểm soát của người Hồi Giáo. Chắc chắn Đức Urbanô đă không nh́n thấy tương lai của các cuộc thập tự chinh, ngài chỉ coi đó là một phương tiện thực tế để Giáo Hội Tây Phương biểu lộ đức tin nơi uy quyền của Đức Kitô, và cũng để hỗ trợ Kitô Hữu Đông Phương đang chịu đau khổ dưới các chế độ Hồi Giáo.
Thế kỷ mười một đánh dấu giây phút buồn thảm nhất của lịch sử Giáo Hội, là sự tách biệt giữa Giáo Hội Đông Phương và Giáo Hội Tây Phương vào năm 1054. Sự chia cách này chắc chắn đă đi ngược lại ư muốn của Thiên Chúa, là người đă sai Đức Giêsu h́nh thành một dân tộc, một giáo hội. Vào thời điểm này, Kitô Giáo bị chia cắt làm hai: Giáo Hội Công Giáo - công nhận đức giáo hoàng như vị thủ lănh ở thế gian -- và Giáo Hội Chính Thống Giáo - do các thượng phụ lănh đạo, tỉ như đức thượng phụ của Constantinople.
Điều ǵ đă gây nên cuộc ly giáo này? Các biến cố bề ngoài xảy ra ngay lúc đó chỉ là triệu chứng của các khó khăn đă âm ỉ trong nhiều thế kỷ. Hầu hết các sử gia đều cho rằng sự phân cách Đông và Tây về cả hai phương diện, giáo hội (quyền tối thượng của đức giáo hoàng) và thần học (về vấn đề filioque). Trong các cuộc đối thoại đại kết ngày nay, vẫn c̣n hai trở ngại chính cho sự hợp nhất. Về quyền tối thượng của đức giáo hoàng, vấn đề được đặt ra là đức giáo hoàng có quyền cai quản và dạy bảo toàn thể Giáo Hội hay không. Tây Phương tin rằng đức giáo hoàng có thẩm quyền đó; Đông Phương tin rằng mọi thượng phụ, kể cả vị giám mục Rôma, đều có quyền bằng nhau. Năm 1054, đức thượng phụ Constantinople, Micae Caerularius, chỉ trích một vài thông lệ của Giáo Hội Tây Phương, và xưng hô với đức giáo hoàng như một người anh em thay v́ coi là vị cha chung, và đức thượng phụ từ chối không chịu tiếp đón các đại diện của đức giáo hoàng khi họ đến Constantinople trong ba tháng. Sau cùng, các vị đại diện đă để lại trên bàn thờ trong giáo đường của đức thượng phụ một Chỉ Dụ Tuyệt Thông và từ giă Constantinople sau khi "phủi bụi dưới chân các ngài." Vài ngày sau, Đức Micae Caerularius phản ứng lại bằng cách ra vạ tuyệt thông các đại diện và đức giáo hoàng. Vạ tuyệt thông đôi bên này được duy tŕ măi cho đến năm 1965, khi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI gặp gỡ Đức Thượng Phụ Athenagoras trong ṿng tay thân ái và cả hai đă cùng hủy bỏ vạ tuyệt thông ấy. Nhờ ơn Chúa, công việc tái hợp Chính Thống Giáo và Công Giáo Rôma hiện đang được tiến hành cách tốt đẹp.
Bất kể những t́ tích của Giáo Hội, phúc âm của Đức Giêsu Kitô tiếp tục được loan truyền. Trong thế kỷ mười một, Đan Mạch và Na Uy theo Kitô Giáo, sau đó không lâu là Thụy Điển (1164). Nước Nga tiếp đón các nhà thừa sai từ Đông Phương và cả Tây Phương, cho đến khi thái tử Nga quyết định rửa tội theo Giáo Hội Byzantine, mà sau đó trở thành Giáo Hội Chính Thống Nga với vị thượng phụ ở Moscow.
Thế Kỷ Mười Hai
Trong thế kỷ này có quá nhiều chủ đề riêng biệt nên được chia ra thành các đề tài sau:
1. Các tương giao giữa Giáo Hội và Nhà Nước ở Tây Phương: Đức giáo hoàng và Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện tiếp tục tranh giành quyền tuyển chọn các giám mục và tu viện trưởng, măi cho đến khi có sự tương nhượng sau Thỏa Ước Worms năm 1122. Theo thỏa ước này, các giám mục và tu viện trưởng được tuyển chọn theo luật của Giáo Hội, với quyền bổ nhiệm của nhà cầm quyền dân sự nếu muốn, và trong nghi thức tấn phong Giáo Hội sẽ ban cho họ nhẫn và gậy giám mục. Như vậy, đức giáo hoàng, tu viện trưởng, và các giám mục bị kẹt giữa hai thế giới, thế giới quyền lực chính trị và thế giới lănh đạo tinh thần.
Các giáo hoàng của thế kỷ mười hai và mười ba cố gắng sống hài ḥa với các nhà cầm quyền và các quốc gia để duy tŕ sự tự do của Ṭa Thánh, cũng như để giữ thế quân b́nh giữa các quốc gia Âu Châu nhằm ngăn ngừa bất cứ nhà cai trị nào muốn kiểm soát Giáo Hội. Nhiều khi các giáo hoàng thất bại. Hoàng đế Frederick I (Barbarossa), là người đầu tiên của ḍng họ Hohenstaufen cai trị Đế Quốc Rôma Thánh Thiện, đă xâm chiếm Rôma năm 1159 và buộc Đức Giáo Hoàng Alexander III phải bỏ trốn. Sau đó, Đức Alexander liên minh với lực lượng Lombard ở miền bắc nước Ư, đánh bại quân của Frederick ở Leghano năm 1176, và sau đó làm ḥa với Frederick. Sau khi hoà giải với Giáo Hội, Frederick dẫn đầu Thập Tự Chinh III sau khi Giêrusalem bị thất thủ vào năm 1187.
Ở Anh, Đức Tổng Giám Mục Tôma Becket của Canterbury tranh đấu cho quyền lợi và sự tự do của Giáo Hội cho đến khi vua người Norman, là Henry II, buộc đức tổng phải trốn sang Pháp trong ṿng sáu năm. V́ sự nổi tiếng của Đức TGM Tôma, nhà vua đă cho phép ngài về nước năm 1170. V́ đức tổng tiếp tục ủng hộ đức giáo hoàng, Henry nổi cơn thịnh nộ và một vài vệ sĩ của ông đă giết đức tổng ngay trên tam cấp vương cung thánh đường Canterbury. Hành động hung ác này đă chấn động cả Âu Châu. Đức giáo hoàng đă ra vạ tuyệt thông vua Henry, mà sau đó ông đă sám hối và rút lại lời chống đối Giáo Hội. Đức Tôma Becket được tuyên xưng là thánh năm 1173 sau nhiều phép lạ xảy ra ở mộ của ngài.
2. Thập Tự Chinh. Những tranh chấp chính trị được các giáo hoàng coi là cần thiết để duy tŕ sự tự do của Giáo Hội khỏi sự lũng đoạn và thống trị của các nhà cầm quyền dân sự. Việc sử dụng quân đội và liên minh quân sự của các giáo hoàng được coi là chính đáng v́ lư do tự vệ -- bảo vệ đất đai của đức giáo hoàng và quyền cai trị Giáo Hội một cách tự do của đức giáo hoàng.
Tuy nhiên, các cuộc thập tự chinh là một trường hợp khác biệt. Thập tự chinh là các cuộc viễn chinh có tính cách quân sự do Giáo Hội tổ chức để giải thoát Đất Thánh khỏi sự kiểm soát của người Hồi Giáo, và để bảo vệ đức tin Kitô Giáo cũng như bảo vệ người tín hữu đi hành hương. Thánh Augustine đă triển khai ư tưởng "cuộc chiến chính nghĩa," và Giáo Hội tin rằng các cuộc thập tự chinh nằm trong khuôn khổ ấy. Thật vậy, những người tham dự thập tự quân được Giáo Hội tha thứ mọi h́nh phạt v́ tội lỗi của họ. Đức Urbanô II, người triệu tập Thập Tự Chinh I, đă ngăn cấm tất cả các động lực bất chính khi tham dự thập tự quân, tỉ như v́ vinh dự hoặc lợi lộc thế tục.
Trên lư thuyết, các cuộc thập tự chinh có thể được coi là chính đáng, nhưng v́ bản tính yếu đuối con người, hậu quả của các cuộc chiến này thường rất bi thảm. Thập Tự Chinh I là một thành công về quân sự, nhưng việc trục xuất các thượng phụ Hy Lạp ở Antiôkia đă làm sâu đậm thêm sự chia cắt giữa Giáo Hội Đông Phương và Rôma, và đoàn quân thập tự ấy đă bừa băi giết chết hàng trăm người vô tội khi họ tái chiếm Giêrusalem.
Mặc dù Thánh Bernard ở Clairvaux đă cổ động cho Thập Tự Chinh II vào năm 1146, nhưng đó là một thất bại về quân sự. Thập Tự Chinh III vào năm 1189 cốt để tái chiếm Giêrusalem khỏi tay người Thổ Nhĩ Kỳ Saladin, nhưng tất cả những ǵ đạt được chỉ là một thỏa ước đảm bảo sự an toàn cho Kitô Hữu khi đi hành hương ở Đất Thánh. Hầu hết mọi người đều đồng ư rằng các cuộc thập tự chinh đă quá xa rời ư định nguyên thủy, và tệ hại hơn nữa, sự tương giao giữa Kitô Giáo Đông và Tây lại càng thêm suy yếu khi các nhà lănh đạo các cuộc thập tự chinh sau này đă viễn chinh với các lư do thiếu thánh thiện.
3. Sự Canh Tân Giáo Hội và Lạc Giáo. Phong trào canh tân Giáo Hội Công Giáo được bắt đầu trong thế kỷ mười một và tiếp tục sang thế kỷ mười hai. Thánh Robert ở Molesme thành lập một đan viện ở Citeaux năm 1098, và đó là khởi đầu của Ḍng Xitô. Một trong những đan sĩ trẻ tuổi của Xitô, tên Bernard, đă thiết lập một chi nhánh ở Clairvaux năm 1116 và làm đan viện trưởng cho đến khi từ trần năm 1153. Là một thầy giảng, một vị linh hướng, và thần học gia, Thánh Bernard ở Clairvaux là vị lănh đạo canh tân đời sống tâm linh trong thế kỷ mười hai. Không bao lâu ḍng Xitô có ảnh hưởng nhất trong Giáo Hội, vượt cả ḍng Cluny, và sau cùng có đến sáu trăm đan viện được các tu sĩ Xitô thiết lập. Không những các đan viện được mọc lên như nấm mà cả các linh mục triều cũng được canh tân bởi các phong trào như Premonstratensian của Thánh Norbert, một người bạn của Thánh Bernard.
Sự canh tân quét sạch Giáo Hội, nhưng ảnh hưởng chính trị và sự sung túc ngày càng gia tăng của Giáo Hội Công Giáo, kể cả các đan viện, đưa đến sự xuất hiện của một số tổ chức mà họ tự cho rằng có đời sống căn bản hơn và trung thực hơn với phúc âm so với Giáo Hội. Người Cathar, là con cháu của người Manikê, xuất hiện từ phía nam nước Pháp và được gọi là Albigensian, v́ họ thuộc miền Albi. Các tổ chức khác, tỉ như các môn đệ của Peter Waldes (phái Waldensian) và Humiliati ở Ư, khởi sự bằng cách thúc giục cải tổ và sống khó nghèo trong Giáo Hội, nhưng dần dà họ tách khỏi sự trung thành với Giáo Hội Công Giáo và bị kết án. Hầu hết các tổ chức này thấy chướng tai gai mắt v́ sự giầu sang và thối nát trong Giáo Hội Công Giáo và họ muốn cải cách tận gốc, ngay tức th́ mà không phải quy phục đức giáo hoàng và các giám mục. Tuy nhiên, cũng có một vài nhóm sống khắc khổ và nghiêm nhặt như các đan viện trước đây - Xitô, Carthusian, v.v. Sự canh tân xảy ra khắp nơi, và các tổ chức Công Giáo này chứng minh rằng Giáo Hội thực sự muốn canh tân và đă thể hiện được điều đó.
4. Thần Học và Giáo Dục. Nếp sống mới trong đan viện và các trường địa phận đem lại đời sống mới cho Giáo Hội qua nhiều phương cách. Kiểu kiến trúc vuông vức, thoáng rộng của Rôma đă nhường chỗ cho các thánh đường kiểu Gôtích với ngọn tháp cao chót vót. H́nh ảnh Đức Kitô là vua được thay thế bằng h́nh ảnh Đức Kitô đau khổ trên thập giá, có lẽ phản ánh một đời sống cam go và nhiều bất trắc trong giai đoạn này. Sự đạo đức của người dân có tính cách riêng tư và cá biệt hơn, và việc sùng kính các thánh nhất là Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, bắt đầu triển nở. Việc thờ phượng ngày càng hướng về Thánh Thể, nhất là sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Ḿnh Thánh mà tín điều này đă được nhiều công đồng xác nhận. Danh từ "biến thể" bắt đầu được sử dụng để diễn tả sự thay đổi của bánh và rượu trở nên Ḿnh và Máu Đức Kitô trong h́nh thức bí tích. Tuy nhiên, Giáo Hội thời Trung Cổ chú trọng đến sự chiêm ngưỡng Ḿnh Thánh hơn là rước Thánh Thể vào trong ḷng. Thánh Lễ mang đặc tính của một vở tuồng để nh́n xem, một tấn bi kịch, thay v́ một bữa tiệc chung của mọi người.
Thế kỷ mười hai cũng ghi dấu sự h́nh thành của thần học Kinh Viện. Lư trí được sử dụng để hiểu biết các mầu nhiệm về đức tin và thần học. Các thần học gia muốn tạo thành một tổng hợp bao gồm các tín điều trong Phúc Âm, các văn bản của các Giáo Phụ tiên khởi và triết học. Họ tin rằng, đức tin và lư lẽ không thể trái ngược nhau mà phải bổ sung cho nhau.
Đứng đầu các thần học gia vĩ đại trong thế kỷ này là Thánh Anselm ở Canterbury (1033-1109), là cha đẻ của Học Thuyết Kinh Viện. Sau này xuất hiện một người tài giỏi, nhưng hơi kỳ dị là Peter Abelard, mà những sai lạc của ông đă bị bài bác bởi Thánh Bernard ở Clairvaux và Peter Lombard. Cuốn Luận Đề Thần Học của Peter Lombard là một phương pháp được coi là tiêu chuẩn giáo khoa về thần học trong suốt thế kỷ mười ba. Cũng cần đề cập đến Gratian, một đan sĩ Camaldolese mà công tŕnh của ngài là xếp đặt thứ tự các giáo huấn và quy luật của Giáo Hội Công Giáo, từ đó phát sinh khoa học mới về giáo luật trong thế kỷ mười hai.
Bất kể những đấu tranh chính trị của các giáo hoàng và kết quả lẫn lộn của các cuộc thập tự chinh, rơ ràng là Thiên Chúa đă làm việc trong thế kỷ mười hai. Đó là con đường Người chuẩn bị cho thế kỷ tốt đẹp nhất về tâm linh, văn hóa, và tiến bộ tri thức trong lịch sử văn minh Tây Phương: thế kỷ mười ba.
Thế Kỷ Mười Ba
Thế kỷ mười ba là một bông hoa thời Trung Cổ và là cao điểm của Kitô Giáo. Trong hầu hết lănh vực của đời sống, chúng ta đều thấy ảnh hưởng của Giáo Hội và sự tiến bộ về văn hóa và học thuật. Chắc chắn có những giai đoạn u ám, như cuộc thập tự chinh và Ṭa Thẩm Tra được phát động để chống với lạc giáo. Nhưng ánh sáng của các thành quả trong thế kỷ này đă xua tan tăm tối và soi sáng cho Giáo Hội Công Giáo măi cho đến ngày nay.
1. Các Giáo Hoàng và Công Đồng. Thế kỷ mười ba xuất hiện các giáo hoàng có ảnh hưởng nhiều nhất và một số công đồng tốt đẹp nhất trong lịch sử Kitô Giáo. Đức giáo hoàng tài giỏi nhất là Đức Innôxentê III (1198-1216), là người đă xoay sở để mọi nhà cầm quyền thế tục phải phục tùng Giáo Hội qua sự thuyết phục hoặc sử dụng vạ tuyệt thông hay khai trừ. Tuy nhiên quyền lực trần thế không phải là mục đích của Đức Innôxentê; ngài muốn hoàn toàn kiểm soát Giáo Hội để có thể cải tổ. Vào năm 1215, ngài triệu tập Công Đồng Latêranô IV, quy tụ trên bốn trăm giám mục và tám trăm viện phụ, tu viện trưởng cũng như đại diện các nhà cầm quyền. Công đồng này đă tán thành các nghị định cải tổ mà các quyết nghị ấy đă ảnh hưởng đến Giáo Hội trong nhiều thế kỷ, tỉ như nhiệm vụ của người Công Giáo là phải đi xưng tội và rước lễ mỗi năm ít là một lần trong mùa Phục Sinh. Công đồng này tán thành việc sử dụng danh từ biến thể và cũng có những xử trí để ngăn chặn lạc giáo, tỉ như Ṭa Thẩm Tra.
Đức Innôxentê III, người đầu tiên dùng danh xưng Đại Diện Đức Kitô, đă chứng tỏ sự khôn ngoan của ngài trong cách giải quyết đối với các tu sĩ ḍng khất thực hay Phong Trào Khó Nghèo. Nhiều Kitô Hữu cảm thấy chướng tai gai mắt v́ của cải đang đổ về Tây Phương như một kết quả của cuộc thập tự chinh và v́ xă hội ổn định. Các Kitô Hữu này muốn sống cuộc đời đơn giản khó nghèo trong phúc âm để noi gương Đức Giêsu Kitô. Đức Innôxentê nhận thấy cần phải có tinh thần này trong sự cải tổ Giáo Hội, do đó ngài tán thành các ḍng tu mới của những người sống khó nghèo, c̣n được gọi là Tu Sĩ Khất Thực, được sáng lập bởi Thánh Phanxicô Assisi (1209) và Thánh Đaminh Guzman (1215). Đức Innôxentê III c̣n đem trở về với Giáo Hội Công Giáo các tổ chức trước đây ĺa bỏ Giáo Hội, tỉ như Hội Người Nghèo ở Lyons, do Durand ở Huesca lănh đạo, và Hội Người Công Giáo Khó Nghèo. Một số cho rằng Đức Innôxentê III là một chính trị gia hơn là một vị thánh, nhưng không ai có thể từ chối rằng ngài đă thành công hơn bất cứ vị giáo hoàng nào thời Trung Cổ trong việc kiên cường và cải tổ Giáo Hội.
V́ đây là lịch sử cô đọng nên chúng ta không thể kể hết tất cả các giáo hoàng xuất sắc của thế kỷ, nhưng cần đề cập đến hai công đồng đă tiếp tục việc cải tổ Giáo Hội: Công Đồng Lyons I (1245) và II (1274). Cả hai công đồng được tổ chức ở Pháp v́ áp lực chính trị trên các giáo hoàng ở Rôma. Nước Pháp trung thành với đức giáo hoàng, và vị vua thánh thiện của Pháp, Vua Louis IX (1214-70, sau này được phong thánh), đă hỗ trợ và bảo vệ Giáo Hội. Vị giáo hoàng sau cùng của thế kỷ mười ba, Đức Boniface VIII (1294-1303), là một thí dụ điển h́nh về các thành quả của các giáo hoàng thời bấy giờ. Ngài tiếp tục đả kích bất cứ sự can thiệp nào của chính phủ vào nội bộ Giáo Hội, và trong chỉ dụ nổi tiếng của ngài, Unam Sanctam, ngài tuyên bố thẩm quyền tuyệt đối của đức giáo hoàng trên Giáo Hội và trật tự xă hội Kitô Giáo. Năm Thánh 1300 do ngài công bố rất thành công, quy tụ trên một triệu người hành hương đến Rôma. Thẩm quyền của đức giáo hoàng đạt đến tuyệt đỉnh trong thời Đức Innôxentê III và Boniface VIII.
2. Các Cuộc Thập Tự Chinh và Ṭa Thẩm Tra. Khía cạnh u ám của thế kỷ này xảy ra là v́ Giáo Hội cố gắng giữ lấy lănh thổ của Kitô Giáo ở Đông Phương và dùng quyền lực để tiêu diệt các lạc giáo. Cuộc Thập Tự Chinh IV được Đức Innôxentê III triệu tập năm 1202, nhưng dù không có phép của ngài, thập tự quân đă dừng chân ở Constantinople để tấn phong một hoàng đế có lợi cho Tây Phương. Binh lính không ngừng bóc lột và tàn phá thành phố mỹ miều này vào năm 1204. Một nhà b́nh luận viết, "Ngay cả người Hồi Giáo c̣n có ḷng từ bi hơn." Sự kiện này đă tạo nên nỗi cay đắng lớn lao trong tâm hồn Kitô Hữu Đông Phương đối với Giáo Hội Công Giáo, mà cho đến nay vẫn chưa thể hoàn toàn hàn gắn, hơn nữa nó c̣n làm mất chính nghĩa của toàn thể phong trào thập tự chinh. Đức Innôxentê III rúng động v́ biến cố này, nhưng trong Công Đồng Latêranô IV, ngài đă triệu tập một cuộc thập tự chinh khác để khôi phục thành phố Giêrusalem. Thập Tự Chinh V (1218-21) tương đối thành công nhưng thất bại trong việc tái chiếm Giêrusalem. Qua phương cách ngoại giao, Hoàng Đế Frederick II xoay sở để chiếm lại Giêrusalem trong cuộc Thập Tự Chinh VI (1228-29), nhưng chỉ kéo dài được mười lăm năm. Năm 1291, Đất Thánh lọt khỏi tầm kiểm soát của Tây Phương với sự bại trận của các lực lượng Kitô Giáo ở Acre. Bài học của các cuộc thập tự chinh trong việc tái chiếm Đất Thánh vẫn c̣n giá trị cho đến ngày nay. V́ Đức Kitô, đừng bao giờ Giáo Hội Công Giáo tuyên chiến để tái chiếm lănh thổ, ngay cả Đất Thánh; cũng không nên cho phép xảy ra một cuộc chiến giữa các quốc gia v́ lư do này.
Trong thế kỷ mười ba, Giáo Hội Công Giáo c̣n phải tiến hành một mặt trận khác quan trọng hơn. V́ sự giầu sang và thối nát trong Giáo Hội, một vài tổ chức như nhóm Cathar và Waldensian đang lôi cuốn nhiều người Công Giáo Âu Châu, và các nhóm này từ chối nhân tính của Đức Kitô, tẩy chay các bí tích, và khước từ quyền bính thiêng liêng của các linh mục và của Giáo Hội. Để đối phó với vấn đề này, trong thế kỷ mười hai, Giáo Hội Công Giáo thiết lập một thủ tục pháp lư để thẩm vấn những người bị t́nh nghi là lạc giáo. Tiến tŕnh pháp lư và ṭa án này được nổi tiếng dưới tên Ṭa Thẩm Tra (Inquisition).
Thật khó để chúng ta hiểu rằng trong thời ấy người ta không tin có sự tự do tôn giáo hay sự khoan dung. Một người sống trong đế quốc hay quốc gia Công Giáo th́ được cho là phải tin tưởng vào giáo huấn Công Giáo. Nếu họ không tin, họ được coi là nguy hiểm cho xă hội và linh hồn của họ bị nguy cơ diệt vong. Giáo Hội Công Giáo coi Ṭa Thẩm Tra là một cách để duy tŕ sự tinh tuyền của đức tin Công Giáo trong một quốc gia Công Giáo, và để ǵn giữ linh hồn những người lạc giáo khỏi bị tiêu vong qua sự ăn năn sám hối và việc chấp nhận đức tin chân chính. Khoảng giữa thế kỷ mười ba, ngay cả việc tra tấn của nhà cầm quyền thế tục cũng được Giáo Hội cho là đúng, v́ trên nguyên tắc, thà bị đau khổ phần xác ở đời này c̣n hơn bị đau khổ trong lửa hoả ngục đời đời. (Nên để ư rằng, luật La Mă, được duy tŕ ở Tây Phương bởi hoàng đế Justinian, cho sử dụng sự tra tấn để buộc phải thú tội). Tuy nhiên, trái với điều tin tưởng thông thường, mục đích của Toà Thẩm Tra là để tiêu diệt tận gốc nạn lạc giáo qua sự hoán cải những người lầm lạc trở về với đức tin chân chính. Cũng cần lưu ư ở đây, khi Đức Grêgôriô IX cho thiết lập các ṭa thẩm tra cách vĩnh viễn vào năm 1233, ngài đă chọn các người từ ḍng Khất Thực, nhất là tu sĩ ḍng Đa Minh, để hoán cải dân chúng qua Ṭa Thẩm Tra.
3. Phong Trào Khó Nghèo và Các Ḍng Khất Thực. Thánh Phanxicô Assisi sinh năm 1181, con của một thương gia buôn vải của thành phố miền trung nước Ư này. Khi lớn lên, Phanxicô nổi tiếng là thích liên hoan và vui nhộn. Được khích động bởi h́nh ảnh hào hùng của tinh thần hiệp sĩ, Phanxicô tham dự cuộc chiến. Sau khi bị thương và bị bắt làm tù binh, Phanxicô trở về Assisi dưỡng bệnh. Cuộc đời ngài bắt đầu thay đổi. Một ngày kia, khi cầu nguyện trong nhà thờ San Damiano, ngài nghe Đức Kitô trên thánh giá kêu gọi ngài "đi dựng lại Giáo Hội của Ta, đang đổ nát." Lúc đầu, Phanxicô tưởng Chúa gọi ngài sửa chữa các ngôi nhà thờ cũ kỹ, nhưng sau đó ngài hiểu Chúa muốn xây dựng lại Giáo Hội qua lối sống phúc âm thật nghèo khó, để noi gương Đức Kitô nghèo hèn. Vào năm 1209, Phanxicô và mười một đồng bạn lên Rôma để xin Đức Innôxentê II chấp thuận cho quy luật đơn giản của họ, mà trong đó chỉ có một vài gịng chữ trích từ Phúc Âm. Lúc đầu Đức Innôxentê do dự, nhưng ngài mơ thấy Phanxicô đưa tay chống đỡ các cột trụ của Giáo Hội Rôma. Kết quả là Đức Innôxentê tán thành quy luật của Phanxicô và cho phép Phanxicô và các môn đệ được phép rao giảng bất cứ đâu mà đức giám mục địa phương đồng ư. Thánh Clara, một người bạn của Thánh Phanxicô, đă sáng lập ḍng "Clara nghèo hèn," một ḍng nữ Phanxicô, và cũng đă phát triển mạnh.
Đó là khởi đầu của cuộc canh tân vĩ đại nhất lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Nhóm tu sĩ Phanxicô ít ỏi ấy đă phát triển thành một ḍng tu lớn nhất và có ảnh hưởng nhất thời Trung Cổ, vượt xa các đan viện về số lượng cũng như sự ảnh hưởng. Đời sống nhân chứng của các tu sĩ ḍng Phanxicô thật cần thiết trong một thời đại mà Giáo Hội ngày càng giàu sang và nhiều giáo sĩ thật hư hỏng. Tuy nhiên, Phanxicô không nh́n đến các khiếm khuyết của Giáo Hội hay của giáo sĩ, mà ngài vẫn hết ḷng trung thành và yêu quư Giáo Hội. Mặc dù ngài rất khó nghèo và khắc khổ, Thánh Phanxicô luôn luôn yêu đời, vui thích trong các tạo vật của Thiên Chúa và đặc biệt sùng kính nhân tính của Đức Giêsu. Ngài sáng chế ra hang đá Giáng Sinh, và không như những người lạc giáo thời ấy, ngài đặc biệt yêu quư bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Khi gần chết, Thiên Chúa đă ban cho ngài năm vết thương của Đức Kitô trên thân thể -- là một món quà thích hợp cho những ai yêu mến Đức Kitô bị đóng đinh. Ngài từ trần năm 1226, và chỉ hai năm sau, ngài đă được phong thánh.
Thánh Đaminh Guzman là người Tây Ban Nha sinh năm 1170. Sau khi được thụ phong linh mục, ngài lưu tâm đến việc hoán cải những người bị ảnh hưởng của lạc giáo Albigensian (người Cathar). Ngài nhận thấy rằng, người ta chỉ trở lại đạo qua sự rao giảng hùng hồn nhờ vào sự huấn luyện kỹ càng cùng với một đời sống chứng nhân đơn sơ và nghèo hèn. Vào năm 1216, các môn đệ của ngài được Đức Giáo Hoàng Honorius III chấp nhận là Ḍng Thuyết Giáo, sau khi họ du nhập số quy luật của Thánh Augustine. Thánh Đaminh rất yêu mến Thiên Chúa. Ngài thường nhỏ lệ khi rao giảng hay khi dâng Thánh Lễ, và ngài kêu gọi các môn đệ chỉ nói về Chúa và với Chúa. Ngài từ trần năm 1221 và được phong thánh năm 1234. Cũng giống như Ḍng Phanxicô, Ḍng Đaminh trở nên một nguồn canh tân lớn lao, hoán cải người lạc giáo, và chỉnh đốn các hiểu biết sai lầm trong thế kỷ mười ba. Các ḍng tu khác, tỉ như ḍng Camêlô và ḍng Augustine, cũng đă thôi thúc Giáo Hội trên con đường canh tân của thế kỷ này.
4. Thần Học, Sự Hiểu Biết và Văn Hóa Mới. Thế kỷ mười ba cũng là tột đỉnh của tư duy và văn hóa thời Trung Cổ. Điều này được khởi sự từ thế kỷ mười một với việc thành lập các trường của địa phận và của thành phố. Vào khoảng 1170 một trung tâm mới cao hơn về học thuật xuất hiện - trường đại học. Lúc đầu, đại học được coi là tổ chức hay hiệp hội của các học giả, mà trước tiên thu hút hàng giáo sĩ và được Giáo Hội hỗ trợ về tài chánh. Hai đại học lớn được thành lập ở Balê (chuyên về thần học) và ở Bologna (về luật), nhưng sau đó không lâu là các trường Oxford (1200), Cambridge (1209), Salamanca (1220), Naples (1224), và các trường khác. Y học, luật học và thần học là các môn chính yếu, và thần học được coi là nữ hoàng của kiến thức. Phương cách của thần học chủ yếu là nghiền ngẫm (lectio) các sách thiêng liêng, nhưng với công tŕnh chuyển dịch các văn bản của triết gia Hy Lạp Aristotle từ tiếng Ả Rập sang tiếng Latinh, một phương pháp mới về lư luận để học hỏi thần học được khai sinh. Các thần học gia muốn chứng minh rằng đức tin Kitô Giáo th́ hợp lư và sự hiểu biết tự nhiên rất thích hợp với quan điểm Kitô Giáo về vũ trụ và thực thể, và ngay cả hỗ trợ cho đức tin Kitô Giáo.
Ba vị thần học sáng giá của thế kỷ xuất thân từ các ḍng Khất Thực: một tu sĩ ḍng Phanxicô, Thánh Bônaventura (1217-74), và hai tu sĩ ḍng Đa Minh, Thánh Albert Cả (1200-80) và Thánh Tôma Aquinas (1225-74). Thánh Bônaventura áp dụng truyền thống lâu đời để t́m hiểu thần học bằng phương cách bí nhiệm, trong khi dùng lư lẽ để hỗ trợ cho sự xác thực của truyền thống và đức tin. Thánh Albert Cả là một trong những người đầu tiên cực lực hỗ trợ tư duy của Aristotle, mà trước đây đă bị Rôma cấm chỉ trong các trường đại học v́ có nguồn gốc ngoại giáo. Người học tṛ nổi tiếng của Thánh Albert, là Tôma Aquinas, hăng hái bảo vệ giá trị của Aristotle và h́nh thành một hệ tư tưởng bao gồm Phúc Âm, các Giáo Phụ, và lư luận của Aristotle trong một hệ thống hiểu biết vĩ đại, tổng hợp toàn thể mặc khải Kitô Giáo qua đức tin được khai sáng bởi lư lẽ. Kiệt tác của Thánh Tôma là cuốn Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica, 1266-74), được coi là cực điểm của thiên tài và thật sáng sủa. Trái với điều tin tưởng thông thường, Thánh Tôma không bao giờ tách rời đức tin với lư lẽ. Lư lẽ giúp con người hiểu biết cách thâm sâu các chân lư đức tin mà Thiên Chúa đă mặc khải. Tuy nhiên, Thánh Tôma Aquinas không phải là người nổi tiếng trong thời ấy. Thần học gia và triết gia John Duns Scotus (1266-1308), một tu sĩ Phanxicô người Tô Cách Lan, có đông các môn đệ hơn. Ngài bất đồng với Thánh Tôma về vài điểm quan trọng, nhưng đồng ư với thánh nhân về tính cách nhận thức, hoặc hiểu biết được của mọi sự.
Các trường đại học không chỉ là bằng chứng cho sự tiến bộ của văn minh Tây Phương mà c̣n có các đại văn hào, tỉ như Dante Alighieri (1265-1321). Tác phẩm Divine Comedy (Hài Kịch Thần Thánh) của Dante, một quan điểm văn học về hoả ngục, luyện ngục và thiên đàng, là tuyệt tác văn chương của mọi thời đại. Roger Bacon (1214-92), một tu sĩ ḍng Phanxicô, là người tiên phong trong lănh vực khoa học thực nghiệm. Các thánh đường kiểu Gôtích vút cao lên trời, và các nghệ nhân sáng tác nhiều tác phẩm vĩ đại. Thế kỷ mười ba quả thực là cao điểm của đời sống Giáo Hội và văn minh Tây Phương thời Trung Cổ.
Cuối Thời Trung Cổ (1300-1500)
Thế kỷ mười ba là thế kỷ đầy kết quả cho Kitô Giáo và cho Giáo Hội cũng như các giáo hoàng. Tuy nhiên, giai đoạn từ 1300 đến 1500 là thời kỳ suy thoái. Giai đoạn nhiều khó khăn này c̣n được ghi dấu bằng trận dịch hạch Tử Thần Đen mà nó đă càn quét Âu Châu từ năm 1348 và đă giết chết một phần ba dân số Âu Châu. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn hoạt động trong Giáo Hội Công Giáo và trong xă hội giữa biết bao thử thách.
1. Giáo Triều Avignon. Triều đại giáo hoàng sôi nổi của Đức Boniface VIII (1294-1303) được tiếp theo bằng một giai đoạn trên bảy mươi năm, 1306-76, mà trong thời gian đó các giáo hoàng cư ngụ ở Avignon, nước Pháp thay v́ ở Rôma. Đức Clêmentê V (làm giáo hoàng từ 1305 đến 1314) di chuyển đến Avignon để tránh áp lực chính trị của Ư, và của các hoàng tộc Rôma thường gây hấn. Vua Philip của Pháp hứa che chở và không phá rối để đổi lấy một vài ảnh hưởng trong chính sách của đức giáo hoàng. Mặc dù các giáo hoàng ở Avignon vẫn giữ vai tṛ độc đáo của các ngài là vị chủ chăn của toàn thể dân Chúa, nhưng tất cả thế giới c̣n lại đều nghi ngờ rằng các giáo hoàng này chỉ lên tiếng nói v́ lợi ích cho nước Pháp. Thật vậy, khi tám giáo hoàng trong thời kỳ này đều là người Pháp th́ sự kiện ấy chỉ như thêm dầu vào ngọn lửa hồ nghi.
Giáo triều Avignon đă bị phê phán bởi các thánh và các thi hào, như Petrarch, và c̣n bởi Thánh Bridget ở Thụy Điển (1303-73) và Thánh Catarina ở Siena (1347-80). Các ngài là nữ ngôn sứ mà Thiên Chúa đă dùng để thuyết phục đức giáo hoàng phải trở về Rôma. Thánh Bridget là một người vợ và là mẹ của tám người con; những thị kiến ngài nhận được từ Thiên Chúa đă thôi thúc các giáo hoàng ở Avignon phải thay đổi lối sống xa hoa và lo cho Giáo Hội. Thánh Catarina ở Siena hứa giữ ḿnh đồng trinh ngay khi c̣n nhỏ và đă gia nhập ḍng Ba Đa Minh. Ngài tận tụy phục vụ người nghèo cho đến khi Thiên Chúa gọi ngài làm ngôn sứ. Ngài đă thuyết phục Đức Grêgôriô XI trở về Rôma năm 1376 và ngài là cố vấn cho đức giáo hoàng kế vị, là Đức Urbanô VI. Mới đây, Thánh Catarina được tuyên xưng là Tiến Sĩ Hội Thánh và cùng với Thánh Phanxicô Assisi, ngài là quan thầy của nước Ư.
2. "Đại Phân Ly" Giữa Các Giáo Hoàng (1378-1417). Sau khi từ Avignon trở về Rôma không lâu, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XI từ trần năm 1378. Cái chết của ngài đă đem lại sự khủng hoảng lớn lao cho Giáo Hội. Các hồng y tụ họp ở Rôma, và dưới áp lực của người Rôma, các ngài đă khôn ngoan tuyển chọn một hồng y người Ư làm giáo hoàng, là Đức Urbanô VI. Nhưng trước sự kinh ngạc của họ, Đức Urbanô đă trừng trị các hồng y, luôn lải nhải đ̣i hỏi họ cải tổ và ngay cả tra tấn hồng y nào bất đồng quan điểm. Các hồng y người Pháp, sau khi phủ nhận giá trị việc tuyển chọn Đức Urbanô, đă bỏ về Rôma và chọn một hồng y người Pháp là "ngụy giáo hoàng," Clêmentê VII. Sự kiện này bắt đầu một trang sử buồn thảm của Giáo Hội Công Giáo. Đó là thời gian có đến hai, và sau này ba người tự xưng là giáo hoàng chính cống, mỗi người được sự hỗ trợ của một số quốc gia và đế quốc khác nhau.
Vấn đề được đặt ra là làm sao giải quyết khó khăn này. Không một giáo hoàng nào chịu từ chức, và các hồng y, giám mục cũng chia rẽ trong sự trung thành của họ. Một số thần học gia, tỉ như Jean Gerson, là hiệu trưởng Đại Học Ba Lê, trước đây chủ trương rằng thẩm quyền của một công đồng cao hơn thẩm quyền của đức giáo hoàng; và ngài đă triệu tập một công đồng để giải quyết vấn đề. Sau cùng Công Đồng Constance (1414-18) đă truất phế hai giáo hoàng, khuyến khích vị thứ ba từ chức, và tuyển chọn một giáo hoàng mới, Đức Martin V (1417), là người được toàn thể Giáo Hội công nhận. Cuộc đại phân ly chấm dứt, nhưng măi cho đến khi uy tín của đức giáo hoàng được khôi phục th́ sự phân ly mới thực sự kết thúc. Hậu quả của giáo triều Avignon và sự phân ly là không bao giờ chúng ta thấy được vị giáo hoàng thời Trung Cổ có uy thế như Đức Innôxentê III hoặc Boniface VIII. Nhiều Kitô Hữu bắt đầu coi công đồng có uy thế hơn đức giáo hoàng, nhưng điều này không đúng. Công Đồng Constance là một ngoại lệ, chứ không phải là quy tắc, được đưa ra như một phản ứng trước t́nh trạng nguy kịch của Giáo Hội. Sau công đồng này, các giáo hoàng tiếp tục xác nhận quyền bính và vai tṛ của các ngài trong Giáo Hội như trước đây.
3. Những Thử Thách của Giáo Hội. Các khó khăn hiển nhiên có liên hệ đến vấn đề giáo hoàng đă khiến một số người Công Giáo đặt vấn đề và có khi từ chối thẩm quyền của Giáo Hội. Một phê b́nh gia thức thời là John Wyclif (1330-84), một học giả của Oxford đă tấn công học thuyết về sự biến thể của Ḿnh Thánh và các tín điều khác. Mặc dù ông không nghiên cứu về Kinh Thánh, bản dịch của ông là một trong những công tŕnh nổi tiếng. Tư tưởng của Wyclif ảnh hưởng đến nhà cải cách Tiệp Khắc, John Hus (1369-1415). Hus là một linh mục Công Giáo bị vạ tuyệt thông năm 1412 v́ từ chối giáo huấn Công Giáo về các bí tích và thẩm quyền của đức giáo hoàng. V́ ông tấn công Giáo Hội Công Giáo, Công Đồng Constance đă ra lệnh thiêu sống ông vào năm 1445 v́ tội lạc giáo.
Sự chỉ trích Giáo Hội và việc nổi loạn chống với giới thẩm quyền ngày càng gia tăng về số lượng cũng như tính cách trầm trọng. Ngay cả một chi nhánh của ḍng Phanxicô mà họ tự cho là Linh Đạo Phanxicô đă tách khỏi Giáo Hội Công Giáo, v́ họ không thể chấp nhận quyền bính của Giáo Hội khi Ṭa Thánh giảm bớt tính cách khắt khe của quy luật Thánh Phanxicô về vấn đề sở hữu sách vở hay làm chủ tài sản. Họ tiên đoán Giáo Hội đă đến lúc tận cùng.
Một thử thách khác của Giáo Hội vào cuối thời Trung Cổ là sự suy thoái của thần học Kinh Viện mà trước đây đă từng đạt đến cao điểm trong thời Thánh Tôma Aquinas và John Duns Scotus. Mặc dù trong thời gian này cũng có các thần học gia sáng giá và thánh thiện, tỉ như Nicholas ở Cusa (1401-64) là người đă viết cuốn The Vision of God, nhưng nói chung thần học Tây Phương đang trên đà suy thoái. Các thần học gia không c̣n nghiên cứu Kinh Thánh và các Giáo Phụ, nhưng đă dành thời giờ để xem xét và b́nh luận về các nhận định của nhau. Nhiều người c̣n tham dự vào các cuộc tranh luận vô bổ -- tỉ như "bao nhiêu thiên thần có thể nhảy múa trên đầu một cây kim?" -- các tranh luận ấy kích thích trí tuệ nhưng làm nguội lạnh tâm hồn. Ngay cả xuất hiện một phái triết thần mới gọi là Nominalism (thuyết duy danh), do William ở Ockham (1280-1349) khởi xướng, muốn tách biệt các lănh vực của đức tin và lư lẽ thay v́ coi chúng hỗ tương nhau như Thánh Tôma Aquinas và các học giả Kinh Viện lỗi lạc khác từng chủ trương.
4. Thức Tỉnh Tâm Linh. Khi thần học và triết học ngày càng khô khan và tách khỏi đời sống con người th́ lại có khuynh hướng nh́n lại tâm hồn để t́m cách thức tỉnh tâm linh. Nổi tiếng vào cuối thời Trung Cổ là các nhà thần nghiệm Kitô Giáo, họ t́m cách đến với Thiên Chúa qua tâm hồn hơn là trí tuệ. Meister Eckhart (1260-1327), một tu sĩ Đaminh người Đức, là một trong các vị thần nghiệm đầu tiên và có ảnh hưởng nhất, tuy nhiên một số học thuyết của ông bị giới chức quyền Giáo Hội nghi ngờ. Một năm trước khi chết, năm 1326, Eckhart bị kết tội lạc giáo.
John Tauler (1300-61) và Henry Suo (1245-1366) cả hai đều là linh mục ḍng Đaminh và là môn đệ của Eckhart. Tauler chủ trương đời sống chúng ta phải phản ánh đời sống Ba Ngôi. Cuốn Sách Nhỏ Về Sự Khôn Ngoan Vĩnh Cửu của Suo được coi là sản phẩm tinh tuư nhất của khoa thần nghiệm Đức. Văn sĩ thần nghiệm John van Ruysbroeck (1293-1381) được một số người coi là vị thánh vĩ đại người Flemin. Anh Quốc cũng có thể tự hào về nhiều nhà thần nghiệm: Julian ở Norwich (1342-1416) viết cuốn Mặc Khải của T́nh Yêu Thiên Chúa; cuốn Bậc Tuyệt Hảo của Walter Hilton (c. 1395) là sự tŕnh bầy rơ ràng nhất và quân b́nh nhất của đời sống nội tâm vào cuối thời Trung Cổ.
Một phản ứng khác đối với sự nguội lạnh của thần học thời bấy giờ là phong trào Devotio Moderna, loại đạo đức mới, xuất hiện từ cuối thế kỷ mười bốn và lan sang thế kỷ mười lăm. Các sáng tác đạo đức thời ấy tránh tranh luận thần học nhưng lại không phải là loại thần nghiệm. Đó là một phương cách thực tiễn suy niệm về cuộc đời Chúa Giêsu theo một phương cách có thứ tự. Cuốn Gương Đức Kitô của Thomas à Kempis là một tác phẩm kinh điển của phái này. Gerard Groote (1340-84) là một trong những người hết sức cổ vơ phong trào đạo đức mới và khích lệ thành lập một tu hội đời được gọi là Anh Em của Đời Sống Chung, và ḍng Kinh Sĩ Thánh Augustine ở Windesheim. Một số ḍng tu khác đă canh tân vào thời kỳ này, tỉ như các tu sĩ Phanxicô Nghiêm Thủ dưới sự dẫn dắt của Thánh Bernadine ở Siena (c. 1444) và Thánh Gioan ở Capistrano (c. 1456). Một số ḍng của các đan sĩ Biển Đức và Kinh Sĩ Augustine cũng canh tân, kể cả ḍng mà Martin Luther gia nhập sau này.
Trong Kitô Giáo Đông Phương, một phương pháp cầu nguyện được gọi là hesychasm, hay cầu nguyện bằng con tim, trở nên phổ thông trong thế kỷ mười ba và mười bốn. Gregory Palamas (1296-1359), một vị thần nghiệm vĩ đại của Giáo Hội Đông Phương, và các người khác đă cổ vơ h́nh thức cầu nguyện này gồm việc lập đi lập lại cách liên tục tên Đức Giêsu (hoặc một lời nguyện ngắn như "Lạy Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót tôi"). Những lời nguyện ấy nhịp nhàng với hơi thở. Mục đích là cầu nguyện liên lỉ, luôn luôn nhắm đến Thiên Chúa. Một hợp tuyển văn bản của các Giáo Phụ Đông Phương thường được gọi là Philokalia làm nền tảng cho sự tu đức này.
Trong các vị thần nghiệm và thụ khải của cuối thời Trung Cổ có Thánh Jeanne d'Arc (1412-31). Ngay từ khi mười ba tuổi, thánh nữ đă được nghe tiếng các thiên thần và các thánh mà các vị ấy cho biết sứ vụ của thánh nữ là giúp vua Charles VII nước Pháp thoát khỏi sự kiềm tỏa của Anh. Tin rằng thị kiến của Jeanne d'Arc là có thật, nhà vua đă giao cho thánh nữ một đạo quân để tái chiếm các thành luỹ của Pháp. Trong một cuộc chiến, thánh nữ bị bắt và bị giáo quyền Anh kết án là lạc giáo và bị thiêu sống. Hai mươi lăm năm sau, thánh nữ được minh oan, và năm 1920, ngài được tuyên xưng là thánh. Thánh Jeanne d'Arc quả thật là vị thánh đặc biệt và ngoại lệ trong thời kỳ xáo trộn.
5. Những Nguyên Do Căn Bản Cuộc Cải Cách Tin Lành. Có những bùng nổ thức tỉnh tâm linh vào cuối thời Trung Cổ, nhưng thảm kịch dẫn đến cuộc Cải Cách là sự cải tổ và canh tân tâm linh ấy không ảnh hưởng ǵ đến ḍng sinh lực của Giáo Hội Công Giáo. Từ các giáo hoàng cho đến thường dân đều có những hành động cản trở sự canh tân. Các giáo hoàng phải đương đầu với sự phát sinh của chủ nghĩa dân tộc và phải đối phó với các thái tử, là những người chỉ cho phép Giáo Hội địa phương được thi hành sự cải tổ với một giá nào đó. Các giáo hoàng buộc phải kư kết các thoả ước với các quốc gia, và các nhà cầm quyền đạt được nhiều lợi nhuận trong việc thao túng Giáo Hội. Khi t́nh h́nh tài chánh của đức giáo hoàng ngày càng tệ hại, họ đă nghĩ ra các phương cách gia tăng lợi tức cho đức giáo hoàng và đă đưa đến các hậu quả thật xấu xa. Trong thời kỳ này, nhiều nhà cầm quyền thế tục cũng trở nên giám mục hay tu viện trưởng nhằm kiểm soát Giáo Hội và kiếm lợi tức. Các giáo hoàng t́m cách lấy lại tài chánh từ các nhà cầm quyền thế tục bằng cách gia tăng tiền thuế nộp cho đức giáo hoàng về các chức vụ trong giáo hội. Nếu các thái tử muốn kiểm soát Giáo Hội th́ ít nhất họ phải trả một giá nào đó. Thói buôn thần bán thánh này luôn luôn bị kết án là trái với luân lư. Một số nhà cầm quyền dân sự mua đến hai ba chức vụ trong Giáo Hội (pluralism) và họ không màng ǵ đến việc chăm sóc giáo dân nhưng họ thuê mướn người khác làm công việc này (absenteeism). Do đó, các giám mục trong Giáo Hội thường là những người giầu có hoặc thuộc giới quư tộc, họ không lo lắng ǵ đến Giáo Hội nhưng dùng chức vụ này để được lợi lộc cho ḿnh. Khi cần tài chánh, họ gia tăng lệ phí các trung tâm hành hương hoặc bán các ân xá. Ân xá được Giáo Hội ban phát như một đảm bảo cho người tín hữu khỏi phải chịu hậu quả của tội lỗi (tỉ như, h́nh phạt nơi luyện tội) sau khi chết. Lẽ ra ân xá được ban phát như để nh́n nhận đời sống tốt lành của người tín hữu, nhưng vào cuối thời Trung Cổ, ân xá được buôn bán như một món hàng. Tetzel là một tu sĩ ḍng Đa Minh chuyên môn bán ân xá đến độ Luther phải nổi nóng và chống đối Giáo Hội. Tetzel thường rêu rao rằng: "Khi đồng tiền leng keng rơi vào kho bạc th́ một linh hồn lại dzọt vào thiên đàng."
Hàng linh mục và phó tế của Giáo Hội Công Giáo cũng trở nên tồi tệ v́ thiếu giáo dục và thối nát khắp nơi. Nhiều tu sĩ nghèo và hủ hóa đă ăn ở với các phụ nữ bất kể luật độc thân của Giáo Hội. Ngay cả các ḍng Khất Thực cũng mất nhiệt huyết và trở nên chủ đề cho người đời châm biếm, các tu sĩ này bị mỉa mai là đối thủ của phường trộm cướp, và là các người ăn mày có chính nghĩa khi họ chỉ thích xin tiền chứ không muốn xin thực phẩm.
Giáo dân Công Giáo cũng không màng đến việc canh tân trong Giáo Hội. Đời sống đạo đức của họ là việc sùng kính bề ngoài đối với các thánh và Đức Maria, thích đi hành hương để được ân xá mà không cần hiểu biết chân lư căn bản của đức tin Kitô Giáo. Nếu các giám mục và linh mục lười biếng trong việc giảng dạy th́ không thể đổ lỗi cho người giáo dân là thiếu hiểu biết.
Làm thế nào Giáo Hội Công Giáo có thể cải tổ trong một t́nh trạng đáng buồn như vậy? Các giáo hoàng th́ bận tâm với vấn đề chính trị, và hầu hết các giáo hoàng từ giữa thế kỷ mười lăm trở đi, đều lưu tâm đến việc hỗ trợ phong trào Phục Hưng, là một làn sóng văn hóa và học thuật đang càn quét Âu Châu. Trong một khía cạnh nào đó, đây là điều rất tốt. Các giáo hoàng thời Phục Hưng muốn chứng tỏ rằng Giáo Hội luôn hậu thuẫn cho sự học hỏi, nghệ thuật, âm nhạc, và văn chương. Đức Giáo Hoàng Julius II đặt viên đá đầu tiên cho Đền Thánh Phêrô ở Rôma và thuê Bernini, Raphael, và Michaelangelo -- những nghệ nhân vĩ đại của thế giới thời ấy -- cung cấp các tác phẩm điêu khắc, hội họa, kiến trúc cho thánh đường. Tuy nhiên, phí tổn lớn lao này đă khiến các giáo hoàng không c̣n lưu tâm đến t́nh h́nh tâm linh kiệt quệ của Giáo Hội.
Một vài giáo sĩ và thái tử thúc giục các giáo hoàng tổ chức công đồng để canh tân Giáo Hội. Sau nhiều lần do dự, v́ sợ rằng công đồng sẽ cướp quyền của đức giáo hoàng hoặc sợ bị nhà cầm quyền dân sự kiểm soát, sau cùng Đức Giáo Hoàng Julius II đă triệu tập Công Đồng Latêranô V ở Rôma năm 1512. Công đồng chấm dứt năm 1517, dưới thời Đức Giáo Hoàng Lêô X, ngay khi sự Cải Cách Tin Lành bắt đầu nhen nhúm. Công đồng đă phê chuẩn nhiều sắc lệnh canh tân có thể ngăn chặn được cuộc Cải Cách Tin Lành, nhưng v́ sự thiển cận và tính cách trần tục của Đức Lêô X (làm giáo hoàng từ 1513 đến 1521) nên hầu hết các sắc lệnh cải tổ của công đồng đă không được thi hành. Ngoài ra, một số giám mục của Giáo Hội cũng không màng ǵ đến chuyện canh tân.
Chúng ta có thể tự hỏi tại sao không có người Công Giáo nào dám lên tiếng, đ̣i hỏi Giáo Hội phải cải tổ. Chắc chắn là có. Ngoài những người khởi đầu cuộc canh tân tâm linh và cải tổ ḍng tu, c̣n có một tổ chức Kitô Giáo được gọi là Humanist (Nhân Bản). Được dẫn đầu bởi học giả Erasmus ở Rotterdam (1465-1536), các thành viên Humanist là những trí thức Công Giáo, họ buồn v́ sự suy sụp của thần học Kinh Viện và sự gia tăng của phái Nominalist (hữu danh vô thực). Họ quyết định khôi phục tư duy Công Giáo đặt nền tảng trên Phúc Âm và văn bản của các Giáo Phụ. Erasmus sáng tác rất nhiều trong lănh vực này, cũng như cực lực châm biếm lối sống sai lạc của người Công Giáo. Tuy nhiên, sự trào phúng và châm biếm cũng như sự lỗi lạc của Erasmus không đủ để canh tân Giáo Hội. T́nh trạng Giáo Hội thời bấy giờ đă đến lúc mà chỉ có tính khí nóng nẩy và cực kỳ nghiêm trọng của Martin Luther mới khích động được việc cải tổ đến độ lung lay và chia cắt Kitô Giáo.
1. Martin Luther (1480-1546). Một sử gia đă viết: "Cuộc Cải Cách xảy ra không v́ Âu Châu quá trần tục mà là v́ quá đạo đức." Martin Luther, một người cục mịch thuộc thành phần nông dân Đức, đă phát sinh chủ thuyết tôn giáo lư tưởng của người dân Âu Châu. Ông cũng là một tu sĩ ḍng Augustine rất nghiêm nhặt và đă chăm chỉ học hành để trở thành một giáo sư Kinh Thánh của Đại Học Wittenberg nước Đức. Khi là tu sĩ, ông không có b́nh an khi cố gắng xóa bỏ mặc cảm tội lỗi qua sự sám hối và từ bỏ chính ḿnh, nhưng ông cảm thấy thoải mái khi nhận thức rằng con người được công chính hóa chỉ bởi ḷng tin, như Thánh Phaolô đă giải thích trong thư gửi tín hữu Rôma. Đây là yếu tố then chốt đă khiến Luther niêm yết Chín Mươi Lăm Luận Đề về Ân Xá lên cửa nguyện đường ở Wittenberg năm 1517. Ông phản đối người Công Giáo khi lệ thuộc vào công việc lành, dù bất cứ việc ǵ, kể cả ân xá, để được cứu độ và được tha tội.
Điều cay đắng của Cải Cách Tin Lành là hầu hết những ǵ Luther tin tưởng và chủ trương lại là các học thuyết chính trực của Công Giáo nhưng đă bị biến dạng bởi sự lạm dụng và thực hành sai lầm trong Giáo Hội, tỉ như bán ân xá và vụ lợi. Không may, sự chỉ trích của Luther về những hủ tục có thực này đă không được để ư đến. Đức Giáo Hoàng Lêô X chỉ ra lệnh cho vị bề trên của Luther phải sửa sai ông, coi đó như một tu sĩ phản loạn dám đặt lại vấn đề thẩm quyền ban ân xá của Giáo Hội.
Lúc đầu, Luther không có ư định từ bỏ Giáo Hội Công Giáo, nhưng ông cũng từ chối không rút lại các tuyên bố cho đến khi được điều trần trước một hội đồng. Năm 1519, ông đến Leipzig để gặp thần học gia Johannes Eck. Và Eck đă đưa đường chỉ lối cho Luther từ chối thẩm quyền của các giáo hoàng cũng như các công đồng, và coi Phúc Âm như nguồn thẩm quyền duy nhất. (Một trong những thành quả đáng kể sau này của Luther là việc chuyển dịch Phúc Âm sang tiếng Đức, nhờ đó, sau khi phát minh ra máy in, mỗi một người Tin Lành Luther đều có một quyển Phúc Âm bằng tiếng mẹ đẻ của ḿnh). Đến lúc này, Luther không c̣n coi ḿnh là một người Công Giáo nữa; do đó ông viết ba luận đề khước từ quyền bính của Giáo Hội Công Giáo và các giáo hoàng, tẩy chay các bí tích của Giáo Hội (ngo