T́m hiểu về Sóc Trăng
quê hương ḿnh
Trích từ Báo điện tử :
SoctrangOnline
Tổng quan về tỉnh Sóc Trăng
Tỉnh Sóc Trăng được thành lập từ Nghị quyết
tách tỉnh Hậu Giang ở kỳ họp Quốc hội lần X, khóa VII, ngày 10.12.1991, và
chính thức được phân vạch địa giới hành chính vào năm 1992.
Vị trí địa lư tỉnh thuộc vùng đồng bằng châu
thổ sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất của cả nước. Sóc Trăng nằm ở bờ nam Hậu
Giang, diện tích 3.191 km2, dân số 1.430.000 người (năm 2000), có 72 km bờ
biển chạy dọc theo biển Đông. Địa lư tỉnh được h́nh thành từ 3 vùng sinh
thái tự nhiên là vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Kinh tế của tỉnh chủ
yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến hàng
nông - thủy - hải sản. Hiện Sóc Trăng vẫn c̣n là một trong những tỉnh nghèo,
đời sống tinh thần và tŕnh độ dân trí vào loại thấp của khu vực. Sóc Trăng
có một nền văn hóa đặc thù với nếp sinh hoạt chan ḥa giữa ba dân tộc Kinh -
Hoa - Khmer vốn tự bao đời nay sống thuận ḥa, hội nhập vào cộng đồng chung
và đă cùng nhau tạo nên một bản sắc dân tộc độc đáo nhất của nước ta. Và nó
được thể hiện qua các lễ hội đặc trưng của tỉnh được tổ chức hàng năm…
1. Vị trí địa lư
Tỉnh Sóc Trăng thuộc hạ đồng bằng Cửu Long, nằm
ở đoạn cuối cùng của hạ lưu sông Hậu - đoạn đổ ra biển Đông. Tọa độ địa lư
chính:
- Kinh độ: Từ 1050 34’16" đến 1060 17’50" kinh
độ Đông
- Vĩ độ: Từ 90 14’20" đến 90 55’30" vĩ độ Bắc.
Phía Bắc và Tây bắc giáp giới tỉnh Hậu Giang.
Phía Nam, Đông, Đông nam giáp Biển Đông với
đường bờ biển dài hơn 72 km.
Phía Đông bắc giáp sông Hậu và tỉnh Trà Vinh.
Phía Tây và Tây nam giáp tỉnh Bạc Liêu.
2. Điều kiện tự nhiên
2.1. Khí hậu
Sóc Trăng, cũng giống như các tỉnh khác trong
vùng châu thổ sông Cửu Long, đều chịu ảnh hưởng của đới khí hậu nhiệt đới
gió mùa. Khí hậu hàng năm có hai mùa rơ rệt là mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng
11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm kế).
- Nhiệt độ trung b́nh là 28.50 và hầu như không
có chênh lệch lớn giữa các vùng của tỉnh.
- Lượng ánh sáng chiếu khá lớn, trung b́nh là
6,6 giờ/ ngày.
- Lượng mưa trung b́nh hàng năm khoảng 1.489mm
- 90% lượng mưa thuộc các tháng từ tháng 5 đến tháng 11.
- Độ ẩm trung b́nh hàng năm là 84%. Lượng nước
bốc hơi trung b́nh hàng năm khoảng 1.126mm.
- Tốc độ gió trung b́nh khoảng 2,2 m/s. Tốc độ
này nhanh hay chậm từng khu vực khác nhau, càng gần biển th́ tốc độ càng
lớn. Vào mùa gió chướng (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) luồng gió ngược
ḍng sông Hậu với tốc độ khoảng 6 - 11 m/s (khi cao nhất có thể đến 17 m/s)
và chính nó là nguyên nhân gây nên hiện tượng xâm thực của nứơc mặn vào đất
liền lớn vào mùa này.
Nhờ tác động của lực Coroloic nên hầu như các
cơn băo xảy ra ở khu vực này là rất ít, tính từ đèo Cả trở vào th́ chỉ có 8%
tổng số cơn băo xảy ra. Tuy nhiên, Sóc Trăng vẫn bị tác động của các cơn băo
xa nên vẫn bị hiện tượng mưa lớn triền miên làm ngập úng, ảnh hưởng đến t́nh
h́nh sản xuất, đến hạ tầng giao thông, các công tŕnh dân dụng, dân sinh.
2.2. Địa h́nh
Địa h́nh tỉnh tương đối bằng phẳng. Độ cao
trung b́nh so mặt nước biển khoảng + 2,5m, nơi cao nhất cũng chỉ khoảng 3m.
Địa h́nh có độ dốc tự nhiên nhỏ 1/1000.
2.3. Địa chất
Nh́n chung đất ở khu vực này là thấp và yếu.
Các mẫu khoan ở độ sâu 30m cho kết quả như sau:
- Từ 0 - 2,3m là lớp cát vàng có pha ít bột sét
ở trạng thái chặt.
- Từ 2,3 - 9m là lớp cát mịn pha bột sét màu
xám ở trạng thái chặt.
- Từ 9 - 19,5m là lớp đất sét màu xám ở trạng
thái dẻo mềm.
- Từ 19,5 - 27,5m là lớp sét màu vàng ở trạng
thái cứng.
- Từ 27,5 - 30m là là lớp cát pha màu vàng ở
trạng thái chặt.
2.4. Thủy văn
Tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều với
hệ thống sông, rạch, kênh, mương đan xen chằn chịt. Đây là yếu tố thuận lợi
cho giao thông thủy và giúp tiêu, thoát nứơc dễ dàng nên ít bị lũ xâm hại
hàng năm như các tỉnh lân cận. Biên độ dao động của thủy triều hàng năm từ
0,6 - 1,4m.
Sóc Trăng xưa (Ba Xuyên)
Ba Xuyên là một cánh đồng mênh mông và ph́
nhiêu do phù sa sông Hậu Giang bồi đắp và cát do sóng biển Nam hải vun bồi.
Đất Ba Xuyên xưa trước kia gọi là Sóc Trăng (Sốc Trăng) thu hút nhiều di dân
đến khai thác từ các đợt khẩn hoang và di dân của các chúa Nguyễn. Tuy
nhiên, cuộc khai khẩn thật sự bắt đầu vào năm Minh Mạng thứ 10. Nhờ các
chương tŕnh đồn điền nên nhân dân và binh lính của chúa Nguyễn đă đổ về đây
lập nghiệp. Chính trong thời kỳ khẩn hoang này mà đất Ba Xuyên được nhắc nhở
nhiều nhất .
Nếu nh́n từ trên cao, tỉnh Sóc Trăng giống như
một con Giao Long lớn mà mỗi bộ phận của nó là một giồng cát dài ví như đầu,
ḿnh, chân và đuôi của con Giao long vậy. Mỗi giồng cát đều có một tên riêng
biệt:
- Giồng Ĺnh Kía (c̣n gọi là giồng Long Tử)
- Giồng M’ha Tup (c̣n gọi là giồng Mă Tộc) -
nơi có chùa Dơi
- Giồng Kompong Ko (giồng Có) hay c̣n dịch sát
nghĩa hơn là Vũng Ḅ hoặc Vũng Gù
- Giồng Sdrock Pou (Sóc Vồ) nơi đây ngày xưa có
cây lâm vồ lớn (Bồ đề)
- Giồng Ph’nor (giồng Phú Nổ)
- Giồng Kom Pong Trach hay c̣n gọi là giồng Văn
Trạch hay An Trạch
- Giồng Sần Ke (giồng Trường Khánh)
Các giồng này được đạt tên cách điệu để tránh
nhầm lẫn với các giồng hoặc địa danh trùng tên ở các miệt trên hoặc vùng Sài
G̣n, Tân An xưa.
Về di tích, ngày nay ta c̣n thấy vùng Băi Xào -
nơi có di tích một đồn binh nhà Nguyễn bằng đất dưới thời Tự Đức để chống
giặc Sà Natea.
Ở An Trạch th́ có di tích chùa Bốn Mặt. Tương
truyền nơi đây c̣n lưu giữ được một tượng phật có bốn mặt - dấu ấn của nền
văn hóa Óc Eo bản địa. Khu vực này ngay xưa c̣n gọi là Kompong Trach, tức là
bến cảng có tên là Trạch. Ở đây vẫn c̣n lưu dấu một chiếc tàu ch́m xưa.
Thỉnh thoảng, người dân ở đây khi khai phá đất vẫn c̣n nhặt được những di
vật cổ. Nhiều người cho rằng ngày xưa, khi chưa bị biển bồi, đây là một
thương cảng sầm uất của nước Phù Nam – thuộc nền văn hóa Óc Eo. Theo thời
gian, do tác động của chiến tranh và bồi đắp của sông Mê Kong ở vùng châu
thổ Sóc Trăng, bến cảng được di dời dần ra vàm Đại Ngăi.
Vàm Đại Ngăi xưa theo tiếng của người Khmer là
vàm Muôn Ngă. Dựa trên những ǵ khai quật được của người địa phương, qua quá
tŕnh canh tác và đào nhặt đuợc các cổ vật, thuyết này có khả năng là đúng.
Đất Tat Giồng nay thuộc xă Tham Đôn, huyện Mỹ
Xuyên. Theo tiếng Khmer xưa gọi là Kompong Đon, tức là Cảng Dừa hoặc Vũng
Dừa. Người đời sau đọc trại ra Tham Đôn do dễ đọc mà không dịch nghĩa. Cũng
theo các truyền thuyết được lưu truyền lại th́ sông Tham Đôn ngày xưa rất
rộng. Tại chùa Tat Giồng, ngày ấy có dựng một ngọn tháp cao để cho hàng năm,
đến kỳ đua ghe Ngo - vị lănh chúa của vùng đất này đến ngự xem thi đấu.
Đất Tat Giồng c̣n có chùa Khmer Tat Giồng cổ
kính. Đây được xem là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng. Chùa
Tat Giồng có lẽ được phiên âm từ tiếng Khmer là Prasat sang tiếng Việt. Từ
Prasat theo tiếng Khmer có nghĩa là tháp Nhà Phật. Theo dân gian th́ chùa
này c̣n lưu giữ xá lợi (tức là xương phật thích ca được lưu giữ sau khi hỏa
táng) - tuy nhiên tích này cần được kiểm chứng thêm.
Về văn hóa. Nét văn hóa cộng cư của lưu dân và
cộng đồng dân cư Sóc Trăng mà chúng ta thấy rơ nét nhất: Sự đan xen lẫn nhau
giữa nét văn hóa và cả ngôn ngữ của ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer: Ăn Tết
chung, nhiều vốn từ sử dụng chung, đa ngữ trong giao tiếp ở nông thôn, v.v.
Những từ xung hô như chế, hia, ư, lục thum; những tên gọi của các món ăn,
thức uống cũng vậy. Có thể gọi bằng nhiều cách gọi theo tiếng Việt, tiếng
Hoa hoặc tiếng Khmer đều được sử dụng rộng răi. Tên đất, tên làng cũng vậy.
Có thể làng này đặt tên theo cách gọi quen thuộc của người Khmer, nhưng cũng
có những làng lại được gọi tên theo cách phiên âm của từ Hán Việt hoặc lại
gọi theo nghĩa của một từ có gốc Hoa, v.v.
Chính sự giao thoa văn hóa đó đă tạo nên một
nét đặc sắc trong đời sống văn hóa và tinh thần của đất Sóc Trăng.
3. Một số Địa Danh gốc Khmer ở Sóc Trăng
Hơn 3 thế kỷ sống cạnh nhau, người Việt vẫn
dùng nhiều tên địa phương bằng tiếng Khmer do đồng bào Khmer đặt ra từ xưa.
Nhiều tiếng bị đọc "trại" thành ra tiếng Việt, viết y như tiếng Việt nhưng
dĩ nhiên là không có ư nghĩa ǵ cả nếu người đọc không biết tiếng Khmer. Ví
dụ như Ksach (Cát) đọc thành Kẻ Sách, Cải Sách, Kế Sách; Salôn, Xà Lôn đọc
thành Trà Tâm; Bassac đọc thành Ba Thắc; Srok Khl'eang đọc thành Sóc
Trăng.....
Dưới triều Vua Minh Mạng, triều đ́nh có ư đổi
tên những dịa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer ở Nam Kỳ thành ra chữ cho cho
có vẻ văn hoa hơn như Sóc Trăng gọi là Sông Trăng và chữ Nho là Nguyệt
Giang. Xă Phnô hay là Phnor th́ đổi lại là Phú Nổ.... nhưng đồng bào không
dùng.
Khi người Pháp đô hộ th́ lại dùng tên địa
phương y như cũ nhưng lại âm trại ra một cách buồn cười. Ví dụ như cửa biển
Trần Đề ngày ấy là Tran Di, Tran Đi, Tranh Đế... Cù Lao Dung lại viết là Cù
Lao Giung, Cù Lao Húnh Giun Châu...
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa ở Miền Nam, chính
phủ lại đổi hẳn những tên ấy ra tiếng Việt, nhưng đối với người Việt gốc
Khmer, họ vẫn dùng tên cũ như thuở trước. Trải qua những lần đổi thay và địa
danh tiếng Khmer bị Việt hóa hầu hết nhưng người Việt gốc Khmer vẫn giữ tên
địa phương theo tiếng nói của ḿnh trong khi tṛ chuyện với nhau v́ thế tên
ấy vẫn tồn tại măi.
Về ư nghĩa th́ mỗi địa danh đều có 1 hoặc nhiều
sự tích để lư giải cho tại sao lại có tên ấy. Nhưng cũng có địa danh mà hỏi
đến là tại làm sao mà có th́ cũng đành chịu. Trong bài viết này, tôi chỉ xin
sưu tầm các địa danh đă được các học giả tiền bối sưu tập sẵn trong các tập
sách của họ và đem vào bài viết này phục vụ cho người Sóc trăng và cả những
ai quan tâm t́m hiểu về Sóc Trăng.
Dưới đây là một số địa danh do tôi góp nhặt lại
từ nhiều nguồn khác nhau xin tŕnh bày ra để chúng ta cùng nhau t́m hiểu.
Trước tiên tôi xin tŕnh bày một số thuật ngữ
liên quan trước khi vào nội dung chính để bài viết dễ hiểu hơn.
* Bưng: tiếng Pháp viết là "Beng" ( đây
là một lối phiên âm giọng người Khmer trong tự điển tiếng Pháp).
Bưng: là đất śnh lầy lấp xấp nước, cá tôm ở
nhiều, cỏ lác mọc loạn xạ. Bưng là do tiếng Khmer là là "trapéang" đổi ra
"péang", bâng, bưng nói dồn lại. ( Theo Vương Hồng Sển).
Bưng biền: do "bưng" ( tiếng Khmer) ráp với
"biền" ( Chữ Hán) biên, bờ dọc mé sông.
- Beng: một danh từ t́m thấy trong quyển
"Monographie de la province de KompongCham", có nghĩa là ao lấp xấp nước.
Đây là một lối viết theo giọng người Khmer, mà cái ta gọi là "bưng":
Ví dụ: Beng Thom: bưng lớn, Beng Kok: bưng Cót,
Beng Trop: bưng Tróp...
Nói tóm lại: beng, trapéang, prha-bang... chưa
được thống nhứt về các viết, cách phiên âm nhưng hiểu đó là vũng sâu, sâu
cấy lúa được, lội đi bắt cá tôm được không sợ chết đuối, v́ nước tới bụng
tới ngực là cùng. Bưng Trấp: đất bưng cỏ ( trấp là cỏ). ( Huỳnh Tịnh Của).
* Giồng: g̣, cuộc đất cao do sóng đánh
và gió thổi làm nên. Ở miền Nam có nhiều cát hợp thành đụn, thành giồng, rất
ít nước nhưng khi đào được giếng th́ nước rất tốt, trong và ngọt: đất giồng,
ruộng giồng, giếng giồng. Ở Sóc Trăng có giồng Ĺnh Kía (giồng Long Tử,
tiếng Triều Châu ĺnh là long, kía là tử, là con).
Ca dao có câu: "Trên đất giồng ḿnh trồng khoai
lang....."
* Sóc: ngày xưa "sóc" được viết là "sốc"
tức là xứ sở, là thôn xóm của người Khmer ở.
* Vàm: tiếng này ngoài Bắc trước đây
không có nên không có trong nhiều cuốn tự điển in ở Hà Nội. V́ dùng thường
quá tưởng đâu đó là tiếng Việt, khảo ra mới biết nó vốn là tiếng Khmer, ta
đă Viêth hóa từ hồi Nam Tiến. Péam là cửa biển, cửa sông. Người trước trong
Nam dịch là "Vàm". Ông Nguyễn Tạo không thấy chữ "vàm" đă dịch "Péam" là
"phiếm" Ông Chưởng thay v́ Vàm Ông Chưởng. ( Vương Hồng Sển)
3.1. Ba Thắc: Tên một địa danh thuộc
vùng Sóc Trăng cũ.
Ba Thắc: tiếng Khmer là Păm prek Bàsàk ( di cảo
của Trương Vĩnh Kư trong le Cisbassac).
- Ba Thắc: tên gọi tiếng Khmer của một vị thần
hay c̣n gọi là nặc tà, ông tà của người Khmer, có miếu thờ ở Băi Xàu cũ. Đại
danh Ba Thắc bên Campuchia cũng có. Tương truyền ông Ba Thắc là một vị hoàng
tử người Lào đến sống vùng đất trên đường đi Tham Đôn, Mỹ Xuyên ngày nay.
Khi ông chết người dân quanh vùng lập miếu thờ. Lúc đầu miếu được cất theo
kiến trúc Khmer bằng cây nhưng về sau, năm 1927, ông Lê Văn Quạnh và một số
thân hào trong vùng đă cất lại miếu theo kiến trúc Trung Hoa dạng "bán cổ -
bán kim" và đề là " ba thắc Cổ miếu". Di tích này đến nay vẫn c̣n.
- Ba Thắc: trong sách Pháp có 3 nghĩa:
a. Vùng đất liền từ mé Hậu Giang, giáp vịnh
Xiêm La ( Thái Lan) từ Châu Đốc xuống Bạc Liêu. Người Khmer gọi là Srok
Bàsàk, người Pháp gọi là Transbassac; năm 1836 đặt làm phủ Ba Xuyên gồm 3
huyện Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Thời Pháp thuộc gọi là Sóc
Trăng. ( Vương Hồng Sển).
b. Tên của chi nhánh Cửu Long Giang là Sông Hậu
( tên chữ là Hậu Giang - hậu là sau, giang là sông, Hậu Giang là sông ở phía
sau, đối với Tiền Giang là sông trước). Sông Ba Thắc chảy từ biên giới
Campuchia ra biển Đông qua các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh,
Sóc Trăng.
c. Tên một trong 3 cửa sông Hậu Giang gồm Định
An ( mé Trà vinh), Ba Thắc và Trần Đề.
3.2. Ba Xuyên:
- Ba Xuyên là tên địa danh Sóc Trăng xưa.
- Ba Xuyên là tên chữ Nho của một con sông
tiếng Khmer là " BàSàk", tên nôm là Ba Thắc.
3.3. Băi Xàu
- Băi Xàu là tên Nôm của huyện Phong Nhiêu thời
đàng cựu ở Sóc Trăng ngày xưa, nay là thị trấn Mỹ Xuyên. Đây là một thị trấn
buôn bán lúa gạo lớn vào bậc nhất thời Nam Kỳ Lục Tỉnh.
- Địa danh Băi Xàu là do chữ " Bai chau" có
nghĩa là " cơm sống" trong tiếng Khmer đọc trại ra. ( Xin xem thêm phần
Truyền thuết địa danh Băi Xàu).
3.4. Bố Thảo:
- Bố Thảo là tên Nôm của làng Thuận Ḥa, tên
chữ là "Phụ Đầu Giang" c̣n tiếng gốc Khmer là "păm ( péam) prêk Tumnup. Păm
là vàm, prêk là sông, kinh, rạch. C̣n Tumnup trong tự điển Pháp Khmer th́
cũng viết là tămnup, tâmnop: barrage có nghĩa là chặn lại, rào chắn, đập
chắn. Người Khmer địa phương đọc là "tà Nóp" v́ không nói được đúng chữ,
đúng giọng như sách viết. Người Triều Châu ở đó dịch ra là " Pâu Tháo" rồi
biến lần ra là "Phụ Đầu". Trong sổ bộ ngày xưa viết là Bố Thảo, sau đổi
thành làng Thuận Ḥa.Theo cụ Vương Hồng Sển th́ nơi vàm kinh này ngày xưa
quả là có bị người Khmer chặn lai.
- Địa danh Bố Thảo người Triều Châu ( người
Tiều) gọi là Pâu Tháo, nghĩa là đầu rạch ( "tháo" là đầu). Năm 1827, Chauvai
Lim là quan Chân Lạp nổi loạn chống lại triều đ́nh nhà Nguyễn. Lim đóng quân
tại Bưng Tróp, sai đắp một cái đập để chận đường thủy của quan trên Châu Đốc
xuống tiếp viên binh Nam. Đập ở ngay ngọn rạch nên người Triều Châu gọi là "
Pâu Tháo", và nơi đóng quân gọi là "Xin Xụ" ( tức là Tân trụ).
3.5. Bưng Samo: thuộc làng Ḥa Tú xưa,
nay là xă Ḥa Tú. Bưng Samo là đọc từ chữ Khmer là "Bưng Thmo" có nghĩa là
ruộng có lộn đá. Bưng Samo là vùng ruộng điền của Bà Phủ An ( người giàu
nhất Sóc Trăng thời Nam Kỳ Lục Tỉnh, có câu thiệu để nói về 4 người giàu
nhất Sóc Trăng xưa như sau:" Nhất An, Nh́ Phát, Tam Chánh, Tứ Định"). Bưng
Samo trước đây có sản xuất một loại lúa ngon cơm nổi tiếng là lúa "samo".
3.6. Bưng Cóc: Tên một là Khmer, nay là
Xă Phú Mỹ
3.7. Bưng Snor: nay là xă Viên An.
3.8. Bưng Tróp: Kompong Tróp.
3.9. Cần Giờ: "Phnor Cần Chơ" tức là
"giồng cát chân đèn" ( phnor là giồng cát, cần chơ là chân đèn).
3.10. Mă Tộc: Ma Ha Tup.
3.11. Giồng Có: Kompong Ko ( chữ này chỉ
dịch lấy âm chứ không lấy nghĩa, nếu dịch ra là Vũng Ḅ hay Vũng Gù).
3.12. Sóc Vồ: Srok Pou ( srok là sóc,
Pou là cây Lâm Vồ, cây Bồ Đề)
3.13. Phú Nổ: phnor, phnaur là mồ mả,
đất nổi cao.
- Theo ông Đào Văn Hội là do chữ Phorokar (
giồng cây rokar) mà ra.
- Ông Vương Hồng Sển lại cho chữ Phú Nổ là từ
chữ "Pho-phkar" ( giồng hoa) mà ra. Tiếng Khmer "phkar" là hoa.
- Theo một người bạn tôi ở Phú Tâm th́ bảo "Phú
Nổ" là "Phật Nổi" v́ ở Phú Tâm có chùa "Phật Nổi" nhưng tiếng Khmer "phật
nổi" nói như thế nào và âm vị có liên quan hay không tôi chưa có dịp xác
đinh.
3.14. Giồng Văn Trạch: Kompong Trach (
giồng này ở đâu tôi chưa biết).
3.15. Giồng Trường Kế :phnor sângke (
sầu ke). Trường Kế là kư âm tiếng Hoa từ tiếng Khmer.
Sângke là tên một loại cây lấy lá vấn thuốc
hút.
3.16. Long Phú: Bang long ( giếng nước).
3.17. Tát Giồng: Prassat Kong ( tháp nhà
Phật).
3.18. THam Đôn:Kompong Đôn (dịch lấy âm
chứ không lấy nghĩa là "vũng dừa").
3.19. Nhu Gia:Sampou Thleai ( xin xem
thêm phần truyền thuyết về địa danh Nhu Gia).
3.20. Tài Sum Xoài Cả Nả là tên xưa của
xă Đại Tâm, tỉnh Sóc Trăng. Khi trước tên gọi này rất được trọng dụng, ngày
sau ít dùng và ít ai biết. Nguyên gốc chữ "Xoài Cả Nả hay Xoài Ca Nả là do
mượn từ tiếng Khmer là "Xoài Chrum", ta việt hóa thành "Tài Sum", người Hoa
lai Việt lại gọi là "Xoài Cả Nả" lấy ư rằng lúc xưa làng ấy là một rừng
xoài, người nào đến đó, khi trở về nhà đều mang về cả một giỏ xách - "cả Nả"
xoài ( Nả - một loại giỏ xách bằng tre có nắp đậy của người Hoa thường dùng.
Ngày nay ta vẫn c̣n thấy người Hoa dùng giỏ này dựng đồ đi cúng chùa, cúng
Thanh Minh, KhoaNam). Phong tục cổ thời, người đi đường đều mang theo cái Nả
đương bằng Tre để dựng thập vật từ áo quần, trầu thuốc, đến thức ăn..... Từ
danh từ "Xoài Chrum" rồi phiên âm lại thành "Tài Sum" sau lại sáp nhập với
làng "Trà Tâm" kế cận nên biến nên xă Đại Tâm , v́ chữ "Tài" sau đổi lại
thành chữ "Đại" và "Trà Tâm" sót lại chữ "Tâm".
Làng Trà Tâm là do tiếng Khmer là "Xà Tim" có
lúc được dịch là "Trà Tim" mà có.
3.21. An Tập: Kompong top ( Vũng Tọp???
Địa danh này ở đâu???)
3.22. Chung Đôn: Kompong Đôn ( cũng là
có nghĩa là vũng dừa và được dịch lấy âm, nhưng đây là một địa danh trên
phường 8, Sóc Trăng ngày nay, khác với Tham Đôn bên Mỹ Xuyên).
3.23. Văn Trật: kompong Trach. Nơi đây
có chùa Khmer có tượng phật cổ " 4 mặt" cùng thời với Đế Thiên - Đế Thích
bên Campuchia. Theo mô tả như thế th́ nay có lẽ là chùa Bốn Mặt , xă Phú
Tân.
3.24. Lịc Trà: Prêk Trâkuon ( tâkon, tra
coun) c̣n được gọi là Trà Cuôn có nghĩa là rạch rau muống.
3.25. Tuân Tức: Pong Tuk có nghĩa là
trứng nước ( bọt nước, người Khmer gọi bọt nước là trứng nước).
3.26. Bưng Xa Mau: beng smau ( bưng cỏ).
3.27. Cù Lao Dung: ngày xưa c̣n được gọi
là Cù Lao Giung, Cù lao Giun, Cù lao Cọp ( v́ có nhiều cọp), Cù Lao Hổ Châu
( tên chữ nho của Cù Lao Cọp), Cù Lao Húnh Dung Châu tiếng Khmer là "ḳh
Tum". ( Ḳh Tum là chim Bồ Nông c̣n gọi là chim "Thằng Bè, chim Chàng Bè"
nên người Khmer gọi đây là Cù Lao Thằng Bè).
3.28. Chắc Tưng: Chak To Tưng có nghĩa
là "lá dừa đâm ngang", sau đổi thành Chắc Tưng, rồi Chác Văn sau nhập với
một làng khác thành Tài Văn.
3.29. Vũng Thơm: Kompong Thom ( dịch lấy
âm không lấy nghĩa). Kompong Thom có nghĩa là " Vũng Lớn" ở Campuchia cũng
có Kompong Thom.
3.30. Chắc Đốt: tên một làng ở Sóc Trăng
xưa, nay là Gia Ḥa. Ở đây có một con sông cũng gọi là sông Chắc Đốt do
tiếng Khmer là "mo chap, mo đott" nghĩa là một tay bắt cá (mo chap) một tay
xỏ cá vô dây " lạt cà bắp" ( mo đott), đủ hiểu cá ở sông này nhiều không
biết cơ man nào mà kể, bắt không kịp xỏ vào dây. (Vương Hồng Sển).
- Lạt cà bắp: là thứ dây dùng đọt non dừa nước
chẻ và phơi se se, thứ lạt này vừa dẻo dẻo dai, vừa cứng cáp, khi bắt con cá
c̣n dăy tê tê, xỏ mang cá xáh về khỏi cần giỏ đựng. tuy xét ra lối sanh cầm
con cá như vậy, ắt đau đớn cho nó lắm, nhưng ông bà ta lớp xưa nào biết luật
nhơn quyền và hội bảo vệ thú vật. ( Vương Hồng Sển).
- Làng Chắc Đốt ( chánh danh trong bộ là làng
Gia Ḥa thuộc tỉnh Sóc Trăng ( năm 1946), tục danh là làng "Lá Banh". Người
Khmer gọi là làng "Chắc Đốt", giáp ranh với tỉnh Bạc Liêu. Như đă nói ở
trên, địa danh Chắc Đốt có nguồn gốc từ tiếng Khmer có nghĩa là tay bắt cá,
tay xỏ cá tươi vào dây "lạt cà bắp". Theo ông Vương Hồng Sển th́ làng Chắc
Đốt nằm trên một con sông thiên nhiên gần rừng Sác, nước mặn và gần biển, cá
tôm nhiều vô kể đến nỗi ông bà xưa kể lại:
"Bất kể người nào, dầu tay ngang, chịu khó lội
xuống khúc sông, đem dây lạt cà bắp theo th́ cứ một tay bắt cá (mott chap)
một tay xỏ xâu ( mott đott)."
Chính mắt tôi ( Vương Hồng Sển) trông thấy
trong những ngày tản cư vùng này, tháng 2 dương lịch 1946, cá tôm kẹo lềnh
đặc sông không ai thèm vớt, c̣n thức ăn rẻ đến không tưởng tượng: nghĩ coi
một con vịt "đít sà", một con gà mái đẻ không hơn một đồng hai ( 1$20) một
đồng rưỡi bạc (1$50). Một sớm tôi ra chợ "Chồm Hổm" , đưa sáu hào (0$60) ôm
về một trăm hột vịt tươi, mừng thầm sẽ muối tro đem theo ghe ăn trót tháng,
không dè khi hè hụi mang xuống thuyền, những bạn dồng hành đều cười tôi hớ
hẫng v́ lúc ấy, nhơn tâm "xao xiến", vịt bầy đẻ ngoài ruộng, trứng không ai
thèm lượm, muốn ăn ra đó mặc sức hốt, tội t́nh ǵ ra chợ mua "của hôi" tốn
tiền. ( Năm 1988, một hột vịt tươi giá 200 - 250 đồng, năm nay leo thang,
tôi chưa rơ bao nhiêu, chừng nào 100 hột = 0$60 trở lại? ( 1-2-1989) ).
C̣n nói về cá tôm sông này, th́ chính tôi (VHS)
trong thấy rơ ràng, nhiều vô số kể. Một bữa trưa tôi ngồi trong khoang
thuyền, bỏ mắt trông ra bốn phương, v́ thân đi tản cư, ngày giờ nào biết làm
ǵ hơn ngồi rỗi ḍm trời ḍm đất. Bữa trưa ấy, tôi ngó ra sông thấy băi cạn,
có bầy trẻ đang trững giỡn, đứa tắm, đứa lội, đứa lặn hụp, đứa ngồi bắt cá.
Chúng nó bắt cá dễ ợt! Ban đầu chúng lấy tay khoét một lỗ sâu trẹt trẹt tựa
như ḷng chảo. Đoạn chúng bẻ nhánh Dừa Nước che tàn cho rợp bóng trên lỗ
trũng ấy. Rồi chúng lấy tay vạch một đường khá sâu cho lổ thông ra nước
sông. Chúng đem theo một cái giỏ tre để đựng cá lại với một rổ con để xúc
cá. Đó rồi nửa chơi nửa thật, chúng nắm một nắm cám khô văi vào vào ḷng
lạch cái lổ trũntrũng. Thoạt nghe một tiếng "ồ", nước tung trắng xóa, tôi
thấy cá nhỏ, cá con từ đâu không biết chen vô, nhào vô đầy nhóc cái lổ
trũng, chỉ c̣n chịu khó lấy rổ xúc ra cho vào giỏ. Rồi sửa sửa cái lỗ cái lỗ
cho êm cho kín đáo như cũ, đoạn văi cám và xúc nữa. Thật dễ dàng, quá sức
hiểu biết của tôi. Lục tỉnh cá tôm dư dả, quả là thiên đàng của dân Nam! (
từ sau 1947, dân tản cư vô dây dùng lựu đạn cho nổ trên sông, tôm cá không
c̣n nhiều như trước đây, thật là phí phạm lộc trời (1-2-1989) )
- Làng Chắc Đốt này đến cuối năm 1946, bị nạn
hỏa thiêu vô cùng ghê rợn, người Việt và người Khmer do bị ngoại kiều mũi
cao đốc lói nên thù khích nhau dữ dội, sanh ra dịch đốt nhà lẫn nhau, đốt
qua đốt lại thế nào mà đến rốt không c̣n một nóc gia đứng vững. ( VHS)
3.31. Cái Quanh: Giếng Nước.
3.32. Văn Cơ: tên một làng Khmer trên
đường đi Đại Ngăi, sau dịch là Trường Kế và cũng gọi là Văn Cơ, người Hoa
gọi là Sầu Ke.
3.33.Tham Đôn: Kompong Đôn ( Vũng Dừa).
(địa danh này ở Mỹ Xuyên).
3.34. Cổ C̣: ḳh Co ( tiếng Khmer Ḳh có
nghĩa là con C̣).
3.35. Sóc Trăng: Srok Khl'eang có nghĩa
là "xứ kho bạc".
Trên đây là một số địa danh có nguồn gốc từ
tiếng Khmer mà ra do tôi góp nhặt được từ nhiều nguồn, nhiều nhà khảo cứu,
nhà sử học như Vương Hồng Sển, Trương Vĩnh Kư, Trịnh Hoài Đức, Lê Hương...
Dĩ nhiên là Sóc Trăng vẫn c̣n nhiều địa danh Khmer khác mà tôi chưa hiểu
nghĩa như Tổng Cán, Dù Tho, Tam Sóc, Trà Canh, Ba Rinh... nếu hiểu ra chắc
là thú vị lắm. Nếu ai biết thêm xin chỉ dạy thêm dùm. Rất cảm ơn!
4. Vài nét về chùa Đất Sét Sóc Trăng & Đặc
trưng văn hóa Việt Nam
Chùa Đất Sét là một công tŕnh văn hóa, tôn
giáo mang đậm nét văn hóa Việt Nam.
Nguyên thủy, phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ.
Phật giáo của người Ấn theo phái tiểu thừa tức là chỉ thờ duy nhất đức Thích
Ca Mâu Ni Phật. Những vị sư săi tu theo hệ phái này vẫn có thể ăn thịt nếu
không phạm vào 3 điều cấm sau:
1/. Không trực tiếp giết ai.
2/. Không xúi giục người khác giết ai.
3/. Không nh́n người khác giết ai.
Có nghĩa là, nếu phật tử dâng cúng những thức
ăn có thịt th́ sư vẫn có quyền dùng mà không phạm giới luật. Đó là triết lư
của hệ phái tiểu thừa.
Khi đạo phật du nhập vào Trung Hoa, người Trung
Hoa mới sửa đổi triết lư phật pháp chút ít dựa trên nền tảng văn hóa Trung
Hoa, từ đó sản sinh hệ phái Phật Giáo Đại Thừa ( ăn chay hoàn toàn - kiêng
thịt). V́ vị tổ sư sáng lập ra đạo phật là người Ấn Độ, khi đạo phật tới
Trung Hoa, người Trung Hoa muốn cổ vũ cho phật pháp nên họ cũng đă suy tôn
những vị cao tăng đắc đạo hay những người có công "hoằng dương" phật pháp
thành những vị phật của riêng họ như Mục Kiềng Liên ( Mục Liên Thanh Đề),
Đường Huyền Trang ( Đường Tam Tạng), Đấu Chiến Thắng Phật ( Tôn Ngộ
Không)....
Khi đạo phật đến Việt Nam, cũng như người Trung
Hoa, người VN cũng muốn có những vị phật riêng cho dân tộc ḿnh nên mới có
Quan Âm Thị Kính, tổ sư hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử (Vị hoàng đế, anh hùng
dân tộc Trần Nhân Tông (1258 -1308), sau hai lần lănh đạo nhân dân đánh
thắng quân xâm lược Nguyên -Mông đă tử bỏ ngai vàng về đây sáng lập ra phái
Thiền Trúc Lâm - thiền phái độc lập đầu tiên của Phật giáo Việt Nam).....
Chùa Đất Sét mang đậm nét văn hóa Việt Nam v́
nguyên thủy, chùa chỉ thờ Phật. Nhưng triết lư của chùa Đất Sét và rất nhiều
ngôi chùa khác trên khắp VN là " tam giáo đồng qui" ( Phật - Lăo - Nho). Cho
nên, tại chùa Đất Sét ( Bửu Sơn Tự), các bạn sẽ thấy chùa vừa thờ các vị
phật như Thích Ca Mâu Ni, Như Lai, Quán Thế Âm lại có các vị thần Thiện , Ác
( đạo Lăo) và cũng có các "Mẫu" đặc trưng của người Việt.
* Những nét đặc biệt của chùa Đất Sét
Chùa Đất Sét là một ngôi chùa của ḍng họ Ngô.
Lúc ban đầu, chùa được xây dựng bằng những vật liệu đơn sơ sẵn có tại địa
phương như cây, tre, lá. Qua bao năm tháng, chùa cũng hư mục nhiều lần và đă
được con cháu ḍng họ Ngô tu bổ nhiều lần. Xin nói thêm, khi ra đời, Bửu Sơn
Tự là một ngôi chùa nghèo nên không có tiền mua tượng Phật về thờ. Nhưng với
ḷng mến mộ Phật pháp, ông Ngô Kim Ṭng ( trụ tŕ đời thứ 5) đă miệt mài xây
đắng ngôi chùa Đất Sét hiện nay trong suốt 42 năm ṛng ră. ( Nếu ngày xưa
ông Ngô Kim Ṭng có tiền th́ ắt hẳn ông đă "thỉnh" những pho tượng bằng
thạch cao hay xi măng hoặc giả là ông sẽ thuê thợ về tạc tượng chứ không tự
ḿnh nặn ra các bức tượng của chùa Đất Sét ngày nay, vậy là cái khó đă ló
cái khôn vậy).
Theo lời kể của người giữ chùa hiện nay, khi
c̣n trẻ, ông Ngô Kim Ṭng là một người hay đau yếu nhưng rất mộ đạo. V́ ḷng
mộ đạo nhưng lại không có tiền nên một hôm, ông Ngô Kim Ṭng nằm mơ thấy
Phật đến chỉ bảo cho ông đi về hướng tây để lấy đất sét về xây đắp tượng mà
thờ. Có lẽ do đức tin cùng với lao động mà sức khỏe của ông ngày một cải
thiện. Trong suốt 42 năm miệt mài sáng tạo, ông Ngô Kim Ṭng đă dùng đất sét
trộn với "mạt cưa làm nhang" ( bột hương) và keo Ô Dước để ngày nay, theo
thống kê, chùa Đất Sét có 1991 tượng đất sét lớn nhỏ do một tay ông Ngô Kim
Ṭng làm ra. Trong đó, có những tác phẩm hết sức kỳ công như: 3 đỉnh; 6 lư
hương; 1 toà sen ngh́n cánh, mỗi cánh có 1 tượng Phật; 1 tháp Gia Bảo 13
tầng có 208 cửa, 208 tượng Phật và 156 con rồng nâng toà tháp. Ṭa bảo tháp
là một kỳ công mà ông Ngô Kim Ṭng đă tạo ra để thỉnh Xá Lợi Phật về làm lễ
trong ṿng 2 giờ đồng hồ rồi mang trả lại. Ṭa bảo tháp này có h́nh bát
giác, theo nhiều người,h́nh bát giác là tượng trưng cho triết lư bát quái
của Á Đông và đạo giáo ( càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài) nhưng
theo tôi, h́nh bát giác đó là tượng trưng cho Bát Chánh Đạo ( Chánh kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm & Chánh định ) của Phật giáo hơn là Đạo Giáo. Tuy nhiên, để biết ai
chính xác hơn, nếu bạn nào có dịp th́ xin hăy đến chùa Đất Sét để xác minh
lại nhé!
Ngoài hàng ngàn bức tượng bằng Đất Sét ra, chùa
c̣n có 8 đôi đèn "cầy" ( nến) khổng lồ rất đặc biệt. Để đổ được 8 đôi đèn
này, ông Ngô Kim Ṭng đă phải mua sáp "thiệt" ( sáp nguyên chất, không lẫn
tạp) từ "Sài G̣n" về nấu chảy ra rồi mới "đúc" đèn. Do các đôi đèn này có
kích thước quá to nên ông Ngô Kim Ṭng không t́m được khuôn thích hợp nên
ông đă dùng tôn lợp nhà làm khuôn "đúc" đèn. Sau một tháng, các đôi đèn mới
khô hẵn, khi dở bỏ khuôn, các đôi đèn này tự nhiên có h́nh dợn sóng của các
tấm tôn!!!!! Sau đó, một đôi đèn nhỏ đă được thắp lên ṛng ră trong 32 năm
mà không tắt kể từ ngày ông Ngô Kim Ṭng viên tịch.
Một chi tiết khá thú vị khác là người giữ chùa
hiện tai là một ông lăo tuổi đă ngoài 80 nhưng vẫn c̣n rất khỏe mạnh và minh
mẫn. Năm 2001, tôi có dẫn một người bạn, lúc đó là phó giám đốc viện bảo
tàng tỉnh An Giang và một đoàn khách cùng đi tham quan chùa. Đến chùa, ngoài
sự độc đáo của ngôi chùa ra, sự am hiểu của người giữ chùa cùng với vốn
tiếng Pháp điêu luyện của ông cũng làm cho mọi người thán phục. Lúc tôi đưa
đoàn khách tỉnh an Giang đến viếng, ông lăo giữ chùa đang bận thuyết minh về
ngôi chùa cho một đoàn khách đến từ Thụy Sĩ. Các ngựi bạn tôi đă thốt lên "
nói tiếng tây như bẻ cây".
Sau khi nghe thuyết minh xong, các vị khách đă
hết sức thán phục trước tài năng, sự sáng tạo và ḷng kiên tŕ của ông Ngô
Kim Ṭng để ngần ấy hiện vật ra đời trong suốt 42 năm ṛng ră.
* Vấn đề bảo tồn di tích
Trải qua bao năm tháng, ngôi chùa có nhiều hiện
vật bi xuống cấp do ư thức giữ ǵn của một số du khách chưa cao. Do ông Ngô
Kim Ṭng khéo tay, các tượng "đất sét do ông nặn ra khá tinh xảo lại được
sơn phủ bên ngoài bằng sơn, kim nhũ nên các hiện vật trông rất giống đồng
thao, thạch cao hay xi măng. Có nhiều du khách hiếu kỳ đă bẻ găy hiện vật để
xác định xem tượng làm bằng vàng!!!!! hay đất sét. Trên các đôi đèn sáp th́
có "hằng hà sa số" vết vân móng tay của du khách như ghi dấu lại kỷ niệm của
những lần viếng thăm.
Trên đây là những kiến thức hạn hẹp của tôi về
một công tŕnh văn hóa đặc trưng của tỉnh nhà. Nếu các bạn thấy chổ nào chưa
chính xác hoặc c̣n thiếu th́ xin bổ khuyết cho. Và dĩ nhiên vốn kiến thức
hạn hẹp của tôi không thể nào chuyển tải hết cái hay, cái đẹp của chùa Đất
Sét tới các bạn được. Nếu bạn nào chưa đến thăm chùa th́ hăy đến thử một lần
để thưởng thức cái hay của công tŕnh này. C̣n ai đă lâu chưa trở lại th́
xin hăy viếng thăm ngôi chùa một lần nữa để có thể phát hiện nhưng cái hay
của ngôi chùa mà lần viếng thăm trước bạn đă bỏ sót.
5. Truyền thuyết về địa danh Nhu Gia
Nhu Gia là tên Nôm của huyện Phong Thạnh thời
đàng cựu nay thuộc tỉnh Sóc Trăng, nằm trên Quốc Lộ 1 đi Bạc Liêu - Cà Mau.
Địa danh Nhu Gia là địa danh được sử dụng chính thức hiện nay nhưng Nhu Gia
vẫn được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như Giu Gia, Nho Gia. Tên địa danh
này có nguồn gốc từ tiếng Khmer nhưng có nhiều giả thuyết để giải thích.
Địa danh Nhu Gia, mà tôi t́m hiểu được, có có
bốn truyền thuyết. Nay xin kể ra một vài truyền thuyết để chúng ta tham khảo
cùng nhau.
5. 1. Nhu Gia có nghĩa là Bồ Đề
Tiếng Khmer th́ cây Bồ Đề là "Sampu thleai" từ
chữ sampu thleai đọc trại ra là Nhu Gia hay là Nho Gia, ở đây tên địa danh
chỉ được dịch lấy âm chứ không lấy nghĩa.
Nói thêm về cây Bồ Đề, nguyên cây Bồ Đề là cây
mà người Khmer trọng nhất trên đời v́ trong satra ( kinh Phật) của họ, ngày
xưa Đức Phật thành chánh quả dưới cội Bồ Đề nên họ quư trọng. B́nh sanh biểu
họ giết người có khi họ c̣n dám làm chứ biểu họ chặt, đốn cây Bồ Đề th́ họ
chối ngay v́ tội này nặng gấp mấy lần tội sát nhơn. ( Cây Bồ Đề gọi là
đơm-po hay săm-pou cũng đúng) ( Vương Hồng Sển).
Vậy Nhu Gia là xứ Bồ Đề.
Ngày trước, trường trung học cơ sở Phường 6,
nằm cạnh nhà máy nước, nay là Cung Thiếu Nhi có tên là trường Bồ Đề. Cách đó
không xa, có trường Pô Thi nằm trong khuôn viên chùa Khl'eang. Trường này
vốn là trường học của tôi năm lớp chín. Pô Thi là phiên âm tiếng Khmer ra
tiếng Việt từ chữ "Sampou Thleai" ( Bồ Đề) mà ra. Tuy nhiên, đồng bào Khmer
và cả những người Kinh Sóc Trăng chỉ dịch âm mà không dich nghĩa ra chữ Quốc
Ngữ để làm công tác hành chính nhưng vẫn giữ bản sắc Khmer. ( KhoaNam)
5. 2. Nhu Gia có nghĩa là "Ghe Chài"
Ghe Chài là chiếc ghe lớn để chở lúa ở Miền
Nam. Ghe Chài là do người Hoa đọc theo người Khmer là "pok-chai" c̣n người
Khmer gọi là "tuk pok chay" vậy chữ "pok" đọc trại trại gần giống như "po
hay pou" nên đọc ra là "Nhu" c̣n "chai hay chay" đọc thành "Gia" vậy nên
"pok chai" đọc thành "Nhu Gia" - Xứ "Ghe Chài" v́ sông Nhu Gia xưa có rất
nhiều ghe chài tới đây đậu "ăn lúa".
Ghe Chài là do nói trại ra. Nói đủ chữ là "Ghe
Bốc Chài" do "tuk pokchay" là tiếng Khmer. C̣n "pok chai" là tiếng Hoa, đọc
theo giọng Triều Châu, chữ Hán là "Bá Tai" có nghĩa là chở được trăm thứ rồi
ḿnh Việt Hóa ra thành Ghe Chài. ( Vương Hồng Sển).
5. 3. Nhu Gia là Xứ Thuyền Lủng
Như đă nói ở trên, Nhu Gia được phiên âm ra từ
chữ "sampou" tức là Bồ Đề, nhưng trong tiếng Khmer cũng có nghĩa là chiếc
thuyền to. Tích kể rằng có một ông Tiên đang đêm làm phép lạ. Độ hết một gia
đ́nh nọ đi qua xứ khác thuở xưa. Tiên dạy cả nhà người nọ phải nhắm mắt lại
cho Tiên làm phép, không ngờ trong đám người có một người không đủ đức tin
nên khi nghe gió thổi vù vù bên tai và lén hí hí con mắt ra nh́n, khi biết
ḿnh đang ngồi trên một chiếc thuyền đi trên Mây th́ sợ quá bỗng la lên và
tức khắc chiếc thuyền ngừng lại không đi nữa. Có sách nói là thuyền mắc kẹt
trên chóp núi và lủng lổ ( sampou thleai), có sách nói là vướng trên ngọn
cây cao v́ xứ Nhu Gia không có núi, nhưng có sông Cổ C̣ ( đây cũng là tên
một con sông có nguồn gốc Khmer được Việt Hóa) ngày xưa có chùa người Khmer
và đua ghe vui tấp nập. Nay đua ghe được dời ra Sóc Trăng.
Tích thuyền lủng (sampou thleai) này được chấp
nhận nhiều hơn và nên thơ cả v́ ở gần Nhu Gia có làng Tầm Lật mà theo ông
Vương Hồng Sển tra cứu trong tự điển Panetier th́ có chữ "krălăp": chavirer,
"phluk krălăpl": thuyền lật úp, do đó krălăp dịch ra là Tầm Lật, cho ta thêm
một tíc nữa về thuyền ngộ nạn ở xứ này.
5. 4. Nhu Gia là xứ " Nhánh Bần Gie"
Theo ông Đào Văn Hội trong Văn Hóa Nguyệt San,
số 13, tháng 7, năm 1956 th́ Nhu Gia bắt nguồn từ chữ "Ompou Yéai" tức là
"nhánh Bần gie" v́ ngày xưa người ta đi thuyền trên sông Nhu Gia thấy có
nhiều cây Bần (c̣n gọi là cây Thủy Liễu) mọc gie ra mé sông nên đặt tên là
Nhu Gia.
Hầu hết những truyền thuyết về dịa danh Nhu Gia
là có từ xưa và được dân gian kể lại nên không tránh khỏi "tam sao thất
bổn". Tuy nhiên, có càng nhiều giả thuyết th́ kho tàng văn hóa dân gian Sóc
Trăng càng thêm phong phú, xét cho cùng là có lợi chứ không có hại. Dẫu sao
th́ vùng đất này vẫn là Nhu Gia.
***
Trong các tài liệu trước đây của cụ Vương Hồng
Sển th́ cụ cũng có đề cập đến địa danh Nhu Gia do 2 giả thuyết mà ra. Một là
địa danh bắt nguồn từ tích " Chiếc Thuyền Lủng". Hai là là Nhu Gia là cách
đọc trại ra của chữ "Ompu Yea - Nhánh Bần Gie".
Theo học giả Vương Hồng Sển th́ tích "Chiếc
Thuyền Lủng" được chấp nhận nhiều hơn cả. Nhưng cụ Đào Văn Hội th́ cho là
"Nhánh Bần Gie" mới chính xác v́ trước đây ở sông Nhu Gia có rất nhiều Bần
mà tiếng Hán gọi là cây Thủy Liễu mọc gie ra sông. Hơn nữa, theo ông Nguyễn
Thanh B́nh hiện đang làm việc tại Sóc Trăng cho bết là cụ Đào Văn Hội là
người Khmer và qua việc xác minh thực tế của ông Nguyễn Thanh B́nh tại địa
phương, hỏi ư kiến của một số vị cao niên, sư săi th́ nhận thấy rằng thuyết
"Nhánh Bần Gie" là chính xác hơn.
Tuy nhiên, theo suy luận của tôi th́ cũng khó
mà nói là cụ Sển đúng hay cụ Hội đúng v́ cụ Hội là người Khmer th́ cụ Sển
cũng có gốc Khmer và cũng biết tiếng Khmer. Cụ Sển thường bảo rằng: "việc ǵ
tôi không chắc th́ tôi không dám nói hoặc là tôi sẽ chú thích để em cháu sau
này t́m hiểu thêm cho tường tận. Nhược bằng tôi đă khẳng định th́ các em
cháu cứ yên tâm mà dùng không sợ sai.." như thế chứng tỏ trước khi cụ Sển
đưa ra kết luận th́ chắc chắn cụ Sển cũng phải xác minh thông tin rồi mới
nói và cũng không thể loại bỏ trường hợp cụ Sển đă từng tham vấn các cụ cao
nên thời đó và kể cả các sư săi trong chùa.
Như vậy theo tôi th́ trường hợp địa danh Nhu
Gia do đâu mà có ta nên để ngỏ chứ đừng vội kết luận là ai chính xác hơn ai
v́ cách giải thích nguồn gốc địa danh cũng giống như văn hóa dân gian ( có
tính tam sao thất bổn), khó ḷng mà xác định trừ phi người ta tiến hành
nghiên cứu vấn đề dựa trên các phương pháp khoa học kỹ lưỡng.
Cuối cùng tôi lại biết thêm một cách lư giải
khác về địa danh Nhu Gia do ông Nguyễn Thanh b́nh tŕnh bày trong bài viết
của ḿnh về "Nguồn Gốc Địa Danh Hành Chánh Tỉnh Sóc Trăng" như sau:
Các cụ già kể lại rằng khi vùng đất Sóc Trăng
chưa được khai phá, những lưu dân từ Thuận-Quảng đị vào vùng đất mới để sinh
cơ lập nghiệp. Họ chọn nơi đây làm điểm dừng chân bởi có nhiều điều kiện
thuận lợi ( nhị cận giang) cho công cuộc mưu sinh. Sau ngày lao động cật
lực, buổi chiều về họ lại đắm ch́m trong nổi nhớ quê. Dù cuộc sống tự do tự
tại, không bị ràng buộc bởi những luậ lệ hà khắc, lễ nghi phong kiến nhưng
h́nh ảnh quên cha đất tổ, trong đó có con sông Vu Gia hiền ḥa đă làm co họ
mang nỗi day dứt, thương nhớ khôn nguôi. Để ghi dấu ấn về quê hương, họ đặt
tên con sông này là Vu Gia nhưng bởi cách phát âm của người địa phương nên
từ Vu Gia biến thành Giu Gia, Nhu Gia, Nho Gia.
Làng Nhu Gia từ năm 1835 là nơi đặt huyện lỵ
Phong Thạn thuộc phủ Ba Xuyên. Nhu Gia chính thức thành lập làng vào năm Tự
Đức thứ 13 năm 1860.
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế kết hợp với
tham khảo ư kiến của một số vị cao niên sinh sống lâu đời ở vùng đất này th́
cho rằng nơi đây trên 70 năm trước ( mốc thời gian là năm 2000) khúc sông
Nhu Gia - Dù Thoa hầu hết đều đầy rẫy những dăy Bần cổ thụ mọc san sát 2 bên
mé sông. Chính v́ vậy việc đặt tên Nhu Gia (Ompu Yea: Nhánh Bần Gie) là
chính xác.
6. Dơi ở Sóc Trăng
Nếu có dịp ghé Sóc Trăng, các bạn nên đến với
Chùa Dơi - một địa chỉ du lịch độc đáo nổi tiếng của vùng này. Nằm cách thị
xă Sóc Trăng 3km về phía Nam, Chùa Dơi mà tiếng Khơ Me gọi là
Serâytécbômabatúp, có nghĩa là do phúc đức tạo nên.
Không ai nhớ nổi Chùa này ra đời khi nào và do
ai trụ tŕ đầu tiên. Song điều đó cũng không phải là sự đặc biệt ǵ. Nét độc
đáo của Chùa này chính là nơi hội tụ của hằng hà sa số Dơi.
Bao bọc quanh chùa là cả một cánh rừng với đủ
lại cây, song nhiều nhất vẫn là Sao và Dầu. Có hàng vạn con Dơi tá túc ở
cánh rừng này. Có những con lớn đến mức sải cánh dài cả mét treo đen kịt
trên các nhánh cây. Cả ngày chúng tớn tác kiếm ăn đâu không rơ, cứ chiều
đến, từ khắp nơi hàng vạn con Dơi lại trở về sân chùa.
Khách du lịch đến thăm Chùa thú nhất là được
ngắm nh́n đàn dơi bay kín cả bầu trời mỗi khi hoàng hôn. Trong cái tĩnh mịch
của ngôi chùa cổ giữa rừng, tiếng vỗ cánh của đàn Dơi có thể làm những ai
yếu bóng vía phải hăi hùng.
Cứ đến mùa mưa (tháng 5, tháng 6) là mùa sinh
sản của Dơi. Hầu hết Dơi ở chùa đều đẻ mỗi lứa mỗi con, song số lượng Dơi
th́ không hề tăng thêm mà đang có nguy cơ tụt giảm bởi rất nhiều người đến
đây bắt dơi bằng cách chăng lưới hoặc dùng lồng chụp. Mỗi ngày như thế, đám
người này có thể bắt hàng ngàn con. Thịt dơi cũng là món khoái khẩu của mấy
bợm nhậu. Nghe bảo nó thơm và ngon như thịt gà.
Các vị sư ở đây rất tích cực bảo vệ đám dơi bởi
họ cho rằng cái sự dơi đổ về chùa chính là phúc lành nhà phật cho ngôi chùa
này.
Bên sự độc đáo kỳ lạ kia, du khách cũng có thể
thoả măn với nét kiến trúc của ngôi chùa cổ này trong sự hoà đồng của nền
văn hoá Việt - Miên thể hiện ở điêu khắc Ăng-co với nhiều phù điêu và hoa
văn trên làng loạt cột đài nơi chính điện.
Nếu có biện pháp tốt để trùng tu ngôi chùa
(hiện đang bị đổ nát khá nhiều) và bảo vệ được đàn dơi - ngôi chùa này chắc
chắn sẽ là một điểm du lịch kỳ thú của miền sông nước Sóc Trăng.
7. Chùa Mahatup (Chùa Dơi)
Chùa Mahatup hay Chùa Dơi hay chùa Mă Tộc là
chùa Khmer cổ, nằm cách trung tâm thị xă Sóc Trăng khoảng 2km. Ban đầu, chùa
được xây dựng bằng vật liệu tre lá, sau đó mới được xây bằng tường gạch, mái
ngói. Sau lần hư hỏng nặng năm 1963, vị sư cả[1] của chùa lúc đó là Thạch
Chia quyết định trùng tu, tôn tạo lại chùa, và kiến trúc hiện của chùa lưu
giữ được chủ yếu từ đợt trùng tu này. Hiện chùa c̣n lưu giữ 3 khối kiến trúc
chính là Chánh Điện, Sala và nhà thờ cố lục cả Thạch Chia.
Chùa được gọi là Chùa Dơi có lẽ nhờ sự hiện
diện của hàng trăm ngàn con dơi quạ sinh sống trên các cành cây ở khuôn viên
phía sau chùa, có con nặng đến 1kg, sải cánh rộng đến 1m. Ban ngày, chúng
ngủ bằng cách treo ḿnh trên những cành cây, chỉ khi đến tối chúng mới hoạt
động, có lúc khi chúng bay xa hàng chục kim để t́m kiếm thức ăn. Điều đặc
biệt là dơi quạ ở chùa không bao giờ ăn trái cây ở chùa, cũng như khu vực
quanh. Chúng cũng chỉ trú ngụ trong khuôn viên của chùa chứ không rời đi ở
nơi khác. Đây cũng là một trong những nét đặc sắc thu hút khách đến viếng
thăm chùa.
Trong số hơn hơn 600 ngôi chùa của đồng bào dân
tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, kiến trúc Chùa Dơi được xếp vào trong
những quần thể kiến trúc đẹp, độc đáo nhất. Mái chùa gồm hai tầng lớp ngói
mầu. Phía đầu hồi, bốn đầu mái được chạm trổ theo h́nh rắn Naga cong vút rất
tinh xảo. Trên đỉnh chùa một ngọn tháp nhọn. Hàng cột đỡ bao quanh chùa, mỗi
cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực như đang cất lời đón
chào khách thăm viếng. Trong chính điện (sanctury) có thờ tượng Phật Thích
Ca bằng đá nguyên khối đặt trên một ṭa sen cao khoảng hai mét. Bên cạnh đó
c̣n có một pho tượng sinh động miêu tả Đức Phật cưỡi trên rắn thần naga.
Vách tường chính điện được trang trí bằng những bức tranh miêu tả cuộc đời
Đức Phật, từ lúc chào đời tới khi được khai minh rồi nhập niết bàn.
8. Chùa Khl'eang
Tọa lạc tại số 71 đường Mậu Thân, phường 6, thị
xă Sóc Trăng, chùa Kh'Leang là một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất Sóc
Trăng. Theo sách kể lại, chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVI theo lối
kiến trúc của các chùa Phật giáo Nam Tông ở Thái Lan và Campuchia. Ban đầu,
chùa được xây dựng bằng vật liệu gỗ, mái lợp lá. Kiến trúc hiện nay của chùa
là do lần trùng tu cách đây hơn 80 năm, với vật liệu gạch, ngói.
Chùa Kh'Leang nằm trong khuôn viên rộng 3.825
mét vuông. Cổng ra vào vừa được xây dựng rất công phu, phía trong là ngôi
Chánh điện nằm biệt lập với kiến trúc khá phức tạp, rất độc đáo. Bờ mái gồm
3 cấp, mỗi cấp chia thành 3 nếp, 2 nếp phụ hai bên nhỏ hơn nếp giữa và không
có tháp nóc. Chánh điện được xây dựng từ năm 1918 bằng 6 hàng cột dọc gồm 60
cây cột trụ. Hiện nay chùa vẫn c̣n lưu giữ được bản sao tài liệu ghi chép từ
thư tịch cổ, trong đó có nói đến nguồn gốc địa danh Sóc Trăng, lịch sử của
chùa. Hàng năm, chùa c̣n là nơi diễn ra những ngày lễ truyền thống của dân
tộc Khmer như lễ Chol-Chnam-Thmay, lễ Dolta, lễ Cúng trăng và hội Đua ghe
Ngo.
9. Chùa Sà Lôn (Chùa Chén Kiểu)
Chùa Sà Lôn nằm trên Quốc lộ 1A trên đường về
Bạc Liêu, cách trung tâm thị xă khoảng 7km. Chùa được xây dựng từ đầu thế kỷ
19, đến năm 1969, vị sư cả Tăng Đuch cho xây dựng lại ngôi chùa theo kiến
trúc như ngày nay: Chánh điện, nhà hội (nhà Sala) và tháp bảo (nơi để sách
kinh và làm chỗ dạy học).
Du khách viếng khi thăm chùa Sà Lôn sẽ không
khỏi suưt xoa với tài nghệ tài t́nh của các bậc nghệ nhân đă khéo tay ghép
những mảnh vỡ chén kiểu, đĩa kiểu để tạo ra những tác phẩm tuyệt tác như cặp
Long, Lân, Quy, Phụng bên trong vách tường của Chánh điện cũng như các hoa
văn khác trên mái của Chánh điện,… Do khan hiếm gạch men trang trí nên vị sư
cả đă thu thập chén, đĩa kiểu bể để trang trí thay thế. Từ đó ngôi chùa c̣n
được biết đến với cái tên gọi rất mộc mạc là Chùa Chén Kiểu như hiện nay.
10. Chùa Bốn Mặt
Chùa Bốn Mặt nằm cách thị xă Sóc Trăng 6km về
hướng Tây Bắc theo tỉnh lộ về huyện Kế Sách. Chùa được xây dựng theo kiến
trúc Khmer truyền thống với những hoa văn tinh xảo, thanh thoát, với những
tượng phật bằng đá bốn mặt mang h́nh tượng đức phật. Nguồn gốc tượng Phật
này được lưu truyền với bao truyền thuyết hấp dẫn và huyền bí tạo nên sức
hấp dẫn của ngôi chùa.
11. Truyền thuyết về Địa danh Sóc Trăng
Cầu Bon xưa - nay được san lấp thành một phần
của khu công viên Bạch Đằng. Ảnh sưu tầm
Nói về địa danh Sóc Trăng kh́ không ai biết rơ
cái tên này ra đời khi nào. Nhưng dựa theo những bộ lịch sử Viêt Nam như
Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Địa Bạ Nam Kỳ Lục Tỉnh hay những quyển
sách khảo cứu của Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Lê Hương, Hứa Hoành....trước khi
có tên Sóc Trăng th́ "xứ Sóc Trăng" ngày xưa có tên là xứ Ba Thắc tức là ông
"Bassac"[1] (tên một vị thần người Khmer). Người ta cũng dùng tên này để để
nói về nhiều địa danh, thổ sản khác của Đồng Bằng Sông Cửu Long như cửa Ba
Thắc, gạo Ba Thắc... Sau đó Sóc Trăng c̣n có tên là Ba Xuyên do vua Minh
Mạng đặt nhưng lúc đó cái tên Sóc Trăng mà theo truyền thuyết vẫn người
Khmer sử dụng.
Nói về các mốc thời gian mà địa danh Sóc Trăng
thay đổi qua từng thời kỳ như Ba Thắc, Ba Xuyên, Sóc Trăng.... th́ tôi sẽ
nói chi tiết hơn trong nhưng bài khác liên quan đến lịch sử tỉnh Sóc Trăng.
Trong phạm vi bài này tôi chỉ nói về ư nghĩa của địa danh " Sóc Trăng" mà
thôi.
Nói về địa danh Sóc Trăng th́ có vài truyền
thuyết chứ không phải có một. Sau đây là các truyền thuyết về nguồn gốc của
địa danh này.
1. Sóc Trăng là do tiếng khmer đọc trại ra từ
chữ "Srok Tréang có nghĩa là "Băi Sậy" v́ ngày xưa đất Sóc Trăng có nhiều
lau sậy hoang vu. ( Lê Hương).
2. - Sóc Trăng là do tiếng Khmer là "Srok
Kh'leang" mà ra. "Srok" tức là xứ, là cơi, "Kh'leang" là kho, vựa, chỗ chứa
bạc. Srok Kh'leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt âm ra là
"Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng Sóc Trăng bị
đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt
nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang. ( Lê
Hương)
- Theo quyển Petit Cours de Géographie de la
Basse Cochinchine par Trương Vĩnh Kư th́ "Sốc Trăng" ( Sóc Trăng) là tên dân
gian của một tỉnh hạt ở Nam Việt gọi là Nguyệt Giang tỉnh (tỉnh Sông Trăng).
Tên này có nguồn gốc "Cơ Me" (Khmer) là Péam prêk sṛk khlẵn ( di cảo Trương
Vĩnh Kư trong le Cisbassac). "Péam" là vàm, "prêk" là sông, "sṛk" là sốc,
"khlẵn (kh'leang) là kho bạc. Nguyên đời vua "Cơ Me" có đặt một kho chứa bạc
nơi đây. Đến đời vua Minh Mạng, đổi tên chữ ra Nguyệt Giang tỉnh v́ triều
đ́nh đă ép chữ "sốc" biến ra chữ "sông", chữ "kh'leang" ra "trăng" và đổi
thành "nguyệt". ( Vương Hồng Sển).
Nhân ông Trương Vĩnh Kư có nói chữ "Péam" trong
tiếng Khmer có nghĩa là "vàm" th́ theo ông Vương Hồng Sển, " trong sách của
ông Baurac (La Cochichine et ses habitants) trang 362 thuật lại rằng trào
đàng cựu, cho đến lối 1858, vàm Đại Ngăi c̣n được gọi là Vàm Tấn, là một bến
nước quan trọng tiếp đủ các thuyền đi biển đủ hạng từ trung Quốc, Tân Gia
Ba, Xiêm La, Cam Bốt.... tụ tập rất náo nhiệt để trao đổi, mua chác lúa gạo,
tơ lụa, hàng vải, cá mắm, mắm muối, đồ gốm, chén bát, sừng trâu, ngà voi,
lông chim, sáp, mật ong.... Mà chữ "Vàm Đại Ngăi" cũng có nguồn gốc từ chữ
"Péam Mosénn" mà ra. Như đă nói ở trên, "Péam" là "vàm" c̣n "Mosénn" là muôn
ngă" tức là vàm Đại Ngăi ngày nay.
3. Trở lại chuyện Sóc Trăng, cũng theo ông Lê
Hương th́ địa danh Sóc Trăng cũng có một truyền thuyết khác, cũng nói về kho
bạc nhưng không phải là kho bạc của vua mà là kho bạc, kho chứa vũ khí, kho
chứa lương thực của giặc Xà Na Téa và Xà Na Tua đóng quân ở Sóc Trăng dưới
triều Nguyễn, tại ấp "Sóc Vồ" ngày nay. Do đó Sóc Trăng là do chữ "Srok
Kh'leang" đọc trại mà ra.
Đấy là một vài truyền thuyết về địa danh Sóc
Trăng mà các vị tiền nhân ghi lại. Trong đó thuyết "Sóc Trăng" là kho bạc
được chấp nhận nhiều hơn cả cho dù kho bạc của vua thời xưa hay là kho bạc
của giặc th́ xứ Sóc Trăng cũng là " Xứ Kho Bạc".
KhoaNam - SocTrangOnline
Chú thích
[1] Thần Bassac là một vi thần người Khmer,
nguyên ông là một Hoàng tử người Lào đến ngụ ở đất Mỹ Xuyên ngày nay, trên
đường đi Tham Đôn rồi mất. Nay vẫn c̣n miếu thờ ông Ba Thắc nơi này.
Tài liệu tham khảo
Lê Hương (1969). Người Việt Gốc Miên. Hồng
Anh Thư Xă Australia phát hành lại.
Trương Vĩnh Kư (1997). Petit Cours De
Géographie De La Basse-Cochinchine. Nhà Xuất Bản Trẻ. Nguyễn Đ́nh Đầu lược
dịch và chú giải.
Vương Hồng Sển (1993). Tự Vị Tiếng Việt Miền
Nam. Nhà Xuất Bản Văn Hóa.
Sơn Nam (1994). Lịch Sử Khẩn Hoang Nam Bộ.
Nhà Xuất Bản Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh.
Trịnh Hoài Đức (1998). Gia Định Thành Thông
Chí. Nhà Xuất Bản Giáo Dục. Đỗ Mộng Khương & Nguyễn Ngọc Tĩnh dịch. Đào Duy
Anh hiệu đính.
Vương Hồng Sển (1996). Hơn Nữa Đời Hư. Nhà
Xuất Bản Văn Hóa.