GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TRONG THẾ KỶ 20
(1900-1963)
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XV (1914-22)
Lịch sử Giáo Hội Công Giáo trong thời Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XV dính liền với một thảm họa lớn đă càn quét Âu Châu trong thời kỳ này: Thế Giới Đại Chiến I. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đă giữ thái độ trung lập chính trị và cực lực lên án các lạm dụng của bất cứ phe phái nào, một cách công khai hay riêng tư, bất cứ khi nào ngài nhận thấy. Ngài đă viết ba thông điệp về vấn đề ḥa b́nh và ḥa giải. Đức giáo hoàng cũng cho phép trợ cấp các nạn nhân chiến cuộc: năm triệu rưỡi tiền Ư của quỹ giáo hoàng và ba mươi triệu tiền quyên góp của người Công Giáo trên thế giới. Mặc dù Đức Bênêđíctô XV đôi khi bị nghi ngờ và bị chỉ trích bởi các quốc gia có tham dự trong cuộc chiến v́ ngài từ chối đứng về phe này hay phe kia, nói cho cùng ngài đă thi hành nhiều công việc hơn bất cứ một trung gian quốc tế nào để phá vỡ các bức tường thù hận.
Một biến cố quan trọng có ư nghĩa cảnh giác cũng như hy vọng cho thế giới đă xảy ra trong thời Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô. Vào năm 1917, Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đă hiện ra với ba trẻ ở Fatima, Bồ Đào Nha, và liên tiếp trong năm lần sau đó vào ngày mười ba mỗi tháng. Đức Maria tiên báo Thế Chiến I sẽ chấm dứt nhưng cảnh cáo rằng, nếu không cầu nguyện và ăn năn sám hối, "nước Nga sẽ gieo rắc kinh hoàng khắp thế giới, đưa đến chiến tranh và bách hại Giáo Hội." Đây là điều tiên tri lạ đời v́ lúc ấy nước Nga sống về nông nghiệp và c̣n suy yếu v́ cuộc nội chiến. Mỗi lần Đức Maria hiện ra, ngài yêu cầu lần chuỗi mai khôi hàng ngày và suy niệm về các mầu nhiệm. Sau cùng, Đức Maria yêu cầu mọi người, mọi gia đ́nh, mọi quốc gia (nhất là nước Nga) được tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria. Việc tận hiến nước Nga được thể hiện bởi đức giáo hoàng cùng hiệp nhất với các giám mục trên thế giới.
Thật quan trọng để biết rằng tâm điểm thông điệp Fatima là thông điệp căn bản của Phúc Âm -- kêu gọi dân Chúa ăn năn sám hối, tin vào Đức Giêsu Kitô, và sống đạo tốt lành. Để chứng minh cho thế giới biết sự xác thực của việc hiện ra, Đức Maria nói với các trẻ là vào ngày 13 tháng Mười 1917, Thiên Chúa sẽ cho một dấu hiệu. Vào ngày ấy, hàng trăm ngàn người đến dự kiến, cả Kitô Hữu cũng như người ṭ ṃ, tất cả đă chứng kiến cảnh mặt trời dường như xoay tṛn và nhẩy múa trên trời, là một hiện tượng mà không ai có thể giải thích một cách khoa học.
Một biến cố khác thay đổi lịch sử thế giới. Cuộc Cách Mạng Tháng Mười ở Nga đă đưa đảng Bolshevik của Lenin lên cầm quyền, đánh dấu sự khởi đầu của chế độ cộng sản ở Nga: khai sinh Liên Bang Sô Viết. Chủ thuyết cộng sản là một triết thuyết chính trị vô thần của Karl Marx (1881-83), kêu gọi giới vô sản lật đổ các chính thể tư bản đàn áp. Giới vô sản, hoặc giới lao động, từ nay sẽ nắm quyền kiểm soát các phương tiện sản xuất cũng như chính quyền. Trên thực tế, các quốc gia cộng sản trở nên độc tài do một thiểu số nắm quyền cai trị. Marx tẩy chay mọi tôn giáo, cho đó là "thuốc phiện của đám đông" v́ dạy bảo tín hữu t́m kiếm phần thưởng ở trên trời trong khi chấp nhận sự áp bức và đau khổ ở đời này. Đối với Marx và chủ thuyết cộng sản, đời này là tất cả, và tôn giáo không có chỗ đứng. Đặc biệt, Giáo Hội Công Giáo, với số tín đồ trên toàn thế giới và sự tuân phục đức giáo hoàng, bị chủ nghĩa Mácxít coi là kẻ thù số một. Mặc dù Giáo Hội Công Giáo không mạnh mẽ lên án chủ thuyết này cho đến khi bắt đầu cảm thấy hậu quả của nó, vào khoảng đầu năm 1878, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII nh́n thấy trước sự nguy hiểm của chủ thuyết cộng sản khi ngài gọi lư thuyết của Marx là "căn bệnh hiểm nghèo lọt vào xă hội loài người chỉ để làm hư nát." Sứ điệp Fatima nói rằng phương cách duy nhất khiến chủ thuyết cộng sản tan ră là qua sự cầu nguyện của Kitô Hữu, chứ không phải sức mạnh quân sự.
Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-39)
Sau khi viết chín văn kiện chính thức về hiểm họa của chủ thuyết cộng sản, Đức Giáo Hoàng Piô XI nghiêm khắc lên án cộng sản vô thần trong tông thư Dinivi Redemptoris, được công bố vào ngày lễ Thánh Giuse Thợ năm 1937. Trong thời làm giáo hoàng, Đức Piô XI c̣n phải đương đầu với hai ư thức hệ nguy hiểm khác -- chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xă, cả hai đều xuất hiện dưới h́nh thức các chính thể đàn áp, chuyên chế. Năm 1922, Benito Mussolini đứng đầu chủ nghĩa phát xít tiếp thu nước Ư. Biết rằng cần có sự hỗ trợ của Giáo Hội Công Giáo ở Ư, vào năm 1929 Mussolini đă kư một thỏa ước với Đức Piô XI, đem lại sự ḥa b́nh giữa Giáo Hội và chính quyền, nhưng chỉ sau khi Đức Piô XI giao quyền kiểm soát các lănh địa của giáo hoàng cho Mussolini. Đây là một may mắn lớn cho Giáo Hội, v́ nó chấm dứt ư tưởng cho rằng quyền bính của đức giáo hoàng là tùy thuộc ở tài sản trần thế nhiều hay ít. Đức giáo hoàng, thay mặt cho Giáo Hội Công Giáo, từ chối hỗ trợ chính phủ phát xít, và đổi lại, chỉ chấp nhận sự độc lập và an toàn của một trăm lẻ chín mẫu đất, là Vatican.
Vào năm 1933, Đức Piô XI c̣n phải kư kết một thỏa ước khác với tân lănh tụ Đức Quốc Xă, Adolf Hitler. Một lần nữa, đức giáo hoàng từ chối bất cứ vai tṛ chính trị nào của Giáo Hội Công Giáo trong chế độ Hitler và chỉ t́m cách đảm bảo sự tự do và quyền lợi trọn vẹn của người Công Giáo ở Đức. Trước khi chữ kư ráo mực, Hitler bắt đầu đàn áp Giáo Hội Công Giáo và khởi sự chính sách ghê tởm đối với người Do Thái. Chế độ phát xít cũng bắt chước hành động ấy ở Ư. Sau một vài năm kiên nhẫn và chống đối không có hiệu quả, vào năm 1937 Đức Giáo Hoàng Piô XI đă ra một thông điệp nẩy lửa, Mit Brennender Sorge, dứt khoát lên án chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xă.
Giáo Hội Công Giáo c̣n chịu đau khổ v́ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha vào năm 1936 cũng như v́ các nhà cầm quyền muốn chà đạp Công Giáo ở Nga và Mễ Tây Cơ. Các linh mục và giám mục ở Nga và Mễ Tây Cơ bị cầm tù hoặc bị tử h́nh v́ chế độ cộng sản. Đây là những biến cố bi thảm, nhất là đối với vị giáo hoàng là người muốn thiết lập một vương quốc b́nh an của Đức Kitô trên trần gian. Việc ngài thiết lập lễ Đức Kitô Vua năm 1925 là để nhắc nhở cho mọi người biết, Đức Kitô là Vua của các quốc gia, đó là điều cần thiết nhưng đă bị quên lăng ở nhiều nơi.
Đức Giáo Hoàng Piô XI c̣n giữ vai tṛ lănh đạo trong các sinh hoạt truyền giáo và giáo huấn xă hội. Công cuộc truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo tiếp tục phát triển trên toàn thế giới, và Đức Piô XI là vị giáo hoàng đầu tiên có thể tấn phong các giám mục thuộc các sắc dân địa phương. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ban bố thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII, vào năm 1931, Đức Piô XI đă ban bố một thông điệp của chính ngài, Quadrigesimo Anno, trong đó ngài đưa ra các nhận định luân lư về vấn đề tư bản và lao động, cũng như các ích lợi và giới hạn của chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa tư bản. Như mọi giáo huấn Công Giáo khác về xă hội, các giá trị của Đức Giêsu Kitô và Phúc Âm được coi là tiêu chuẩn tối cao để thẩm định và phê phán các nguyên tắc và hệ thống kinh tế và chính trị. Phong trào Công Giáo Tiến Hành tiếp tục được khích lệ như một phương cách để thấm nhập giá trị phúc âm vào thế giới. Đức Piô XI tiếp tục nhấn mạnh rằng con đường duy nhất để có ḥa b́nh và hạnh phúc là qua sự trị v́ của Đức Kitô, Vua của tất cả nhân loại.
Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-58)
Đức Giáo Hoàng Piô XII từng giữ chức tổng trưởng ngoại giao Vatican dưới thời Đức Piô XI, ngài được chọn làm giáo hoàng phần lớn là v́ tài ngoại giao và sự thánh thiện của ngài. Cả hai đức tính này vô cùng cần thiết khi thế giới đắm ch́m trong cuộc chiến do Adolf Hitler và chế độ quốc xă khởi xướng một ít lâu sau khi Đức Piô lên ngôi giáo hoàng. Chính sách của Đức Piô là cố giữ bộ mặt trung lập. Đây là một sự khôn ngoan, v́ Vatican nằm ở giữa khối Trục (nước Đức -- Ư). Trên thực tế, Đức Piô hết sức chống đối chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít-quốc xă, dù rằng ngài đặc biệt yêu quư dân tộc và văn hóa Đức. Thay v́ lên án chủ nghĩa quốc xă một cách công khai và mạnh mẽ như Đức Piô XI, Đức Giáo Hoàng Piô XII tin rằng phương cách ấy chỉ đem lại nhiều đau khổ cũng như sự trả thù cho người Kitô Giáo và người Do Thái ở Đức và ở các quốc gia thuộc khối Trục. Thay v́ khoa trương, Đức Piô XII đă dùng bất cứ phương tiện nào có thể để cứu giúp và che chở người Do Thái và những người bị bách hại. Ông Pinchas Lapide, một học giả Do Thái và cựu lănh sự Do Thái ở Ư, đă tuyên dương công trạng của đức giáo hoàng và Giáo Hội Công Giáo trong việc cứu vớt khoảng bốn trăm ngàn người Do Thái khỏi bị tiêu diệt. Trong cuốn The Last Three Popes and The Jews (Ba Giáo Hoàng Sau Cùng và Người Do Thái), ông Lapide viết:
Trong cuộc chiến, Giáo Hội Công Giáo đă cứu vớt sinh mạng của người Do Thái nhiều hơn tổng số các giáo hội, các tổ chức tôn giáo và các cơ quan cứu nguy khác. Thật ngạc nhiên, con số kỷ lục ấy quá tương phản với các thành quả của tổ chức Hồng Thập Tự và các quốc gia dân chủ Tây Phương. Ṭa Thánh, các sứ quán và toàn thể Giáo Hội Công Giáo đă cứu vớt khoảng 400,000 người Do Thái khỏi bị tiêu diệt.
Một người Ba Lan đă được thoát chết nhờ sự hy sinh cao cả của một linh mục ḍng Phanxicô, Thánh Maximilian Kolbe, là người đă t́nh nguyện chết thay cho ông trong hầm bỏ đói.
Heinrich Himmler, người đứng đầu cơ quan mật vụ Đức Quốc Xă, đă viết một lá thư cho cấp dưới, trong thư ông viết: "Chúng ta đừng quên rằng, về lâu dài, giáo hoàng ở Rôma là kẻ thù vĩ đại của chủ nghĩa Xă Hội Quốc Gia (Đức Quốc Xă) hơn cả Churchill và Roosevelt." Đức Piô XII có lên tiếng chống đối chủ nghĩa quốc xă vào lúc ấy. Sau thông điệp Giáng Sinh năm 1942, một lănh tụ Đức Quốc Xă nhận định về lời của Đức Piô XII:
Hắn nói Thiên Chúa coi mọi dân tộc và mọi chủng tộc có giá trị ngang nhau. Như vậy, hiển nhiên hắn lên tiếng thay cho bọn Do Thái. Hầu như hắn lên án người Đức về sự bất công đối với bọn Do Thái, và tự cho ḿnh là phát ngôn viên của tội phạm chiến tranh Do Thái.
Mặc dù chủ nghĩa quốc xă là mối đe dọa trước mắt, Đức Piô XII tin tưởng chắc chắn rằng chủ nghĩa cộng sản là sự đe dọa lớn lao nhất của thời đại đối với dân Chúa và nhân loại. Sau Thế Chiến II, ngài càng đưa Giáo Hội Công Giáo nghiêng về phía các quốc gia dân chủ Tây Phương, và cố gắng điều động thế giới chống với cộng sản. Năm 1949, ngài ban bố một sắc lệnh phạt vạ tuyệt thông bất cứ người Công Giáo nào gia nhập đảng cộng sản.
Sự kiện Đức Piô XII tẩy chay cộng sản chắc chắn có liên hệ đến việc hiện ra của Đức Maria ở Fatima, mà ngài đă tiên báo là nước Nga sẽ gieo rắc lầm lạc khắp thế giới. Năm 1942, đức giáo hoàng dâng hiến thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria, và năm 1952, ngài đặc biệt dâng hiến dân tộc Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Đức Mẹ. Ngài c̣n tuyên xưng Đức Maria là "Nữ Vương Thế Giới." Tất cả những hành động này là để nhận biết vai tṛ đặc biệt của Đức Maria, là đấng cầu bầu và là mẹ của mọi Kitô Hữu. Vào năm 1950, Đức Piô XII tuyên bố một tín điều bất khả ngộ là Đức Maria đă được lên trời cả hồn và xác. Tín điều này từng được Giáo Hội Công Giáo tin tưởng từ lâu và đă được dành riêng một ngày lễ để mừng kính trong 1,500 năm, nhưng đức giáo hoàng muốn chính thức xác định điều ấy như một dấu hiệu hy vọng cho mọi người về sự sống lại và vinh hiển của chính thân xác họ mà đă được tiên báo qua sự kiện hồn xác lên trời của Đức Maria. V́ ngài được thụ thai cách tinh tuyền và đời sống không t́ ố v́ tội lỗi, thân xác của ngài không bị chết và bị mục nát như thân xác chúng ta, do đó ngài có thể trực tiếp đi vào sự vinh hiển của Thiên Chúa. V́ vậy, Đức Piô XII thường được coi là vị giáo hoàng của ḥa b́nh và giáo hoàng của Đức Maria.
Mặc dù Đức Piô XII rất giống với Đức Giáo Hoàng Lêô XIII khi coi thần học của Thánh Tôma có giá trị cao trong thần học Công Giáo, nhưng ngài là người khai mở các lănh vực học thuật về phúc âm và lịch sử. Trong tông thư Humani Generis (1959), ngài cảnh giác người Công Giáo đối với những nguy cơ của thần học lịch sử mới, nhưng trong tông thư Divino Afflante Spiritu (1943), ngài cho phép các học giả Công Giáo áp dụng các phương pháp mới, tỉ như cách dẫn giải dựa trên dạng thức của văn bản. Cũng trong năm này, Đức Piô XII công bố tông thư nổi tiếng Mystici Corporis Christi, cách mạng hóa quan điểm của Công Giáo về Giáo Hội. Thay v́ coi Giáo Hội Công Giáo chỉ là một tổ chức của con người hoặc một hệ thống cấp bậc h́nh kim tự tháp, ngài khuyến khích người Công Giáo coi Giáo Hội như thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. Đây là một quan niệm phát xuất từ tư duy của Thánh Phaolô nhấn mạnh đến tính cách mầu nhiệm và hợp nhất của Giáo Hội như thân thể của Đức Kitô ở trần thế. Các phương cách tiếp cận thần học này bắt đầu phá vỡ bầu khí căng thẳng và nghi ngờ mà các thần học gia Công Giáo từng chịu đựng kể từ khi phải thề chống với chủ nghĩa Đổi Mới vào năm 1910. Các phương cách ấy cũng mở đường cho sự phát sinh rầm rộ các dạng thức thần học Công Giáo mới được bắt đầu với Công Đồng Vatican II. Biết bao công tŕnh của các thần học gia và học giả Kinh Thánh Công Giáo đă được dễ dàng hơn nhờ sự khuyến khích của Đức Piô XII.
Đức Piô XII đă đem lại một uy thế mới cho Giáo Hội Công Giáo trong thế giới và ngài chuẩn bị Giáo Hội cho một công đồng canh tân vĩ đại sắp xảy đến. Sau cuộc chiến (năm 1945), nhiều quốc gia gửi các đại sứ đến Vatican, và Năm Thánh 1950 đă đưa hàng triệu người hành hương đến Rôma. Công cuộc truyền giáo của Giáo Hội cũng phát triển khi số giáo phận Công Giáo trên toàn thế giới đă gia tăng từ 1,700 lên đến trên 2,000. Đức Piô XII cũng đảm bảo tính cách quốc tế của Giáo Hội bằng cách tấn phong nhiều hồng y không phải là người Ư, tất cả là ba mươi bốn vị trong tổng số năm mươi mốt vị, tính cho đến khi ngài từ trần. Bây giờ, Giáo Hội ngày càng quan hệ đến thế giới hiện đại và điều đó chỉ thực sự xảy ra trong thời đấng kế vị Đức Piô XII là Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, đó là lúc cuộc đối thoại trọn vẹn và cởi mở với thế giới cũng như sự tái duyệt xét về sự tương giao của Giáo Hội Công Giáo với thế giới được thực hiện.
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-63)
Đức Giáo Hoàng Piô XII đă tiếp tục truyền thống của các giáo hoàng tiền nhiệm, muốn giáo triều chứng tỏ sức mạnh và quyền lực của ḿnh trên cả thế giới. Các Kitô Hữu Tin Lành và các người khác thường cho rằng đức giáo hoàng, và người Công Giáo nói chung, hay đắc thắng, kiêu ngạo đề cao sự vinh hiển và quyền lực thần thánh của Giáo Hội Công Giáo mà không nhận ra sự yếu đuối và khuyết điểm của con người. V́ lư do này, Giáo Hội Công Giáo không được sự tin tưởng của những người bên ngoài giáo hội khi họ thấy các giáo hoàng và Giáo Hội Công Giáo cũng chỉ là một tổ chức con người và cũng phạm tội.
Vị giáo hoàng thay đổi toàn thể h́nh ảnh của Giáo Hội Công Giáo trong cái nh́n của thế giới là Đức Gioan XXIII. Trong khi các giáo hoàng trước đây mang h́nh ảnh của một đấng vị vọng và ngay cả xa cách với người dân, Đức Gioan XXIII là một người vui tính, thật tự nhiên, yêu quư đời sống cũng như dân chúng và ngài không ngần ngại bộc lộ điều ấy. Đó là một ông cụ bảy mươi sáu tuổi thường mời bạn hữu đến dùng cơm, hay lang thang trên đường phố Rôma để chuyện tṛ với dân chúng, luôn đến thăm các bệnh viện và nhà tù, và thường kể chuyện vui làm mọi người đều thích thú. Người Công Giáo và Kitô Hữu nói chung đều hân hoan khi thấy đức giáo hoàng cũng là một con người b́nh thường, và ngài đă chinh phục được nhiều tâm hồn cũng như sự trung kiên của nhiều người.
Tuy nhiên, thật sai lầm khi nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII là một người hiểu biết tầm thường. Điều nổi bật trong triều đại ngắn ngủi của ngài là sự tin cậy vào Thiên Chúa và cái nh́n sáng suốt của ngài. Thay v́ công khai chống đối cộng sản, hoặc bất cứ chính thể nào, Đức Gioan XXIII t́m cách ḥa giải và chuyển trao thông điệp của ngài đến với mọi người: Pacem in Terris (Hoà B́nh Trên Thế Giới) và Mater et Magister về trật tự xă hội. Ngài kêu gọi mọi người hăy cùng nhau làm việc để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, phù hợp với các nguyên tắc về công bằng và ích lợi chung mà đă được mọi người công nhận.
Đức Gioan XXIII c̣n là người mở đường cho phong trào đại kết, tái hợp nhất mọi Kitô Hữu. Vào đầu thế kỷ mười chín, sự lưu tâm mạnh mẽ đến vấn đề đại kết được phát sinh trong công cuộc truyền giáo của Tin Lành. Họ thấy thật dại dột và hổ thẹn khi các giáo phái Kitô Giáo khác nhau lại tranh dành các lănh thổ truyền giáo. Các tổ chức nổi tiếng như "Faith and Order" (1925) và "Life and Work" (1927) cố gắng đem người Tin Lành lại với nhau trên phương diện học thuyết và phục vụ. Vào năm 1948, các tổ chức này kết hợp thành tổ chức duy nhất "World Council of Churches". Giáo Hội Công Giáo vẫn đứng tách biệt không dính dáng ǵ đến sinh hoạt đại kết này, v́ cho rằng các người Tin Lành phải giải quyết các mâu thuẫn của họ trước khi thảo luận về sự tương giao với Giáo Hội Công Giáo. Các giáo hoàng tiền nhiệm cho rằng Đức Giêsu chỉ thiết lập một đức tin và một giáo hội thực, là Giáo Hội Công Giáo. Trong khi không từ chối tính cách độc đáo của Giáo Hội Công Giáo, Đức Gioan XXIII nhận thức rằng người Công Giáo phải đến với các Kitô Hữu khác và cộng tác với họ để t́m kiếm sự hiệp nhất mà Đức Giêsu đă mong muốn cho dân của Ngài. Đức Gioan XXIII đặc biệt yêu quư Giáo Hội Chính Thống Giáo, v́ ngài từng là đại diện đức giáo hoàng ở vùng Cận Đông. Khi đến lúc triệu tập công đồng, Đức Gioan XXIII đă mời các quan sát viên từ mọi truyền thống Kitô Giáo, và đón nhận các ư kiến cũng như suy tư của họ về diễn tiến của công đồng.
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đă khiến thế giới phải bàng hoàng khi ngài triệu tập công đồng các giám mục Công Giáo để xúc tiến sự hợp nhất Kitô Giáo, cũng như cập nhật hoá Giáo Hội Công Giáo và giúp Giáo Hội thoả đáp các nhu cầu và lưu tâm của thế giới hiện đại. Tại sao ngài lại làm như vậy? Ngài đơn giản cho rằng đó là sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, và ngài xin người Công Giáo cầu nguyện cho công đồng: "Lạy Chúa, xin hăy canh tân trong thời đại chúng con như trong một biến cố Hiện Xuống mới."
Việc triệu tập công đồng thật ngạc nhiên, nhưng đúng lúc. Thời đại kỹ thuật sắp sửa đưa thế giới vào một kỷ nguyên mới, và cảm nghiệm của hai cuộc thế chiến cũng như việc sử dụng vũ khí nguyên tử đă để lại vết thương hằn sâu khiến người ta hoang mang về định mệnh và hướng đi của nhân loại. Làm thế nào một Giáo Hội cổ kính, từng tự hào là chống trả được các chiều hướng thay đổi, có thể tồn tại trong một thế giới đang biến đổi mau chóng và triệt để? Giáo Hội Công Giáo phải hiểu ḿnh và tự giới thiệu về ḿnh như thế nào cho thế giới ấy? Đây là những vấn đề mà đức giáo hoàng mong muốn các giám mục có thể t́m ra câu trả lời, trong khi tin tưởng hoàn toàn vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần để đi đến thành công.
Nhiều vị giám mục trên thế giới không hăng say lắm về công đồng này, v́ họ nghĩ, rốt cục có lẽ công đồng cũng sẽ tái khẳng định những điều từng được xác định trước đây trong sách vở Kinh Viện hoặc học thuyết Thánh Tôma. Thật vậy, nhiều thành viên của giáo triều Rôma chỉ muốn công đồng thi hành như vậy mà thôi, họ muốn công bố thêm các lời cảnh cáo đối với thế giới hiện đại, đối với người Tin Lành, và đối với các thần học gia phóng khoáng về đức tin và lối sống lầm lạc. Khi một số tài liệu dự thảo đầu tiên của công đồng dường như đúng như vậy -- tái khẳng định thần học kinh viện và cảnh cáo thế giới -- Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đă thi hành một bước táo bạo. Trong bài diễn văn trước toàn thể công đồng,
... ngài tự tách biệt khỏi cái nh́n hạn hẹp có tính cách bảo thủ của Giáo Triều về công đồng và thúc giục các giám mục, thay vào đó, hăy nhận trách nhiệm canh tân cập nhật hoá Giáo Hội một cách triệt để. Không như kiểu ngôn sứ báo họa của các cố vấn, đức giáo hoàng cho biết ngài thích cái nh́n lạc quan đối với lịch sử thế giới hiện đại. Và ngài nhấn mạnh các giám mục cần có một thái độ mục vụ: Họ không thể tiếp tục đưa ra các mâu thuẫn không sinh kết quả, nhưng phải t́m ra các phương cách tích cực, đầy ư nghĩa và mới mẻ để tŕnh bầy học thuyết cổ xưa của Giáo Hội...
Đó chính là điểm khởi đầu. Toàn thể các giám mục phấn khởi đưa ra các kinh nghiệm bản thân và các quan điểm có giá trị về thần học mới đang ló dạng. Họ h́nh thành các văn kiện vừa trung kiên với truyền thống Công Giáo vừa đáp ứng với nhu cầu của thời đại -- được khẳng định trong ngôn từ tươi mới và cập nhật hóa với nhiều tham khảo từ Phúc Âm và các Giáo Phụ. Một bức tranh đầy mầu sắc của Đức Gioan XXIII về lư do tại sao ngài triệu tập công đồng bắt đầu được h́nh thành, như một cánh cửa mở ra để không khí tươi mát lùa vào.
Tuy nhiên, vẫn c̣n nhiều khó khăn và cần phải nhiều nỗ lực với những ǵ công đồng tuyên bố và làm sao cho có hiệu quả; nhưng lời cầu xin của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII về một "biến cố Hiện Xuống mới" đă được nhận lời, như được chứng tỏ rơ rệt qua một chuỗi công tŕnh của Chúa Thánh Thần được mọi người Công Giáo cảm nhận chỉ hai năm sau khi công đồng bế mạc. Phong Trào Thánh Linh chỉ là một trong biết bao dấu hiệu về một thời đại mới mà việc canh tân Giáo Hội Công Giáo của Chúa Thánh Thần đang bắt đầu.
Vào năm 1963, thế giới phải thương tiếc khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII từ trần sau khóa họp đầu tiên của công đồng. Ngài đă trung thành với công việc lớn lao mà Thiên Chúa đă giao phó cho ngài trong chức vụ giáo hoàng (chỉ bốn năm và bảy tháng), và công việc của Công Đồng Vatican II lại được tiếp tục dưới sự lănh đạo của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI..