T́nh yêu thương người nghèo là phụng vụ
Buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 1-10-2008
T́nh yêu thương dành cho người nghèo và phụng vụ của Chúa gắn liền nhau, yêu
thương người nghèo là phụng vụ. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă khẳng định như
trên trước hơn 20.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi
gặp gỡ hàng tuần với Đức Thánh Cha tại quảng trường thánh Phêrô, sáng thứ tư
1-10-2008.
Bên cạnh các đoàn hành hương Tây âu và Bắc Mỹ, có các đoàn hành hương đến từ
các nước Đông Âu như Ba Lan, Slovackia, Slovevia, Croazia, Bosnia Erzegovina
và Cộng Ḥa Tchèques. Từ châu Mỹ Latinh có các nhóm hành hương Mehicô,
Colombia và Chile. Từ châu Á có các nhóm Nhật Bản, Hồng Kôong và Nam Hàn. Từ
Phi châu có nhóm Ai cập, trong khi từ Đại Dương châu có nhóm Australia.
Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đă giải thích hai biến cố trong cuộc đời
thánh Phaolô chứng minh cho thấy thánh nhân tôn trọng các tông đồ khác,
nhưng cũng tự do đối với tông đồ Phêrô và các tông đồ khác: đó là trong dịp
tham dự Công Đồng đầu tiên tại Giêrusalem và trong vụ đụng độ với Phêrô và
Barnaba tại Antiokia, như được kể lại trong thư gửi tín hữu Galát chương 2.
Liên quan tới Công Đồng triệu tập tại Giêrusalem Đức Thánh Cha nói:
Mỗi Công Đồng và Công Nghị của Giáo Hội là ”biến cố của Thần Khí” và bao gồm
các vấn đề khẩn thiết của toàn thể dân Chúa. Những ai đă có vinh dự tham dự
Công Đồng Chung Vaticăng II đều kinh nghiệm được điều này. Chính v́ thế khi
cho tin về Công Đồng đầu tiên của Giáo Hội diễn ra tại Giêrusalem, thánh sử
Luca đă mở đầu thư các Tông Đồ quyết định gửi cho các giáo đoàn Kitô hải
ngoại như sau: ”Thánh Thần và chúng tôi đă quyết định...” (Cv 15,28). Chúa
Thánh Thần hoạt động trong toàn Giáo Hội cầm tay hướng dẫn các Tông Đồ dấn
thân trên các nẻo đường mới để thực hiện các dự án của Người: chính Người là
tác nhân chính trong việc xây dựng Giáo Hội.
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha khẳng định rằng Công Đồng Giêrusalem diễn
ra trong một thời điểm có căng thẳng lớn trong ḷng Giáo Hội khai sinh. Nó
liên quan tới vấn đề có phải xin các anh em ngoài do thái tin theo Chúa
Giêsu Kitô chịu phép cắt b́, hay để cho họ được tự do không phải tuân giữ
luật lệ Môshê, cần thiết để là người công chính, và nhất là các luật lệ
thanh tẩy phụng tự, các thực phẩm trong sạch và ô uế và ngày sabát.
Công Đồng Giêrusalem cũng được thánh Phaolô nhắc tới trong chương 2 thư gửi
tín hữu Galát. Sau 14 năm kể từ cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Kitô phục sinh
trên đường đến thành Damasco, Phaolô đă cùng Barnaba và Tito từ Antiokia về
Giêrusalem. Trong dịp này thánh nhân đă tŕnh bầy cho các Tông Đồ Tin Mừng
sự tự do khỏi Luật Lệ (x. Gl 2,6). Dưới ánh sáng cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô
phục sinh, thánh nhân hiểu rằng các luật về cắt b́, ăn uống và ngày nghỉ thứ
bẩy như dấu chỉ sự công chính, không cần thiết đối với các anh chị em ngoại
giáo theo Kitô giáo: Chúa Kitô là sự công chính của chúng ta và tất cả những
ǵ phù hơp với Người đều ”công chính”. Trong thư thánh nhân cũng cho biết là
Tin Mừng của sự tự do khỏi Luật Lệ đă được các Tông Đồ Giacôbê, Kepha và
Gioan, ”các cột trụ” của Giáo Hội, thừa nhận bằng cách bắt tay thánh nhân và
Barnaba như dấu chỉ sự hiệp thông giáo hội trong Chúa Kitô (x. Gl 2,9). Nếu
đối với thánh Luca Công Đồng Giêrusalem diễn tả hoạt động của Chúa Thánh
Thần, th́ đối với Phaolô nó diễn tả việc thừa nhận định đoạt sự tự do được
chia sẻ giữa tất cả mọi tham dự viên: tự do khỏi các bó buộc của việc cắt b́
và lề luật: ”Chúa Kitô đă giải phóng chúng ta để chúng ta được tự do” khỏi
ách nô lệ. Hai kiểu miêu tả Công Đồng Giêrusalem đều có cùng yếu tố chung là
hoạt động giải phóng của Chúa Thánh Thần, ”v́ ở đâu có Thần Khí Chúa, th́ ở
đó có tự do”, như thánh Phaolô sẽ viết trong thư thứ II gửi tín hữu Côrintô
(x. 3,17).
Tuy nhiên như thấy rơ trong các thư của thánh Phaolô, sự tự do Kitô không
đồng nghĩa với sự phóng đăng hay muốn làm ǵ th́ làm. Nó hiện thực trong sự
phù hợp với Chúa Kitô và v́ thế trong việc phục vụ tha nhân, đặc biệt là
những anh chị em cần được trợ giúp nhất. Do đó thánh Phaolô kết thúc với lời
các Tông Đồ nhắn nhủ ngài và Barnaba là đừng quên người nghèo (Gl 2,10). Mỗi
Công Đồng nảy sinh từ Giáo Hội và trở về với Giáo Hội: trong dịp đó là chú ư
tới người nghèo, là các anh chị em Kitô của giáo đoàn Giêrusalem. Trong thư
thứ II gửi tín hữu Côrintô (cch. 8-9) và trong phần kết thư gửi giáo đoàn
Roma (Rm 15) thánh Phaolô cho thấy sự trung thành của người với các quyết
định đă chín mùi trong Công Đồng.
Sáng kiến quyên góp để trợ giúp các Kitô hữu nghèo Giêrusalem đă là một sáng
kiến hoàn toàn mới mẻ trong các hoạt động tôn giáo: nó không bắt buộc nhưng
tự do và tự phát. Mọi giáo đoàn do Phaolô thành lập bên Tây phương đều tham
dự việc quyên góp. Đức Thánh Cha giải thích giá trị to lớn của sáng kiến này
như sau:
Thánh Phaolô cho cử chỉ chia sẻ này giá trị to lớn, đến độ ít khi ngài gọi
nó là cuộc quyên góp, mà đối với ngài nó là việc ”phục vụ”, là ”phước lành”,
là ”t́nh yêu thương”, là ”ân sủng”, và c̣n hơn thế nữa nó là ”phụng vụ” (2
Cr 9). Thật là điều đáng kinh ngạc, khi từ cuối cùng này trao ban cho việc
quyên góp tiền bạc một gía trị phụng vụ: một đàng nó là cử chỉ phụng vụ hay
”phục vụ”, do một cộng đoàn dâng lên cho Thiên Chúa, đàng khác nó là hành
động của t́nh yêu thương đối với dân Chúa. T́nh yêu thương dành cho người
nghèo và phụng vụ của Chúa gắn liền nhau, yêu thương người nghèo là phụng
vụ. Cả hai chiều kích đều hiện diện trong mọi phụng vụ do Giáo Hội cử hành
và
sống. Tự bản chất nó chống lại việc tách rời giữa phụng tự và cuộc sống,
giữa ḷng tin và việc làm, giữa lời cầu nguyện và t́nh bác ái đối với tha
nhân. Như thế Công Đồng Giêrusalem nảy sinh để giải quyết vấn đề liên quan
tới các anh chị em ngoại giáo theo Kitô giáo, bằng cách lựa chọn sự tự do
khỏi việc cắt b́ và tuân giữ các điều Luật buộc, và giải quyết vấn đề mục vụ
khẩn thiết lấy trọng tâm là ḷng tin nơi Chúa Giêsu Kitô và t́nh yêu thương
đối với các anh chị em nghèo của giáo đoàn Giêurusalem và của toàn Giáo Hội.
Biến cố thứ hai chứng minh cho sự tự do nội tâm của thánh Phaolô là vụ đụng
độ với thánh Phêrô tại Antiokia, liên quan tới việc dùng bữa chung giữa tín
hữu Kitô gốc do thái và các anh chị em ngoại giáo.
Ban đầu Kepha ngồi ăn chung với các anh chị em ngoai giáo theo Kitô giáo.
Nhưng khi thấy vài Kitô hữu thân cận với Giacôbê, ”người anh em của Chúa”
tới, th́ Kepha và Barnaba bắt đầu tránh không dùng bữa chung với họ nữa, v́
sợ gây vấp phạm cho những người này, là những người tiếp tục tuân giữ luật
về thực phẩm trong sạch. Sự lựa chọn này gây chia rẽ sâu đậm giữa các Kitô
hữu gốc ngoại giáo và các Kitô hữu gốc do thái, và nó đe dọa sự hiệp nhất và
tự do của Giáo Hội. Nó khiến cho Phaolô mạnh mẽ tố cáo sự giả h́nh của Phêrô
và các tín hữu do thái khác: ”Nếu anh là người Do thái mà c̣n sống như dân
ngoại, chứ không như người Do thái, th́ làm sao anh lại ép dân ngoại phải xử
sự như người Do thái? (Gl 2,14). Thật ra các lo lắng của hai phía khác nhau.
Đối với Phêrô và Barnaba việc tách rời người ngoại giáo diễn tả một kiểu bảo
vệ và không gây vấp phạm cho các tín hữu gốc do thái; trong khi đối với
Phaolô nó diễn tả một hiểu lầm nguy hiểm đối với ơn cứu độ đại đồng nơi Chúa
Kitô, được cống hiến cho dân ngoại cũng như cho người do thái. Nếu việc công
chính hóa được hiện thực chỉ nhờ ḷng tin nơi Chúa Kitô, nhờ sự đồng h́nh
đồng dạng với Người, mà không do công việc làm của Lề Luật, th́ việc tuân
giữ thực phẩm trong sạch khi cùng chia sẻ bữa ăn với nhau đâu có c̣n ư nghĩa
ǵ nữa? Chắc chắn các viễn tượng của Phêrô và Phaolô đă khác nhau: đối với
Phêrô là đừng mất các anh em Do thái đă tin nhận Phúc Âm, đối với Phaolô là
đừng giảm thiểu giá trị đại đồng cái chết của Chúa Kitô cho tất cả mọi
người.
Tuy nhiên vài năm sau đó, khi viết thư cho tín hữu Roma Phaolô đă đứng trước
một trường hợp tương tự, và ngài khuyên các tín hữu có ḷng tin mạnh mẽ đừng
dùng thực phẩm ô uế để đừng đánh mất hay gây vấp phạm cho các người yếu
đuối: ”Tốt nhất là đừng ăn thịt, uống rượu, và tránh những ǵ có thể gây cớ
cho anh em ḿnh vấp ngă” (Rm 14,21). Như thế vụ xảy ra tại Antiokia đă là
một bài học cho cả Phêrô lẫn Phaolô. Chỉ có đối thoại chân thành, cởi mở cho
sự thật của Tin Mừng mới có thể hướng dẫn con đường của Giáo Hội mà thôi:
”Thật thế, Nước Thiên Chúa không phải là chuyện đồ ăn thức uống, nhưng là
công chính, b́nh an hoan lạc trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14,17).
Đó cũng là bài học cho chúng ta: hăy để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn khi
t́m sống sự tự do trong ḷng tin nơi Chúa Kitô, được cụ thể hóa nơi việc
phục vụ tha nhân. Chỉ như thế chúng ta mới thật sự tự do và diễn tả được nơi
tủy của Luật Lệ mến Chúa yêu người.
Sau khi chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Đức Thánh Cha đă cất
kinh Lậy Cha và ban phép lành ṭa thánh cho mọi người.
Linh Tiến Khải
(Radio Vaticano)