GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TRƯỚC THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
(1650-1900)
Thế Giới Cận Đại
Từ giữa thế kỷ mười bảy cho đến nay là một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người, thường được gọi là thế giới cận đại. Thời gian này có ǵ khác biệt? Đời sống văn minh Tây Phương thay đổi v́ sự xuất hiện của ngành khoa học cận đại, một phương thức mới về triết lư chỉ dựa trên lư lẽ, và sự cải tiến hệ thống chính trị trên khắp Âu Châu mà đương nhiên nó đă ảnh hưởng đến hầu hết thế giới. Nền tảng xă hội Tây Phương lung lay tận gốc rễ. Giáo Hội Công Giáo và mọi Kitô Hữu phải chịu thử thách cùng cực mà nhiều khía cạnh của sự thử thách này vẫn c̣n kéo dài cho đến ngày nay.
1. Sự Xuất Hiện của Khoa Học và Kỹ Thuật.
Thế kỷ mười bảy và mười tám thường được gọi là Thời Đại Khai Sáng. Một khía cạnh của thời đại này là cái nh́n mới về vũ trụ. Nicholas Copernicus (1473-1543) cho rằng mặt trời là tâm điểm của hành tinh hệ và trái đất xoay chung quanh mặt trời. Mặc dù điều này đă đảo ngược quan điểm của nhà thiên văn học Hy Lạp là Ptolemy, ông Galileo Galilci (1564-1642) chứng minh rằng quan điểm của Copernicus là đúng. Ngành khoa học hiện đại về thiên văn được khai sinh. Sau đó không lâu, các người khác như Sir Isaac Newton và Robert Boyle, đă tiên phong trong các ngành khoa học mới về vật lư và hóa học. Những ngành này không những cách mạng hóa sự hiểu biết về thế giới vật chất mà c̣n khai sinh việc ứng dụng khoa học vào các vấn đề thực tế -- kỹ thuật học -- mà nó đă dẫn đến cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Anh và sau đó trên toàn Âu Châu. Các tiến bộ dựa trên khoa học và kỹ thuật đă trở nên mục tiêu chính của xă hội Tây Phương.
2. Triết Thuyết Mới.
Một khía cạnh khác của Thời Đại Khai Sáng là phương thức mới về triết học dựa trên lư lẽ con người. René Descartes (1596-1650) chủ trương rằng mọi ư niệm phải được thắc mắc hay nghi ngờ cho đến khi lư lẽ chứng minh là đúng. Triết thuyết này được gọi là Thuyết Duy Lư, nhấn mạnh đến khả năng lư lẽ của con người để t́m ra chân lư của mọi sự. Sau này, một số triết gia không chấp nhận việc đề cao lư lẽ và đề nghị các triết thuyết khác dựa trên, hoặc bao gồm cảm nghiệm của con người hoặc bao gồm quy luật tự nhiên có thể quan sát được của sự vật. Một điều mà hầu hết các triết gia này chủ trương là bất cứ loại đức tin nào, kể cả đức tin Kitô Giáo, đều bị tẩy chay, không được coi là một thành phần của triết học. V́ đối với họ, những ai đặt nền tảng đời sống hay tín ngưỡng vào đức tin th́ họ không được khai sáng và vẫn sống trong thời quá văng của sự tiến bộ con người.
3. Những Cảm Nghiệm Mới Trong Thể Chế Chính Trị.
Thế giới cận đại c̣n kinh qua các biến động chính trị khi chính quyền thi hành các h́nh thức cai trị mới hoặc bị người dân thúc ép. Ư tưởng một vị vua nắm quyền cai trị là do thần quyền đă bị tẩy chay. Các giáo hội Kitô Giáo ngày càng ít tích cực trong vai tṛ dẫn dắt và khuôn đúc sinh hoạt chính trị của các quốc gia Âu Châu. Thật vậy, Giáo Hội Công Giáo và các giáo hội Kitô Giáo khác thường trở thành nạn nhân của thủ đoạn chính trị của các nhà cầm quyền thế tục, hoặc các tổ chức tôn giáo được coi là lỗi thời và không c̣n chỗ đứng trong thể chế chính trị; ngay cả một số tổ chức đă bị đàn áp.
4. Sự Tục Hóa.
Một cách tổng quát, thời cận đại là thời kỳ Kitô Giáo ngày càng bị g̣ ép không được bày tỏ công khai và ít có ảnh hưởng trong sinh hoạt chính trị, văn hóa, và trí thức ở Tây Phương. Kitô Giáo chưa bị loại bỏ nhưng bị hạ cấp xuống mức độ sinh hoạt cá nhân. Tiến tŕnh tư hữu hóa tôn giáo và loại bỏ tôn giáo ra khỏi sinh hoạt chung của xă hội (kể cả chính trị, triết lư, khoa học, văn chương, nghệ thuật, truyền thông, và các khía cạnh khác) được gọi là tục hóa. Tiến tŕnh này vẫn tiếp tục, nhưng nó bắt nguồn từ thời đại được gọi là Khai Sáng của thế kỷ mười bảy và mười tám. Khi tiếp tục tŕnh bầy đời sống Giáo Hội Công Giáo từ thời kỳ này cho đến nay, chúng ta sẽ để ư đến phản ứng của Công Giáo đối với thời Khai Sáng và thế giới cận đại.
Từ 1650 đến Cách Mạng Pháp (1789)
1. Hấp Lực của Lư Lẽ.
Trong một phương cách nào đó, chính t́nh trạng Kitô Giáo trong thế kỷ mười sáu và mười bảy đă đưa đến thời Khai Sáng. Người dân Âu Châu đă quá mệt mỏi v́ chiến tranh tôn giáo, và một số triết gia lư luận rằng căn bản duy nhất để phục hồi sự hợp nhất và ḥa b́nh cho Âu Châu là t́m ra một sự ưng thuận chung, hoặc trong lư lẽ hoặc trong một "tôn giáo hợp lư" không c̣n các giáo điều gây chia rẽ. Immanuel Kant (1724-1804) viết, "Hăy can đảm dùng đến lư lẽ của bạn -- đó là châm ngôn của thời khai sáng." Một số triết gia, tỉ như Gottfried Leibniz của Đức (1646-1716), rất lạc quan về viễn ảnh của một "tôn giáo hợp lư" để tái hợp nhất Âu Châu. Huân tước Herbert ở Cherbury đưa ra năm đề nghị làm nền tảng cho tôn giáo mới của lư lẽ, thường được gọi là Deism (Thuyết Hữu Thần). Theo những người chủ trương, Thiên Chúa lập ra các quy tắc của vũ trụ và để nó chuyển động -- như người thợ đồng hồ lên giây cót -- nhưng sau đó, Ngài không trực tiếp can thiệp đến sự vận hành của tạo vật. Dĩ nhiên, chủ trương này trái ngược với sự tin tưởng của Kitô Giáo vào sự mặc khải, các phép lạ của Thiên Chúa, và sự nhập thể của Chúa Giêsu Kitô. Tuy vậy, một số người theo thuyết hữu thần vẫn tự nhận họ là Kitô Hữu.
Một số triết gia trực tiếp tấn công Giáo Hội Công Giáo và Kitô Giáo, nhất là nhà văn trào phúng kiêm triết gia Voltaire (1694-1778). Hơn bất cứ ai khác, Voltaire đă biến việc chế nhạo Kitô Giáo trở thành mốt thời đại và ông rất cay độc đối với Công Giáo. Hậu quả của điều đó là một tổ chức của giới thượng lưu vô tín ngưỡng, được gọi là Freemason (Tam Điểm), xuất hiện ở Pháp và thu hút được cả một số linh mục.
Một tấn công khác, không hiển nhiên nhắm đến Kitô Giáo, là khuynh hướng dùng khoa học để nghiên cứu Phúc Âm với kiểu cách phân tích và thẩm định như đối với bất cứ văn bản nào khác. Tự nó, phương cách này không có ǵ sái quấy, nhưng những người theo chủ thuyết yếm thế, tỉ như triết gia Pháp Pierre Bayle và các người khác, kết luận rằng Phúc Âm cũng không khác ǵ với các sách khác.
Giáo Hội Công Giáo phản ứng như thế nào với các thách đố tri thức này? Blaise Pascal (1623-62), một nhà toán học nổi tiếng của Pháp, đă lư luận chống với Descartes bằng việc nhấn mạnh đến phương cách mà Thiên Chúa đến với con người qua sự mặc khải, cảm nghiệm tôn giáo, và truyền thống cũng như lư lẽ. Ông tin ở "Thiên Chúa của Abraham, Isaac, và Giacóp... Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô;" chứ không phải các thần trừu tượng của triết gia. Ở Anh, cũng có nhiều người trong Anh Giáo bảo vệ chân lư Kitô Giáo, tỉ như Đức Giám Mục Joseph Butler. Không may, không có người Công Giáo nào ở Pháp hay bất cứ đâu có khả năng bác bẻ lại Voltaire, Diderot, và những triết gia sau này là những người làm suy yếu Kitô Giáo. Các giáo hoàng th́ kịch liệt tẩy chay lập trường coi Phúc Âm như bất cứ văn bản nào khác, v́ các ngài cho rằng đó là lời Chúa ban cho Giáo Hội chứ không chỉ là lời của con người.
2. Giáo Hội Công Giáo và Khoa Học.
Vào thời gian này, Giáo Hội Công Giáo hiểu Sáng Thế Kư dường như trái ngược với những khám phá thiên văn của Copernicus và Galileo. Vào những năm 1616 và 1623, Ṭa Thẩm Tra Rôma lên án những khám phá này, coi đó như một tấn công vào đặc tính không thể sai lầm của Kinh Thánh. Giáo Hội Công Giáo chưa phân định rơ ràng sự khác biệt giữa vấn đề lịch sử và khoa học trong Phúc Âm như ngày nay. Bây giờ, người Công Giáo hiểu rằng các tác giả của Phúc Âm không có ư định viết các sách ấy để dẫn giải các hiện tượng khoa học, hoặc để miêu tả các biến cố thực sự qua khung cảnh lịch sử. Nhưng, Phúc Âm dạy chúng ta về chân lư tôn giáo -- về sự tương giao giữa con người với Thiên Chúa và với đồng loại -- đó là chân lư không thể sai lầm. Chúng ta có thể hiểu tại sao Giáo Hội thời trước mơ hồ về vấn đề này, v́ lúc ấy khoa học cận đại và các phương pháp nghiên cứu lịch sử chỉ mới phát sinh.
Không may, các người yếm thế vẫn nêu lên việc kết án Galileo để chứng minh rằng Giáo Hội Công Giáo chống với khoa học, xa rời thực tế và thế giới cận đại. Tuy nhiên, nhà khoa học sử nổi tiếng Hung Gia Lợi là Cha Stanley Jaki nhận định rằng, khoa học và kỹ thuật hiện đại chỉ phát sinh một cách tự nhiên trong xă hội Tây Phương v́ trước đây nó là xă hội Kitô Giáo. Thay v́ chống đối khoa học, Kitô Giáo đă phát sinh ra khoa học, v́ Kitô Giáo đề cao sự hiểu biết của con người, và v́ muốn xúc tiến việc loan truyền tin mừng qua các phương tiện chính đáng, tỉ như sự phát triển ngành hàng hải của khoa học cận đại. Cha Jaki c̣n đưa ra các dẫn chứng về hàng giáo sĩ cao cấp của Công Giáo, mà họ đă dựa trên sự quan sát và lư lẽ để có những khám phá khoa học trước cả các khoa học gia ngoài đời thời Khai Sáng đến hai ba thế kỷ.
Ngoài nhận định trên, từ lâu Giáo Hội Công Giáo đă nhận thấy những giới hạn quan trọng của lư lẽ và khoa học mà thường bị bỏ quên, ngay cả ngày nay. Thứ nhất, các khoa học gia và triết gia đời là những người lạc quan đề cao khả năng của lư lẽ th́ họ thường từ chối hoặc bỏ qua thực tại của tội nguyên tổ. Học thuyết về tội nguyên tổ nói rằng lư trí của con người bị u mê, đến mức độ nào đó, bởi tội lỗi và sự ích kỷ. Lư trí được con người sử dụng, nhưng con người thường có thành kiến và sự suy đoán bị ảnh hưởng bởi tội nguyên tổ và tội cá nhân, do đó họ không thể nào khách quan và không thiên vị như họ lầm tưởng. Chỉ nhờ ơn Chúa và sự soi dẫn của đức tin Kitô Giáo mới có thể giúp lư trí chúng ta nh́n thấy chân lư rơ ràng hơn và sống xứng hợp với hoạch định của Thiên Chúa. Thứ hai, lư lẽ và khoa học có thể nói cho chúng ta biết thực thể đó là ǵ, nhưng chúng không thể cho biết mục đích tối hậu, hay ư nghĩa của những ǵ chúng ta nhận xét được hay khám phá ra. Thí dụ, các khám phá khoa học đă đạt được nhiều thành quả đáng kể, như trong lănh vực y khoa, nhưng các khám phá ấy cũng đưa nhân loại đến bờ vực hủy diệt của cuộc thi đua vũ khí nguyên tử. Chỉ có Kitô Giáo mới có thể đem lại một h́nh ảnh đầy đủ về mục đích của đời sống con người cũng như phương cách áp dụng những tiến bộ của lư trí và khoa học cho ích lợi thuần tuư của nhân loại.
Trong thời kỳ từ 1650 đến 1789, Giáo Hội Công Giáo chỉ mới bắt đầu h́nh thành các ư tưởng này. Cần phải mất một thời gian. Thay v́ cho phép chấp nhận một cách không hạn chế các lư lẽ và khám phá khoa học, quả thật Giáo Hội Công Giáo đôi khi đă lên án hoặc cảnh giác đối với một vài đề nghị của các triết gia và khoa học gia mà sau này mới biết là đúng. Đó là một phần trong sự khôn ngoan của Giáo Hội Công Giáo khi chậm chấp nhận một điều ǵ mới lạ. Bởi v́ rút lại điều cảnh giác hay một kết án th́ dễ hơn là ngăn chặn hoặc lên án một điều ǵ đă được phổ biến khắp nơi hay đă được chấp nhận trong Giáo Hội và xă hội. Nói cho cùng, sự kết án của đức giáo hoàng đối với các khám phá của Galileo không cản trở sự tiến bộ của khoa thiên văn cận đại, và một số khoa học gia vĩ đại của thế giới hiện đại là những người Công Giáo trung kiên.
3. T́m Kiếm Linh Đạo Công Giáo Đích Thực.
Ở Pháp, trong thế kỷ mười bảy có hai phong trào cho thấy người ta đang t́m kiếm một linh đạo Công Giáo đích thực vào thời ấy. Tuy nhiên, hai phong trào này cũng phản ảnh sự hoang mang thời bấy giờ, v́ sau cùng cả hai đều bị Giáo Hội Công Giáo kết án v́ một số lầm lạc.
Thuyết Jansen là một phong trào linh đạo ở Pháp được dẫn đầu bởi một vài linh mục, giáo dân, và một tu viện ḍng nữ ở Port Royal gần Balê. Phong trào này lấy tên của vị giám mục sáng lập là Cornelius Jansen, giám mục của Ypres, Ḥa Lan (c. 1638). Jansen từng viết rất nhiều về sự thối nát của bản tính con người bởi tội nguyên tổ đến nỗi Đức Giáo Hoàng Innôxentê X phải lên án một số đề nghị của Jansen vào năm 1653, và cho rằng Jansen nghiêng về thuyết Calvin. Tuy nhiên, những người hậu thuẫn Jansen cảm thấy rằng Jansen đă bị kết tội sai lầm. Họ nói, vấn đề thực sự là v́ Giáo Hội Công Giáo, nhất là ở Pháp, ngày càng thờ ơ và lỏng lẻo trong cái nh́n về tội, chứ Jansen không quá nghiêm khắc. Họ đưa ra phương cách tha tội của các linh mục ḍng Tên để chứng minh quan điểm của họ. Theo những người Jansen, các linh mục ḍng Tên không kêu gọi người ta ăn năn sám hối v́ sợ xúc phạm đến con người và luôn luôn nghĩ đến hoàn cảnh đặc biệt của từng trường hợp để có thể chước giảm tội lỗi người ta. Việc nghiên cứu những trường hợp này được phát triển thành một môn "khoa học" được gọi là "giải nghi học" (casuistry).
Sự chỉ trích này cũng có một vài giá trị, và Giáo Hội Công Giáo đă buộc phải kêu gọi người ta ăn năn sám hối nhiều hơn trong khi xưng tội. Tuy nhiên, những người theo Jansen cũng đă sai lầm khi quá lư tưởng hóa sự trọn lành và sự khắc khổ của đời sống, mà họ muốn đặt làm tiêu chuẩn cho mọi người Công Giáo. Trong suốt cuộc tranh luận, những người theo Jansen không luôn luôn phục tùng quyền bính của đức giáo hoàng hoặc hàng giám mục Pháp; và cho đến năm 1713 lư tưởng Jansen đă phải chấm dứt. Ngày nay, thuyết Jansen có thể tái diễn ở những người Công Giáo nào cảm thấy ḿnh quá tội lỗi, chỉ v́ quá tỉ mỉ hoặc quá khắt khe với lương tâm. Tuy nhiên, một cách tổng quát, có lẽ người Công Giáo ngày nay cần thận trọng đừng nghiêng về thái cực bên kia -- mà lương tâm quá dễ dăi đến độ không nhận ra được sự xấu xa và trầm trọng của tội lỗi để thường xuyên thành tâm sám hối và quay về với Đức Kitô.
Một lạc thuyết khác xuất hiện trong Giáo Hội Pháp vào thời kỳ này là Quietism (vô vi thuyết). Phát xuất từ các bài viết về linh đạo của Miguel de Molines người Tây Ban Nha, Quietism là một loại linh đạo cổ vơ sự hoàn toàn thụ động trước Thiên Chúa trong khi cầu nguyện. Theo thuyết này, Thiên Chúa được phép thi hành bất cứ điều ǵ trong khi chúng ta cầu nguyện, do đó tâm trí chúng ta không được vướng mắc bất cứ h́nh ảnh nào. Trước mặt Thiên Chúa, người ta cần phải thoát ra khỏi con người ḿnh đến độ họ không c̣n lo lắng ǵ nữa, ngay cả sự cứu độ của chính ḿnh. Các linh mục ḍng Tên, là những người cổ vơ sự tịnh niệm (sự hợp tác tích cực giữa tâm trí và trí tưởng trong khi cầu nguyện) đă lên tiếng đả kích phương cách này. Sau cùng Quietism đă bị đức giáo hoàng kết án v́ nó không cho phép sự cộng tác cần thiết của con người với ơn sủng và sự hoạt động của Thiên Chúa, và v́ Quietism không cho rằng người tín hữu phải khao khát ơn cứu độ.
Ngay cả trong thế giới hiện đại ngày nay mà một người trung b́nh, không phải triết gia hay khoa học gia, chưa biết ǵ đến Kitô Giáo và Công Giáo th́ họ vẫn cảm thấy thoải mái với đời sống cầu nguyện b́nh thường trong ḷng Giáo Hội Công Giáo. Làn sóng linh đạo của Giáo Hội Công Giáo c̣n được thể hiện trong giai đoạn này qua sự thành lập ba ḍng tu nam: ḍng Trappist (Xitô) kiểu đan viện năm 1664; ḍng Passionist (Thương Khó) truyền giáo và canh tân (1725); và ḍng Chúa Cứu Thế (1732).
4. Giáo Hội Công Giáo và Nhà Nước.
Trong thế kỷ mười tám, bề ngoài, Giáo Hội Công Giáo có vẻ vững mạnh và có ảnh hưởng, nhưng bên trong, ngọn lửa canh tân của cuộc Cải Cách Công Giáo đă tắt ngấm từ năm 1650, và sự suy yếu gây nên bởi thời kỳ Khai Sáng cũng như sự gia tăng các chủ nghĩa dân tộc bắt đầu lộ diện trong thế kỷ này. Các nhà cầm quyền các quốc gia Công Giáo trước đây -- Pháp, Tây Ban Nha, và Áo -- đă cố gắng chiếm thêm quyền bính của các giáo hoàng và của Giáo Hội Công Giáo, đôi khi họ đă thành công.
Ở Pháp, một phong trào được gọi là Gallicanism thực sự muốn thành lập một Giáo Hội Công Giáo tự trị mà trong đó đức giáo hoàng không có thẩm quyền ǵ và nhà vua thực sự cai trị. Vua Louis XIV, một ông vua chuyên chế, đă lèo lái việc thông qua bốn Đạo Luật vào năm 1682, trong đó từ chối mọi quyền bính của đức giáo hoàng ở nước Pháp. Đức Giáo Hoàng Innôxentê VI (c. 1689) đă chống đối vua Louis cho đến khi ngài từ trần, khiến nhà vua phải nhượng bộ với đức giáo hoàng kế vị. Ở Đức, một âm mưu tương tự nhằm kiểm soát các giáo hội.
Các hoàng tộc Bourbon và Habsburg, là những người cai trị ở Pháp, Tây Ban Nha và Áo, đă điều đ́nh được với các giáo hoàng để trao cho họ quyền bổ nhiệm các giám mục địa phương và họ có thể cấm phổ biến các sắc lệnh của đức giáo hoàng. Trong phần lớn thế kỷ 18, những hoàng tộc này đă thành công đưa các vị nhu nhược, dễ nhượng bộ lên ngôi giáo hoàng, ngoại trừ Đức Benedict XIV (1740-58). Khi Đức Giáo Hoàng Piô VI (1775-99) đến nước Áo để điều đ́nh với Hoàng Đế Joseph II nhằm giảm bớt các ngăn cấm Giáo Hội Công Giáo ở đây th́ đă bị hoàng đế đuổi về không tiếp. Người kế vị là Đức Giáo Hoàng Piô VII (1800-23) cũng không khá ǵ hơn khi Napoleon tự xưng là Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện vào năm 1804. Kể từ thời Trung Cổ, giáo triều đă bị giảm bớt quyền lực khi các giáo hoàng ban bố chính sách cho các hoàng đế cũng như khi tấn phong họ.
Có lẽ một thí dụ buồn thảm nhất về sự suy nhược của giáo triều và t́nh trạng xáo trộn của Giáo Hội Công Giáo vào cuối thế kỷ mười tám là việc Đức Giáo Hoàng Clêmentê XIV đóng cửa ḍng Tên vào năm 1773. Các tu sĩ ḍng Tên, là những người nổi tiếng trung thành với đức giáo hoàng, đă bị nhiều áp lực và bị tấn công trong suốt thế kỷ mười tám. Họ giữ vững lập trường thần học chống với các chủ thuyết thời Khai Sáng, do đó họ trở nên kẻ thù của giới trí thức. Các phương cách truyền giáo của họ ở vùng Viễn Đông, đưa đến việc hội nhập đạo Công Giáo vào các văn hóa truyền thống, đă bị điều tra từ năm 1633 và sau cùng bị kết án bởi các giáo hoàng từ 1715 đến 1742. Các làng Công Giáo mà họ thành lập ở Paraguay, Nam Mỹ, bị tấn công bởi các nhà cầm quyền Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha v́ các lư do chính trị. Sau cùng, một tổ chức mậu dịch với Tân Thế Giới do vị linh mục ḍng Tên người Pháp điều khiển phải sụp đổ, và ḍng Tên ở Pháp phải ngưng hoạt động để trả nợ. Bị áp lực từ mọi phía, Đức Giáo Hoàng Clêmentê đă đóng cửa ḍng Tên, hậu quả là sáu trăm cơ sở tôn giáo và hàng trăm trường học đă phải ngưng hoạt động, đồng thời trên hai mươi ngàn linh mục và tu sĩ ḍng Tên phải giải tán. Ḍng Tên, từng tiên phong trong cuộc Cải Cách Công Giáo và dẫn đầu việc truyền giáo ở khắp mọi nơi trên thế giới, bây giờ không c̣n nữa.
Đời sống Công Giáo tiếp tục, nhưng trong thế kỷ mười tám, uy tín và ảnh hưởng của Giáo Hội ở mức độ thấp nhất. Các giáo hội Tin Lành bắt đầu công cuộc truyền giáo ở khắp nơi (điều này nhờ ở sự suy tàn quyền lực của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp). Thách đố của các triết gia Khai Sáng chưa được thần học gia Công Giáo giải đáp cách thoả đáng th́ lại có nhu cầu cải tổ và canh tân các ḍng tu Công Giáo. Trong điều kiện ấy, Giáo Hội Công Giáo ở Pháp, từng bị thử thách bởi các phong trào Gallicanism, Jansenism, Quietism, và việc đàn áp Ḍng Tên, giờ đây lại bị thử thách lớn lao nhất, đó là Cách Mạng Pháp.
Cách Mạng Pháp
Trong nhiều khía cạnh, cuộc Cách Mạng Pháp là cao điểm của thời Khai Sáng. V́ sự khủng hoảng tài chánh ở Pháp, một đại hội đồng được triệu tập mà trong đó thường dân (Giai Cấp Thứ Ba) đă lật đổ Vua Louis XIV và thành lập chính phủ cách mạng. Hàng giáo sĩ Pháp (Giai Cấp Thứ Nhất) ủng hộ cuộc cách mạng này và được chính phủ mới đăi ngộ trong thời gian đầu. Tuy nhiên, vào năm 1790, chính phủ mới ở Pháp đ̣i hỏi mọi giám mục, linh mục phải thề trung thành một cách vô điều kiện với chế độ mới, nếu không họ sẽ bị cách chức. Bản Hiến Pháp Dân Sự của Giáo Sĩ là một tấn công lộ liễu vào sự tự do của Giáo Hội Công Giáo và quyền bính của giáo triều. Đức giáo hoàng giữ im lặng trong tám tháng, trong khi đó khoảng một nửa số giáo sĩ đă tuyên thệ -- với hy vọng rằng không có ảnh hưởng nhiều trên thực tế -- và một nửa từ chối không tuyên thệ v́ muốn trung thành với Giáo Hội. Sự chia rẽ này khiến Giáo Hội Công Giáo Pháp rất hoang mang và xáo trộn, nhất là năm 1792, khoảng ba mươi đến bốn mươi ngàn linh mục là những người từ chối không tuyên thệ đă phải trốn tránh hoặc bị trục xuất; nhiều người sau đó đă bị tử h́nh khi Cách Mạng Pháp ngày càng có thế lực vào năm 1793.
Bước kế tiếp của cuộc cách mạng là trong năm 1793, chính phủ bắt đầu tẩy trừ tính chất Kitô Giáo của Pháp bằng cách thiết lập một tôn giáo mới. Mọi ngày lễ Công Giáo đều bị cấm, kể cả ngày Chúa Nhật, và mọi nhà thờ Công Giáo bị biến thành các Đền Thờ Lư Lẽ. Một bức tượng Nữ Thần Lư Lẽ được dựng trong Vương Cung Thánh Đường Notre Dame ở Balê. Sau này, chính phủ thấy tôn giáo của lư lẽ gần giống như vô thần nên Robespiere đă khởi xướng Giáo Phái Đấng Tối Cao, có tin vào Thiên Chúa nhưng không có tín điều. Deism (Thuyết Hữu Thần) trở nên tôn giáo chính thức của Pháp, mà trước đây là một quốc gia Công Giáo.
Tuy nhiên, đức tin chân chính của người dân không thể đàn áp được. Sau khi tính chất mới mẻ của các giáo phái này không c̣n hấp dẫn, vào năm 1795 chính phủ cho phép tự do tôn giáo và các nhà thờ Công Giáo đă ào ạt mở cửa lại. Khi Napoleon lên ngôi vào năm 1796, ông phải thương lượng với đức giáo hoàng. Đức Giáo Hoàng Piô VI từ trần trong thời gian Napoleon cầm tù ngài, nhưng vị tân giáo hoàng, Đức Piô VII là nhà lănh đạo cứng rắn dám chống lại Napoleon và nhất quyết không chịu nhượng bộ các quyền lợi của Giáo Hội Công Giáo. Napoleon và Đức Piô VII đă kư một thoả ước vào năm 1801 nhằm tái lập Giáo Hội Công Giáo ở Pháp và chấm dứt việc chia cách giữa hàng giáo sĩ đă tuyên thệ và không tuyên thệ. Tuy nhiên, Napoleon vẫn t́m cách kiểm soát Giáo Hội Công Giáo và đức giáo hoàng, nhưng Đức Piô VII chứng tỏ sức mạnh của ḿnh bằng cách không chiều theo ư đồ của Napoleon, ngay cả khi ngài bị Napoleon cầm tù ở Pháp trong sáu năm (1808-14). Dưới áp lực chính trị, vào năm 1814, Napoleon đă phải trả tự do cho đức giáo hoàng, và ngài về lại Rôma giữa tiếng reo mừng chiến thắng. Sau đó ít lâu, Napoleon bị lật đổ và lưu đầy ở Elba trong khi Giáo Hội Công Giáo Pháp được phục hồi và quyền bính của đức giáo hoàng được tái xác nhận.
Đâu là bài học và hậu quả của cuộc Cách Mạng Pháp? Thứ nhất, nó cho thấy ảnh hưởng lớn lao của thời Khai Sáng. Thật bàng hoàng khi một quốc gia từng là Công Giáo trên một ngàn năm lại có thể trở thành vô thần sau một thời gian quá ngắn ngủi. Tuy nhiên, cuộc Cách Mạng Pháp đă cho thấy tư duy Khai Sáng thực sự phiếm diện là chừng nào. Một số triết gia hay người cấp tiến có thể tin vào Tôn Giáo của Lư Lẽ, nhưng người dân không bao giờ từ bỏ đức tin Công Giáo và họ vui mừng khi được trở lại với đức tin đó.
Thứ hai, thời Khai Sáng đă để lại một vết thương đau trên Giáo Hội Pháp mà ngày nay vẫn c̣n thấy ở Pháp và ngay cả ở Âu Châu. Đó là tâm trạng chống đối giáo sĩ hiện vẫn c̣n như một hậu quả của sự chia rẽ. Phong trào tục hóa vẫn tiếp tục tràn lan ở Pháp và mọi nơi. Ở Pháp, việc xuất hiện các án li dị dân sự, hôn nhân dân sự, và hệ thống trường đời (công) là những biểu hiện của cách mạng.
Thứ ba, thanh danh và quyền bính của đức giáo hoàng bắt đầu được phục hồi. Sự quả cảm của Đức Giáo Hoàng Piô VII chống với Napoleon đă được mọi người Công Giáo ở khắp nơi thán phục. Trong một thời đại mà xă hội và chính quyền luôn luôn bất ổn và xáo trộn, người Công Giáo bắt đầu ngày càng nh́n đến đức giáo hoàng nhiều hơn để thêm phấn khởi, thêm sức mạnh và được hướng dẫn. Sự nhấn mạnh đến quyền bính và sự lănh đạo của đức giáo hoàng được gọi là thuyết giáo hoàng toàn quyền. Thuyết này này được tiếp tục trong Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ mười chín.
Thế Kỷ Mười Chín và Chủ Nghĩa Tự Do Chính Trị
V́ sự thất bại ê chề của Cách Mạng Pháp, trong ba mươi năm đầu của thế kỷ mười chín, hầu hết các quốc gia ở Âu Châu đều có những biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn những hậu quả tương tự. Các vua người Bourbon phục hồi được quyền bính ở Pháp, và các nhà cầm quyền cứng rắn, chuyên chế được thiết lập khắp Âu Châu. Trên thực tế, đây là giai đoạn cuối cùng của một thể chế và xă hội đang bị đào thải. Thời đại vua chúa và chế độ chuyên chế ở Âu Châu không bao lâu đă được thay thế bằng chính thể đại nghị như đă được thiết lập ở Hoa Kỳ, cho phép sự hợp tác chính trị cũng như sự tự do phát biểu trong nhiều lănh vực. Điều này có nghĩa sự liên minh giữa Giáo Hội và nhà nước -- từng xuất hiện ở Âu Châu từ thời Constantine -- nay đă đến lúc kết thúc.
Câu hỏi quan trọng của Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ mười chín có liên quan đến thái độ của giáo hội đối với sự thay đổi lớn lao trong xă hội. Chủ nghĩa tự do là danh từ tổng quát dùng để chỉ một khuynh hướng muốn thay đổi và thiết lập một trật tự mới. Chủ nghĩa tự do trong chính trị cổ vơ hiến pháp hoặc các chính thể đại nghị (thay v́ chế độ quân chủ), sự khoan dung của tôn giáo, sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước, và tự do báo chí và giáo dục. Người Công Giáo chống với chủ nghĩa tự do chính trị v́ họ sợ lại tái diễn cảnh hỗn loạn và vô trật tự của thời Cách Mạng Pháp và sự đàn áp Giáo Hội. Họ cũng mạnh mẽ chống đối tự do lương tâm, tự do báo chí, và tự do giáo dục v́ không muốn các ư tưởng và lạc thuyết lại được coi ngang hàng với chân lư. Những người Công Giáo bảo thủ hoặc "toàn bộ" (integralist) muốn duy tŕ sự liên minh giữa Giáo Hội và nhà nước để chỉ có chân lư Công Giáo là được chính phủ bảo vệ và duy tŕ. Một thị trường tự do mà trong đó chân lư ngang bằng với sự lầm lạc th́ không có ǵ hấp dẫn đối với họ.
Lúc đầu, chỉ có một vài người Công Giáo hỗ trợ chủ nghĩa tự do chính trị, v́ nó quá khác biệt với kiểu cách xă hội đă từng tiến hành trong bao thế kỷ. Năm 1830, vị linh mục Pháp là Felicite de Lamenais (1782-1854) bắt đầu ủng hộ các quyền tự do chính trị như một cách để giải thoát Giáo Hội Công Giáo khỏi sự ràng buộc chính trị và để giúp giáo hội có thể theo đuổi các sứ vụ thiêng liêng. Tuy nhiên, Lamenais là nhà ngôn sứ đi trước thời đại. Khi ngài đến Rôma để t́m sự hậu thuẫn cho lập trường của ḿnh, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI (làm giáo hoàng từ 1831 đến 1846), thay v́ ủng hộ đă lên án chủ nghĩa tự do chính trị trong sắc lệnh Mirari Vos (1832). Theo quan điểm của đức giáo hoàng, chủ nghĩa tự do có liên quan với triết thuyết hoài nghi thời Khai Sáng, và ngài đă từng gặp khó khăn với các cuộc cách mạng chính trị tự do ngay ở quốc gia Vatican.
Trong khoảng 1830, ở Âu Châu (Bỉ) và Nam Mỹ, nhiều cuộc cách mạng thành công đă tạo lập được các chính thể hợp hiến, do đó khi Đức Piô IX (1814-78) lên ngôi giáo hoàng năm 1846, ngài có khuynh hướng thuận lợi với các lực lượng hỗ trợ sự tự do chính trị. Một số người Công Giáo và các nhà cầm quyền thế tục đă bàng hoàng khi thấy một người theo chủ nghĩa tự do lên ngôi giáo hoàng. Tuy nhiên, khi một số lực lượng cách mạng giết vị tổng giám mục ở Balê, và một số khác ép buộc vị tân giáo hoàng phải ra khỏi nước Ư sau khi được đắc cử, Đức Giáo Hoàng Piô IX tin rằng chủ nghĩa tự do chính trị th́ nguy hiểm đối với Giáo Hội và xă hội, và ngài giữ lập trường cứng rắn chống đối chủ nghĩa này. Khi lực lượng Pháp giúp Đức Giáo Hoàng Piô IX trở về Rôma năm 1850, ngài phải trường kỳ tranh đấu với các lực lượng hỗ trợ các chính thể hợp hiến và các quyền tự do chính trị. Chính sau một hành động quân sự mà Đức Giáo Hoàng Piô IX đă mất chủ quyền của Vatican vào năm 1870, đồng thời cũng chấm dứt một giai đoạn lâu dài mà Giáo Hội Công Giáo được coi như một lực lượng chính trị ở Âu Châu.
Điều được coi là thảm kịch dưới ánh mắt của đức giáo hoàng và nhiều người Công Giáo -- mất chủ quyền Vatican và các chính thể hợp hiến tự do ngày càng gia tăng -- th́ điều đó lại trở nên một phúc lành và một cơ hội cho Giáo Hội Công Giáo. Như Cha Lamenais đă tiên đoán, khi liên minh chính trị giữa Giáo Hội và nhà nước chấm dứt, Giáo Hội Công Giáo có thể tập trung vào sứ vụ thiêng liêng một cách rơ rệt hơn. Trong thế kỷ mười chín, trên toàn Âu Châu, Giáo Hội Công Giáo đă mất đi hàng ngàn mẫu đất và biết bao đan viện cũng như cơ sở qua phong trào tục hóa (chính phủ tiếp thu) tài sản của Giáo Hội. Hệ thống chính thể mới, một cách tổng quát, đă đưa đến một Giáo Hội Công Giáo nghèo hơn về tài chánh và ít uy thế về chính trị. Tuy nhiên, thay v́ tiêu diệt Giáo Hội, điều này lại giúp Giáo Hội Công Giáo hướng về sứ vụ và thẩm quyền thiêng liêng của ḿnh.
Giáo Hội Công Giáo và Chủ Nghĩa Tự Do Trí Thức
Ở Anh và Đức trong thế kỷ mười chín, một nhóm Công Giáo xuất hiện mà chúng ta có thể gọi là các nhà trí thức tự do. Họ mong muốn đức tin Công Giáo có thể được thẩm định và tŕnh bầy dưới ánh sáng của triết lư cận đại, tiến bộ khoa học, và các phương pháp mới của nghiên cứu sử. Một số học giả Công Giáo thuộc Đại Học Tubingen ở Đức t́m cách canh tân thần học Công Giáo trong tinh thần này. Họ nh́n đến Giáo Hội và các học thuyết, không chỉ trong h́nh thức bất động và bất biến, nhưng sống động, sôi nổi, và phát triển -- như sinh hoạt con người. Một vài người trong nhóm này, tỉ như Johann A. Mohler (1796-1838) và Friedrich von Schlegel (c. 1829), có ảnh hưởng lớn trong thần học Công Giáo của thế kỷ hai mươi. Ở Anh, Lord John Acton và John Henry Newman -- người trở lại Công Giáo sau khi lănh đạo Phong Trào Oxford, một phong trào canh tân Anh Giáo -- cả hai đều mong muốn một cách hiểu biết mới về thần học Công Giáo mà vừa nhấn mạnh đến sự phát triển của truyền thống Công Giáo vừa sẵn sàng đón nhận các tư duy mới của Công Giáo.
Các giáo hoàng và các vị lănh đạo Giáo Hội Công Giáo được hiểu là rất thận trọng về phương cách mới mẻ này. Họ sợ rằng nó có thể bị t́ tích của chủ thuyết duy lư và hoài nghi của thời Khai Sáng và có thể lũng đoạn đức tin Công Giáo. Thật vậy, Đức Giáo Hoàng Piô IX quá lo sợ những tư tưởng lầm lạc xâm nhập vào Giáo Hội Công Giáo đến nỗi vào năm 1864 ngài đă cho công bố Bản Cáo Trạng của thế giới cận đại. Ngài thấy người Công Giáo hoang mang v́ tranh chấp chính trị, kinh tế, xă hội, và các ư tưởng về tôn giáo lan tràn khắp xă hội Âu Châu như một hậu quả của tự do tư tưởng, và ngài tin rằng trách nhiệm của một giáo hoàng là dạy bảo cộng đồng dân Chúa một cách rơ ràng. Không may, Bản Cáo Trạng lên án hầu hết các ư tưởng mới mẻ của thời ấy và đă khiến người ta nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo chống đối tất cả những ǵ của thế giới cận đại. Thật vậy, điều tuyên bố sau cùng của Cáo Trạng đă tẩy chay và lên án những ai tin tưởng rằng Giáo Hội Công Giáo phải tự ḥa hợp với "sự tiến bộ, chủ nghĩa tự do, và văn minh cận đại." Mặc dù nhiều nhà lănh đạo Công Giáo đă mau mắn giải thích rằng điều này không có nghĩa là lên án tất cả những ǵ mới mẻ và hiện đại, nhiều người đă có ấn tượng ấy. Giáo Hội Công Giáo giống như một giáo đường có thành lũy, chống với thế giới cận đại và tẩy chay mọi tư tưởng mới.
Đức Giáo Hoàng Piô IX và Công Đồng Vatican I
Trong bản cáo trạng các sai lầm hiện đại, Đức Giáo Hoàng Piô IX thường nhắc nhở người Công Giáo rằng họ phải nh́n về Giáo Hội của Đức Kitô để được hướng dẫn và t́m kiếm sự thật chứ không phải trông nhờ vào thế giới cận đại. Ngài nhận thấy xă hội nói chung, v́ không c̣n được hướng dẫn bởi tinh thần quyền bính của Giáo Hội Công Giáo, nó đă trở nên một diễn đàn công khai của mọi ư kiến, tốt cũng như xấu. Đức giáo hoàng muốn giáo dân nhớ rằng Thiên Chúa đă đảm bảo mặc khải chân lư cho Giáo Hội, chứ không phải ư kiến công cộng hay các ư tưởng mới mẻ của các học giả.
Đức Giáo Hoàng Piô IX t́m cách làm sáng tỏ một vài quan điểm của đức tin Công Giáo đang được thắc mắc và tranh luận. Thí dụ, vào năm 1854, ngài chính thức xác định một tín điều là Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được thụ thai mà không mắc tội tổ tông -- tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tín điều này được xác nhận một cách lạ lùng khi chính Đức Maria hiện ra với cô Bernadette Soubirous ở Lộ Đức, nước Pháp, vào năm 1858, và tự xưng là "Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội." Mặc dù người Công Giáo không buộc phải tin sự hiện ra của Đức Maria, hầu hết người Công Giáo đă nh́n đến hàng ngàn trường hợp chữa lành qua nước suối Lộ Đức như một minh chứng cho tính cách xác thực của việc hiện ra.
Trong Công Đồng Vatican I ở Rôma năm 1869, Đức Giáo Hoàng Piô IX kêu gọi các giám mục Công Giáo hăy cùng nhau thảo luận về tương quan giữa đức tin và lư lẽ, và về quyền tối cao cũng như giáo huấn bất khả ngộ của đức giáo hoàng. Công đồng đă thông qua hai hiến chế tín lư. Hiến chế tín lư Dei Filius đề cập đến thẩm quyền tối cao của sự mặc khải Thiên Chúa và dạy rằng bản tính tự nhiên và lư lẽ của con người th́ lệ thuộc vào ơn sủng và đức tin. Hiến chế tín lư thứ hai, Pastor Aeternus, về quyền tối cao và đặc tính bất khả ngộ của đức giáo hoàng, đă gây nên nhiều tranh luận. Dù người Công Giáo từ lâu đă tin tưởng vào hai ư niệm này, một số giám mục nghĩ rằng, trong thời gian đó, quyết định ấy sẽ làm chia rẽ Giáo Hội thêm nữa. Tuy nhiên, phần lớn các giám mục đă bỏ phiếu chấp thuận hiến chế tín lư này. Họ biết rằng vai tṛ lănh đạo và thẩm quyền giảng dạy của đức giáo hoàng, từng là nguồn hướng dẫn căn bản cho Giáo Hội trong những lúc xáo trộn của quá khứ, th́ đặc biệt cần thiết cho thế giới cận đại. Hiến chế tín lư này khẳng định rằng khi đức giáo hoàng lên tiếng ex cathedra (nghĩa đen, "từ ngai ṭa" Thánh Phêrô), nghĩa là, khi lên tiếng với tư cách chủ chăn của Giáo Hội và là đấng kế vị Thánh Phêrô, ngài được Chúa Thánh Thần ban cho ơn chân lư không thể sai lầm khi chính thức xác định một học thuyết về đức tin hay luân lư. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa bất cứ những ǵ đức giáo hoàng nói đều là bất khả ngộ. Tuy vậy, người Công Giáo thường cho rằng ngay cả các giảng dạy thông thường của đức giáo hoàng th́ đều đúng và có giá trị.
Vào năm 1870, Công Đồng Vatican I phải chấm dứt cách đột ngột v́ cuộc chiến giữa nước Pháp và nước Phổ. Công đồng phải đ́nh hoăn trước khi các giám mục thảo luận về vai tṛ của họ trong Giáo Hội cũng như vai tṛ của giáo dân và tu sĩ. Hậu quả là Giáo Hội Công Giáo trong khoảng thời gian từ 1870 đến Công Đồng Vatican II đă quá nhấn mạnh đến chức vụ và thẩm quyền của đức giáo hoàng, thiếu những nhận định quân b́nh về các giám mục, linh mục, và giáo dân. Chức vụ của đức giáo hoàng đi từ t́nh trạng cực kỳ suy yếu và thiếu thẩm quyền thiêng liêng trong thế kỷ mười tám sang một t́nh trạng thẩm quyền thiêng liêng và luân lư lớn lao vào giữa thế kỷ mười chín. Đức Giáo Hoàng Piô IX, là người trị vị lâu nhất trong lịch sử giáo hội, đă góp phần lớn cho sự thay đổi này.
Sự Tiến Bộ Tâm Linh Trong Thế Kỷ Mười Chín
Có lẽ thành quả lớn lao nhất của Đức Giáo Hoàng Piô IX là làm sâu đậm thêm và canh tân đời sống tâm linh của người Công Giáo. Ngài khuyến khích việc năng lănh nhận các bí tích, sùng kính Đức Maria và Thánh Tâm Chúa Giêsu, và trên hết ngài nhấn mạnh đến tính cách trọng yếu của Đức Giêsu Kitô -- là Thiên Chúa thật và là người thật. Đức Piô nhận thấy câu trả lời tốt nhất cho các xu hướng duy lư thời Khai Sáng là nhấn mạnh rằng Kitô Giáo là một tôn giáo của con tim cũng như của trí huệ. Ngài giúp người dân tái khám phá ra bản chất bí tích của đời sống Công Giáo và tính chất xác thực của siêu nhiên.
Vào đầu thế kỷ, Đức Giáo Hoàng Piô IX đă tái lập Ḍng Tên vào năm 1814, mà ḍng này đă thu hút rất nhiều người trẻ. Các ḍng mới khác cũng được thành h́nh, tỉ như Marianist (ḍng Đức Maria), Marist (ḍng Truyền Giáo Đức Maria), ḍng La San, Nữ Tu Bác Ái, Nữ Tu Loretto, ḍng Thánh Phaolô, ḍng Don Bosco, ḍng Ngôi Lời, và White Father (ḍng Áo Trắng). Các ḍng này đă cộng tác trong nhiều sứ vụ về xă hội và mục vụ, giáo dục và công cuộc truyền giáo. Một lần nữa, các ḍng tu mới thành lập và các ḍng tu hồi sinh lại trở nên yếu tố then chốt cho sự canh tân của toàn thể Giáo Hội Công Giáo. Tổ chức Truyền Giáo Nước Ngoài được tái thiết lập vào năm 1815, và với sự giúp đỡ đắc lực của các linh mục ḍng Tên, sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo lại sống động trở lại. Trong thời kỳ của Đức Giáo Hoàng Piô IX, số thành viên của ḍng Tên đă gia tăng gấp đôi, và các chủng viện cũng như đan viện của mọi ḍng đều đầy ắp các chủng sinh.
Bất cứ sự chỉ trích nào về thái độ của Đức Giáo Hoàng Piô IX đối với thế giới cận đại đều phải được nh́n dưới khía cạnh của sự đổi mới lớn lao trong đức tin và đời sống Công Giáo qua các chính sách của ngài. Thế kỷ này không chỉ là một giai đoạn đầy thử thách nhưng c̣n là sự tái thức tỉnh đức tin Công Giáo nhờ sự dẫn dắt của đức giáo hoàng cũng như các vị đại thánh. Thánh Gioan Vianney (1786-1859), Cha Sở họ Ars, là một linh mục tài ba có thể đọc được tâm hồn người khác. Thánh Clement Hofbauer là một linh mục ḍng Chúa Cứu Thế đă hồi sinh Giáo Hội ở miền nam nước Đức. Ở Hoa Kỳ, Giáo Hội Công Giáo, qua sự di dân từ các quốc gia Công Giáo Âu Châu, đă phát triển thành một tổ chức Kitô Giáo lớn nhất quốc gia trong hậu bán thế kỷ mười chín. Mặc dù Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ đă bị bách hại và bị tẩy chay, và hầu như mọi năng lực đều được dùng để thiết lập giáo hội và tự vệ, giáo hội này cũng có các vị thánh nổi tiếng: John Neumann, Elizabeth Seton, Frances Cabrini, và vị chân phước người thổ dân là Kateri Tekakwitha.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIII
Là người kế vị Đức Piô IX, Đức Lêô XIII (làm giáo hoàng từ 1878 đến 1903) đă t́m cách khôi phục vai tṛ lănh đạo của giáo hoàng và ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo trong cái nh́n của thế giới cận đại. Mặc dù không phải là một người theo chủ nghĩa tự do, Đức Lêô XIII là một nhà ngoại giao đă nhận thấy phương cách duy nhất để ngăn ngừa Giáo Hội Công Giáo khỏi trở thành một yếu tố xa lạ trong thế giới cận đại là t́m cách ḥa hợp Giáo Hội với xă hội và học thuật hiện đại. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đă thi hành một số phương cách trong chiều hướng này. Trước hết, ngài nâng Đức Giám Mục John Henry Newman lên làm hồng y. Trước đây, Đức Newman từng bị coi là một người nguy hiểm theo chủ nghĩa tự do. Đức Giáo Hoàng Lêô biết khi vinh danh Đức Newman th́ Giáo Hội Công Giáo ở Anh cũng được khích lệ. Thứ hai, Đức Lêô hết sức cố gắng để làm bạn với chế độ dân chủ và các chính thể hợp hiến mới thay v́ chỉ lên án các sai lầm của họ. Thứ ba, ngài cho mở cửa văn khố Vatican để mọi người có thể tự do nghiên cứu -- dường như ngài muốn khuyến khích người Công Giáo theo đuổi việc nghiên cứu lịch sử và hài hoà thần học Công Giáo với các phương thức chú giải Kinh Thánh. Thứ tư, một trong những đóng góp ngoại hạng của Đức Lêô XIII là lập trường về vấn đề xă hội và kinh tế thời bấy giờ. Trong thông điệp Rerum Novarum (1891), Đức Giáo Hoàng Lêô bảo vệ sự công bằng và đề cao điều kiện làm việc tốt đẹp hơn cho giới lao động, ngài muốn nói người Công Giáo phải đóng vai tṛ tích cực trong việc giải quyết các khó khăn và bất công mà cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ đem lại. Rerum Novarum là thông điệp đầu tiên trong các văn kiện vĩ đại của Công Giáo về vấn đề xă hội.
Trong hai lănh vực, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII cảm thấy cần phải duy tŕ truyền thống Công Giáo về giáo huấn và đời sống. Vào năm 1879, ngài tuyên bố hệ thống thần học của Thánh Tôma Aquinas (1225-74) được dùng làm nền tảng để duyệt xét mọi thần học và triết học Công Giáo. Điều này làm phát sinh Tân Học Thuyết Tôma và Tân Học Thuyết Kinh Điển, làm sống lại tư duy của Thánh Tôma Aquinas và các đại học thời trung cổ. Nhất là trong các đại chủng viện, thần học của Thánh Tôma là hệ thống thần học chính thức của Giáo Hội Công Giáo măi cho đến thời Công Đồng Vatican II, và ngày nay vẫn c̣n được nhiều người quư trọng.
Đức Giáo Hoàng Lêô c̣n áp dụng kỷ luật đối với một số phong trào và giáo chức đă có những kết luận sai lạc hoặc nguy hiểm qua các phương pháp nghiên cứu phúc âm và lịch sử. Cha Alfred Loisy đă bị cách chức giáo sư của Đại Học Balê năm 1893; cùng năm này Đức Giáo Hoàng Lêô XIII công bố một tông thư (Providentissimus Deus) xác nhận tính cách không thể sai lầm của Phúc Âm nhằm chống với sự dẫn giải có tính cách duy lư. Năm 1899, ngài cũng kết án một lạc thuyết gọi là Americanism coi các đức tính tích cực và nhân bản có giá trị hơn các nhân đức siêu nhiên, tỉ như đức ái và đức khiêm tốn.
Đức Lêô XIII đă thành công trong việc tái ḥa hợp Giáo Hội Công Giáo với thế giới cận đại và đối phó một cách sáng tạo với những thách đố mới. Ngài cổ vơ các phương cách nghiên cứu cũng như hệ thống thần học mới trong khi tái xác nhận giá trị của thần học truyền thống Công Giáo và ǵn giữ khỏi bị những sai lạc hiện đại. Trông cậy vào sức mạnh của Thiên Chúa và nhờ vào ảnh hưởng mới khôi phục của giáo triều, nhất là của người Công Giáo, Đức Lêô XIII đă dẫn đưa Giáo Hội Công Giáo ra khỏi thế kỷ nhiều hoang mang và ngài canh tân Giáo Hội trước khi đi vào thế kỷ hai mươi.
Nhiều khi chúng ta có khuynh hướng coi thời đại chúng ta là nhất hoặc tiến bộ nhất v́ có những phát minh trổi vượt hơn trước đây. Nhất là chúng ta có khuynh hướng đề cao thế kỷ hai mươi v́ những tiến bộ khoa học và kỹ thuật. Trong năm 1900, xe hơi là đồ trang sức cho một ít người; máy bay và truyền h́nh chưa có; rất ít tiện nghi tân tiến như điện thoại mà nhiều người ngày nay sử dụng hàng ngày.
Trong cái nh́n của một Kitô Hữu, thế kỷ hai mươi phải được thẩm định một cách khác biệt. Vào năm 1850, số người theo Kitô Giáo chiếm một nửa dân số thế giới. Vào năm 1950, con số này giảm xuống c̣n một phần ba. Rất có thể vào thập niên 2000, con số này chỉ c̣n một phần sáu, trừ khi làn sóng rao giảng Tin Mừng tái xuất hiện. Một trong những yếu tố quan trọng làm sút giảm số Kitô Hữu là sự phát triển của chủ thuyết cộng sản và các h́nh thức vô thần khác trong thế kỷ hai mươi. Chỉ sau bảy mươi năm hiện diện kể từ cuộc Cách Mạng Nga 1917, gần một nửa thế giới đă bị cộng sản vô thần thống trị. Sự kiện này khiến thế kỷ hai mươi là thời kỳ tử đạo lớn nhất của Kitô Giáo kể từ thời giáo hội tiên khởi. Thật vậy, trong thế kỷ này nhiều Kitô Hữu đă bị chết v́ đức tin hơn bất cứ thế kỷ nào khác.
Trong những nơi được tự do giữ đạo trên thế giới, chủ nghĩa tục hoá con người (sản phẩm của thời Khai Sáng) và chủ nghĩa vật chất cá nhân (theo đuổi tiền bạc và vật chất một cách ích kỷ) đă làm cạn kiệt sinh lực và sức sống của Kitô Hữu. Nhiều Kitô Hữu chỉ giữ đạo bề ngoài mà không thực sự nhận biết Thiên Chúa hay quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ở xă hội Âu Châu và Mỹ Châu, ngày càng nhiều Kitô Hữu vứt bỏ bộ mặt tuân phục bề ngoài và không c̣n tham dự vào đời sống cũng như sự thờ phượng của Giáo Hội. Trong nhiều nhà thờ ở Tây Phương, ít khi người ta thấy có giới trẻ. Nhiều người sợ rằng, cả một thế hệ sẽ không biết Đức Kitô là ai.
Trong khi đó, nhân loại tiếp tục t́m kiếm hy vọng và ư nghĩa cho một thế kỷ mà chỉ trong ṿng năm mươi năm, hai cuộc thế giới đại chiến đă giết chết loài người nhiều hơn tất cả các cuộc chiến khác trong lịch sử nhân loại.
Những sự kiện nêu trên được đưa ra không để đe dọa nhưng để chúng ta nh́n đến thế kỷ hai mươi với một nhận thức đứng đắn về vị trí của thế giới và vị trí của Kitô Hữu. Thế kỷ hai mươi cũng có thể được gọi là thời đại ư thức hệ. Kể từ khi Kitô Giáo bị hầu hết các quốc gia Tây Phương tẩy chay, nó không c̣n được coi như một động lực kết hợp xă hội và nguồn hướng dẫn luân lư. Người Tây Phương đang t́m kiếm một thay thế bằng cách thần thánh hóa ư thức hệ kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xă hội, chủ nghĩa cộng sản và các chủ nghĩa khác.
Đây là một thế kỷ đầy hiểm họa và thử thách, nhưng cũng là một thế kỷ của cơ hội và hy vọng lớn lao. Tại sao? V́ ơn Chúa vẫn đổ xuống dồi dào cho tất cả những ai muốn t́m kiếm đức tin. Người Công Giáo là một dân tộc hy vọng, chúng ta tin tưởng rằng ở đâu đầy tội lỗi, th́ ở đó ơn Chúa càng dồi dào hơn (Rom. 5:20).
Thánh Giáo Hoàng Piô X (1903-1914)
Được
tuyển chọn vào thuở ban sơ của thế kỷ hai mươi,
Đức Giáo Hoàng Piô X
quan tâm đến sự kiên cường việc phụng tự và bảo vệ Giáo Hội Công Giáo khỏi những
lầm lạc hiện đại. Ngài kêu gọi mở lớp giáo lư cho trẻ em và nâng tuổi được xưng
tội và rước lễ lần đầu lên mức độ tuổi khôn (khoảng bảy tuổi). Ngài khuyến khích
người Công Giáo rước lễ hàng tuần và canh tân thánh nhạc trong phụng vụ. Những
canh tân của ngài trong lănh vực phụng tự đă ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống Công
Giáo măi cho đến ngày nay.
Đức Piô X cũng bắt đầu một công tŕnh lớn lao là tổng hợp các quy luật phức tạp và lộn xộn của Giáo Hội thành một Bộ Giáo Luật. Công tŕnh này được hoàn tất và ban hành vào năm 1917. Đức Piô cũng lưu tâm đến việc đưa đức tin Công Giáo vào thế giới hiện đại qua một phong trào giáo dân được gọi là Công Giáo Tiến Hành. Điều này đă đem lại kết quả trong việc biến đổi xă hội cũng như hoán cải nhiều người về với Giáo Hội Công Giáo. Đối với xă hội, Đức Piô X c̣n thi hành một biện pháp mang tính cách ngôn sứ khi ngài yêu cầu Giáo Hội Công Giáo Pháp giao lại mọi bất động sản và lợi nhuận cho chính phủ Pháp thay v́ nắm quyền kiểm soát. Giáo Hội Pháp đă vâng lời thi hành và đă được phần thưởng lớn lao là sự khôi phục tâm linh.
Tất cả những điều này và các điều khác đă giúp Đức Piô X được tuyên xưng hiển thánh vào năm 1948, là vị giáo hoàng đầu tiên được phong thánh kể từ thế kỷ mười sáu. Tuy nhiên, nhiều người ngày nay chỉ nhớ đến Đức Piô X qua sự đối xử khắt khe với một nhóm học giả Công Giáo được gọi là Nhóm Đổi Mới (Modernist). Chủ nghĩa Đổi Mới phát xuất từ các người Tin Lành, họ khảo cứu Phúc Âm qua các phương pháp chú giải có tính cách lịch sử và văn chương. Các học giả Tin Lành phóng khoáng này không nghĩ rằng Phúc Âm đă được giải thích cách đúng đắn qua các phương cách dẫn giải truyền thống, như đă được các Giáo Phụ sử dụng. Điều này đă phân chia họ thành hai phái: người Tin Lành tự do, chấp nhận phương pháp chú giải mới và người Tin Lành giáo điều, là những người tin rằng phương pháp mới sẽ làm suy yếu ư nghĩa đích thực của Phúc Âm.
Khi các người Công Giáo, như Alfred Loisy người Pháp (1857-1940), George Tyrrell ḍng Tên (c. 1909) và một số người khác, khởi sự dùng chính các phương pháp này (ngay cả để bài bác các kết luận sai lầm của người Tin Lành tự do), th́ các giáo hoàng, từ Đức Lêô XII, rất lo âu. Không hiểu các động lực đă từng phân cách Tin Lành, bây giờ có làm hoang mang và chia rẽ người Công Giáo hay không? Đức Giáo Hoàng Piô X quyết định không để điều này xảy ra. Nhóm Công Giáo Đổi Mới không được phép giảng dạy điều họ cho rằng Đức Giêsu chỉ là một vị tiên tri độc đáo v́ Ngài hiểu biết nhiều về Thiên Chúa nhưng không thực sự biết về thiên tính của ḿnh, hoặc Đức Giêsu không có ư định thiết lập các bí tích hay muốn thiết lập một Giáo Hội. Nhóm Đổi Mới dường như đang hỗ trợ cho một lập trường đáng nghi ngờ và họ tẩy chay nhiều tín điều căn bản của Công Giáo về Đức Kitô và Giáo Hội.
Bất kể các phương pháp của họ có tài giỏi cách mấy hoặc động lực của họ có chính đáng như thế nào, Đức Piô X đă duyệt xét các kết luận của Nhóm Công Giáo Đổi Mới và quyết định phải chấm dứt nhóm này cách mau chóng và dứt khoát. Vào năm 1901, Lamentabili Sane, là danh sách các đề xuất bị kết án của Nhóm Đổi Mới được công bố, tiếp theo đó không lâu là một thông điệp toàn diện, Pascendi dominici gregis, nhằm chống lại Nhóm Đổi Mới. Vào năm 1910, mọi giáo sĩ Công Giáo buộc phải thề tẩy chay mọi giảng dạy của Nhóm Đổi Mới. Đức Giáo Hoàng Piô X c̣n cho thành lập đoàn cảnh sát ch́m để đảm bảo rằng chủ nghĩa Đổi Mới không được dạy trong các chủng viện và đại học Công Giáo. Có lẽ Đức Piô X đă phản ứng quá đáng trước sự đe dọa của chủ nghĩa Đổi Mới, mà hành động ấy đă làm bóp nghẹt cuộc nghiên cứu đầy sáng tạo của Công Giáo, nhất là trong lănh vực tra cứu phúc âm và lịch sử trong năm mươi năm tiếp đó. Tuy nhiên, về lâu dài, dường như Đức Piô X đă khôn ngoan khi muốn ngăn cản người Công Giáo đừng vội vàng chấp nhận lối tiếp cận mới đối với Phúc Âm và đối với sự phát sinh của Giáo Hội, bởi v́ những điều ấy là nền tảng của Kitô Giáo và Công Giáo. Kết quả là Giáo Hội Công Giáo đă được lợi ích trong nhiều năm dài trước khi đi vào cuộc khảo cứu không hạn chế trong các lănh vực rất tế nhị này. Là một vị chủ chăn của toàn thể Giáo Hội, lưu tâm hàng đầu của đức giáo hoàng luôn luôn là việc duy tŕ đức tin của người Công Giáo và Kitô Giáo. Đức Giáo Hoàng Piô X đă nhận lănh trách nhiệm này một cách nghiêm trọng trong việc kết án lạc thuyết Đổi Mới.